Luật gia TRẦN VŨ HẢI

Tổng Cục Thuế có công văn số 1133/TCT-TNCN trả lời vướng mắc về thuế TNCN đối với chuyển nhượng BĐS trong đó giải thích về việc một bên ủy quyền cho người khác toàn quyền quản lý, chuyển nhượng đối với bất động sản thì phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Mục đích của công văn này là hướng dẫn các cơ quan thuế phòng tránh việc trốn thuế chuyển nhượng bất động sản bằng cách không lập hợp đồng mua, bán mà là hợp đồng ủy quyền.

Tuy nhiên, người viết cho rằng công văn này là trái những nguyên tắc chung của pháp luật vì những lý do chính sau đây:

1. Tổng Cục thuế cho rằng, những người đủ năng lực dân sự để thực hiện giao dịch thì không thể được ủy quyền, mà luôn coi ủy quyền này là mua, bán là một suy diễn vô lý. Một là, nếu không đủ năng lực dân sự thì không thể ủy quyền được. Hai là, ủy quyền là quyền năng dân sự được Bộ luật Dân sự cho phép, không thể bị hạn chế trong những trường hợp thông thường.

2. Pháp luật thuế không giải thích việc ủy quyền dân sự theo hướng này, việc Tổng Cục thuế giải thích một cách áp đặt, không có trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng đồng nghĩa với việc cơ quan này lạm quyền ban hành quy định, trong khi đó, trách nhiệm hướng dẫn thi hành Luật phải thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính.

3. Mặc dù trên thực tế, việc lợi dụng hợp đồng ủy quyền để trốn thuế Thu nhập cá nhân đáng bị xử lý, nhưng Tổng Cục thuế không được quyền đánh đồng mọi hợp đồng ủy quyền đều là giao dịch giả tạo. Việc trốn thuế cần phải được cơ quan quản lý thuế chứng minh bằng những bằng chứng đáng tin cậy, việc võ đoán theo kiểu "nhìn mặt, bắt hình dong" là xâm phạm đến nguyên tắc tự do của công dân.

4. Và ngay cả đối với giao dịch giả tạo, thì chức năng tuyên một hợp đồng vô hiệu do giả tạo cũng thuộc về cơ quan Tòa án, chứ không phải là cơ quan thuế.

———————————–

Sau đây là toàn văn công văn 1133/TCT-TNCN

Đọc tiếp »

Tên đề tài: Pháp luật tài chính công Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Cấp đề tài: Đề tài cấp Bộ, do Viện Khoa học Pháp lý chủ trì.

Chủ nhiệm đề tài: PGS,TS.Phạm Thị Giang Thu.

Thư ký đề tài: ThS.Trần Vũ Hải và TS.Nguyễn Minh Hằng.

Tập thể tác giả: Bao gồm các chuyên gia đến từ Quốc hội, Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Bộ Công Thương, Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam và các giảng viên Bộ môn Luật Tài chính Ngân hàng (Đại học Luật Hà Nội).

Đề tài đã bảo vệ thành công vào tháng 12/2013, xếp loại xuất sắc.

Bạn đọc có thể tham khảo tại Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội, Thư viện Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và Thư viện Học viện Tài chính.

Sau đây là tóm tắt nội dung đề tài.

Đọc tiếp »

Luattaichinh: Uy tín cá nhân, danh tiếng và cả nổi tiếng, theo luật, đều không phải là tài sản, nên không thể đem ra thế chấp. Tuy nhiên trên thực tế, cái mà Chánh Tín tạo được niềm tin của ngân hàng, có lẽ không chỉ là ngôi nhà, mà còn là cả một tiếng tăm gây dựng được. Và bây giờ, có lẽ cái ông mất đi cũng không chỉ là ngôi nhà. Còn cách thức quản trị ngân hàng cũng giống như ở trong nhà chăng?

Bài viết sau đây với tên bài như trên đã được đăng trên vietnamnet.vn ngày 7/4/2014

——————-

Vụ việc lùm xùm quanh khoản vay liên quan đến nghệ sĩ Chánh Tín và Ngân hàng TMCP Phương Nam (PNB) lại một lần nữa chỉ ra những bất cập trong cách cho vay và quản lý khoản vay cũng như nợ xấu của nhà băng.

Tự gây họa

Thứ nhất, đó là việc thẩm định tín dụng và quyết định giá trị khoản vay quá lỏng lẻo. Trước khi ký hợp đồng vay vốn với Công ty Điện ảnh và truyền thông Chánh Tín, PNB đã định giá ngôi nhà 9 tỉ đồng. Nhưng sau đó PNB cho công ty vay 8,3 tỉ đồng, tức tỷ lệ tiền vay trên giá trị tài sản định giá rất cao, tới 92%.

chánh-tín, nợ-xấu, ngân-hàng, đại-gia-vỡ-nợ, kinh-doanh, đầu-tư, nghệ-sĩ,

Tại thời điểm 2008, quy định cho phép NH được cho vay tối đa 100% giá trị định giá tài sản bảo đảm tùy phương án cho vay và uy tín khách hàng. Nhưng thông lệ trên thị trường, các NH chỉ cho vay tối đa 70% giá trị tài sản được định giá, mà số hợp đồng được cho vay tới tỷ lệ này cũng không nhiều. Đa số khoản vay trên thị trường ngân hàng được cho vay bằng 50% giá trị tài sản định giá. Vì thế, có thể thấy, PNB cho vay với tỷ lệ cao như vậy quả là ‘thoáng quá mức’.

Đọc tiếp »

NHÓM NGHIÊN CỨU HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN:

PGS.TS. Đào Hùng, TS.Nguyễn Thạc Hoát, TS. Nguyễn Trọng Nghĩa,

ThS. Nguyễn Thế Vinh, ThS. Nguyễn Việt Anh

Việt Nam bước vào giai đoạn 2011-2012 trong bối cảnh nền kinh tế trong nước đối mặt với nhiều thách thức to lớn. Lạm phát của thế giới có xu hướng tăng lên, trong đó giá dầu thô, giá nguyên vật liệu cơ (bản đầu vào của sản xuất), giá lương thực, và thực phẩm trên thế giới tăng cao.Trong khi đó, vào năm 2011, giá cả trong nước tăng cao, áp lực lạm phát ngày càng tăng lên do nhiều nguyên nhân nội tại của nền kinh tế tích lũy từ trước đến nay và chính sách nới lỏng tiền tệ để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng trong thời gian 2008-2010, làm tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta.

Nghị quyết Hội nghị T.Ư 3 (khóa XI) tháng 10-2011 đã xác định giai đoạn 2011-2015, ưu tiên hàng đầu của kinh tế Việt Nam là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đi đôi với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.

Cùng với sự điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô, Chính phủ đã đổi mới quan điểm, điều chỉnh mục tiêu chính sách tiền tệ thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội về phát triển kinh tế xã hội, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, thể hiện rõ trong các nghị quyết của Chính phủ 2011-2012[1].

NHNN đã ban hành các văn bản chỉ đạo[2] triển khai thực hiện CSTT, điều hành nhất quán, kiên định theo các định hướng mục tiêu của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và nhiệm vụ đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng(TCTD).

Về CSTT giai đoạn trước năm 2010 đã được đề cập trong nhiều công trình, dự án nghiên cứu cụ thể.Vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu của CSTT trong năm 2011 và 2012.Những số liệu liên quan đến thời kỳ trước được sử dụng để phân tích, so sánh để làm rõ hơn CSTT 2011-2012.

I. ĐỊNH HƯỚNG MỤC TIÊU VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 2011-2012

Đọc tiếp »

Hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính – kế toán và chứng khoán

Để áp dụng đúng và thống nhất các qui định của Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS) về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính – kế toán và chứng khoán, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính thống nhất hướng dẫn như sau:

Điều 1. Về tội trốn thuế (Điều 161 BLHS)

1. Người phạm tội trốn thuế là người thực hiện một trong các hành vi được qui định tại Điều 108 của Luật quản lý thuế, đồng thời thỏa mãn các dấu hiệu được qui định tại Điều 161 của BLHS.

2. Phạm tội trốn thuế trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác qui định tại khoản 3 Điều 161 của BLHS được hiểu là trường hợp tuy số tiền trốn thuế có giá trị từ 300 triệu đồng đến dưới 600 triệu đồng, nhưng người phạm tội đồng thời thực hiện một trong các hành vi liên quan khác mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm độc lập, như: đưa hối lộ; chống người thi hành công vụ; gây thương tích cho người thi hành công vụ; hủy hoại tài sản của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế và các cơ quan nhà nước khác có trách nhiệm trong việc thực hiện quản lý thuế. Trường hợp các hành vi này có đủ yếu tố cấu thành tội phạm khác thì ngoài tội trốn thuế, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng.

Điều 2. Về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 164a BLHS)

Đọc tiếp »

Sở hữu chéo, đầu tư chéo có ở hầu hết các hệ thống tài chính trên thế giới với quy mô, mức độ phức tạp và biện pháp quản lý, kiểm soát khác nhau. Nói một cách đơn giản nhất thì sở hữu chéo là việc một số chủ thể sở hữu cổ phần, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp ở từ hai ngân hàng trở lên hoặc sở hữu cổ phần lẫn nhau. Đến nay, vấn đề sở hữu chéo giữa các ngân hàng thu hút sự quan tâm đáng kể bởi nhiều lý do: Thứ nhất, sở hữu chéo có thể gây cản trở đến năng lực cạnh tranh và vì vậy tác động không nhỏ đến sự phân bổ quyền sở hữu tài sản; Thứ hai, sở hữu chéo trong nhiều trường hợp có liên quan rất lớn đến những người sáng lập chính của ngân hàng mà vì nhiều lý do không thể đảm bảo quản trị ngân hàng hiệu quả.

Trong những năm 1990, hệ thống ngân hàng của Ý đã có những thay đổi sâu sắc cả về khuôn khổ pháp lý lẫn cơ cấu, tổ chức và đó là một trong những nhân tố góp phần gỡ bỏ đáng kể những rào cản về gia nhập thị trường, tự do mở chi nhánh ngân hàng, xác định lại cơ cấu sở hữu và diễn ra hàng loạt các hoạt động hợp nhất, sáp nhập. Trong giai đoạn này, các học giả đa phần tập trung nghiên cứu những ảnh hưởng của cuộc cải cách đến quá trình củng cố hệ thống ngân hàng mà ít chú ý đến sự hình thành hết sức phức tạp của sở hữu chéo gắn liền với các tập đoàn ngân hàng lớn của Ý.

1. Tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Ý:

Đọc tiếp »

Luattaichinh: Cần thiết phải giới thiệu qua một chút để thấy sức nặng của những nhận định từ chuyên gia. TS.Nguyễn Đức Thành, sinh năm 1977, kinh tế gia trẻ, một trong các tác giả Báo cáo Kinh tế Việt Nam thường niên, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chính sách kinh tế và phát triển, Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, một trong những trung tâm học thuật rất có uy tín và tầm ảnh hưởng đối với chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam thời gian gần đây.

ODA – Vấn đề chính là ở chúng ta!

Lại thêm một nghi án hối lộ 16 tỷ liên quan tới dự án ODA giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản, cá nhân ông có cảm thấy bất ngờ trước thông tin này không, thưa ông?

TS. Nguyễn Đức Thành: Tôi không thấy bất ngờ vì từ lâu chúng ta vẫn biết các dự án ODA chứa đầy những lời đồn đại hoặc thông tin về sự thiếu minh bạch về tài chính cũng như hiệu quả sử dụng đồng vốn vay.

Điều đáng nói là thêm một lần nữa, thông tin về tham nhũng, nhận hối lộ của phía Việt Nam chỉ được phát giác từ phía nước ngoài. Điều ấy cho thấy chúng ta luôn hoàn toàn thụ động đối với sự tham nhũng trong chi tiêu ODA. Đây là một bằng chứng để người dân tiếp tục tin rằng có sự bao che lẫn nhau, vạn bất đắc dĩ bị lộ ra thì mới coi như có một sự việc như vậy.

Thực tế, những dự án từ nguồn vốn ODA của Nhật việc đấu thầu cũng chỉ chọn những nhà thầu Nhật Bản. Cùng với nhiều ý kiến nhận định giá công trình, dự án ODA từ nguồn Nhật Bản thường cao hơn gấp nhiều lần nước khác. Liệu điều này có lý giải cho thực trạng đưa – nhận hối lộ này, thưa ông?

Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

ThS LÊ VŨ TOÀN – Trường Quản lý KH&CN, Bộ KH&CN

Hiện nay tổng đầu tư cho khoa học và công nghệ (KH&CN) ở nước ta đạt mức 0,6% GDP, trong đó, chủ yếu từ ngân sách nhà nước (0,5% GDP). Mức đầu tư này hiện đang thấp hơn rất nhiều so với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới (năm 2010, Nhật Bản đầu tư cho KH&CN là 3,3% GDP, Hàn Quốc là 3%, Mỹ 2,7%, Đức 2,3%, Singapore 2,2%). Do vậy, việc gia tăng tỷ lệ đầu tư cho KH&CN, đặc biệt, việc huy động từ phía doanh nghiệp là vấn đề quan trọng đang được đặt ra. Một trong những hình thức huy động được áp dụng là khuyến khích doanh nghiệp thành lập Quỹ phát triển KH&CN để phục vụ cho việc đổi mới công nghệ tại chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc thành lập loại hình Quỹ này ở nước ta hiện còn gặp nhiều khó khăn, cần có những giải pháp tháo gỡ kịp thời.

Đặt vấn đề

Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp là một trong những loại hình Quỹ được đề cập đầu tiên tại nước ta trong Luật KH&CN [1] năm 2000. Điều 38.2 Luật KH&CN quy định: “Doanh nghiệp được lập Quỹ phát triển KH&CN để chủ động đầu tư phát triển KH&CN”. Luật Chuyển giao công nghệ (CGCN) (2006) [2], Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (2008) [3] tiếp tục bổ sung và đưa ra những quy định cụ thể. Trên cơ sở quy định của các Luật trên, Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể: Quyết định 36 [4], Thông tư 15 [5], Thông tư 105 [6]. Có thể nói, đây là các văn bản pháp lý quan trọng để Quỹ hình thành và đi vào hoạt động.

Tuy nhiên, theo Báo cáo tại Hội thảo về việc triển khai thực hiện Quỹ trên địa bàn tỉnh Bình Phước ngày 26.4.2013 [7]: “Việc hình thành Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp hiện nay đang gặp nhiều khó khăn, ít về số lượng (khoảng 15%), lại không đồng đều, như tại Bình Phước có doanh nghiệp trích 10% lợi nhuận trước thuế chỉ được khoảng 20 triệu đồng, có doanh nghiệp lại lên đến 189 tỷ đồng”.

Đọc tiếp »

PGS.TS. NGUYỄN THỊ QUY

Đại học Ngoại thương – Trọng tài viên VIAC

Bên cạnh những thuận lợi, cơ hội mà quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại, các doanh nghiệp Việt Nam cũng thường xuyên đang phải đối mặt với các khó khăn, thách thức không nhỏ. Một trong những thách thức lớn hiện nay là phải giảm thiểu các rủi ro, tranh chấp phát sinh trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary credit) hay còn được gọi là thanh toán bằng thư tín dụng ( Letter of Credit – L/C) – một phương thức thanh toán quốc tế (TTQT) phổ biến được nhiều các doanh nghiệp lựa chọn. Bài viết này nhằm mục đích tổng hợp các dạng tranh chấp thường phát sinh trong TTQT bằng thư tín dụng (L/C) dước góc độ các doanh nghiệp có kinh doanh xuất nhập khẩu, phân tích các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp và gợi ý một số biện pháp nhằm giúp các doanh nghiệp giảm thiểu các rủi ro cũng như giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả.

1. Các dạng tranh chấp thường phát sinh

Trước hết, có thể khẳng định, tranh chấp bắt nguồn từ rủi ro. Trong thương mại quốc tế nói chung và hoạt động TTQT nói riêng, các bên trong hợp đồng thường ở các quốc gia có vị trí địa lý cách xa nhau, thiếu các thông tin cần thiết khi tìm hiểu về đối tác, việc am hiểu luật lệ, tập quán buôn bán của mỗi nước lại hạn chế. Do vậy, các rủi ro xảy ra là điều khó tránh khỏi. Rủi ro trong TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ (TDCT) được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn có thể gây thiệt hại đối với các bên tham gia giao dịch bằng L/C như: Người yêu cầu mở L/C, người hưởng lợi L/C và các ngân hàng tham gia.

Các rủi ro, một khi không giải quyết được thường ảnh hưởng đến quyền lợi, gây tổn thất đối với các bên và kết cục là tranh chấp phát sinh, buộc các bên phải giải quyết hoặc bằng thương lượng hoặc đưa ra trung tâm trọng tài quốc tế, tòa án để giải quyết.

Các tranh chấp xảy ra trong thanh toán quốc tế bằng L/C thường rất đa dạng và bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên, có hai loại tranh chấp điển hình thường gặp, đó là tranh chấp liên quan tới chứng từ do người bán tạo lập, xuất trình đòi tiền ngân hàng phát hành L/C và tranh chấp liên quan tới nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia vào giao dịch theo thư tín dụng.

1.1. Các tranh chấp liên quan tới chứng từ xuất trình

Đọc tiếp »

Sẽ có gói 50.000 tỷ đồng dành cho bất động sản

Đây là gói tín dụng thương mại dưới hình thức liên kết giữa nhà đầu tư-nhà thầu-nhà cung ứng vật liệu xây dựng và ngân hàng nhằm phục vụ cho các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng, chung cư xã hội hóa, nhà ở…

Trong buổi họp báo về phát triển thị trường ngành xây dựng chuyên nghiệp chiều 25/3, ông Phan Thành Mai, Tổng giám đốc Ngân hàng Xây dựng (VNCB) cho biết, thông qua hình thức liên kết chuỗi 4 nhà nói trên, một gói tín dụng mới để hỗ trợ thị trường bất động sản trị giá 50.000 tỷ đồng sẽ sớm được đưa vào thị trường.

Tham gia vào gói tín dụng này, ngoài VNCB sẽ có nhiều ngân hàng khác như ACB, Ngân hàng Quân đội, Sacombank, Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Argribank, Oceanbank, Lienvietpostbank… tham gia.

biet-thu-bo-hoang-hlan-jpg-136-8884-3953

Sự liên kết 4 nhà để cho ra gói tín dụng 50.000 tỷ đồng kỳ vọng sẽ giúp khơi thông thị trường bất động sản. Tổng giám đốc VNCB cho rằng, việc tìm giải pháp để rót 50.000 tỷ đồng vào thị trường nhằm khơi thông ách tắc về vốn trong bối cảnh hiện nay là điều quan trọng. Tốc độ giải ngân của gói tín dụng này sẽ phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó quan trọng vẫn là tốc độ thẩm định của ngân hàng, vào dự án đang cần giải ngân.

Ông Mai cũng nhấn mạnh, gói 50.000 tỷ đồng này là gói tín dụng thương mại bình thường, khác hoàn toàn so với gói 30.000 tỷ đồng trước đó được áp dụng để hỗ trợ cho người có thu nhập thấp vay ưu đãi mua nhà.

Tại buổi họp báo, Vụ trưởng vụ tín dụng Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Viết Mạnh chia sẻ thêm, thị trường đang mất niềm tin rất lớn mà nếu không tin nhau thì sẽ không thể giải quyết được tình hình hiện nay. "Do vậy, giờ là lúc phải gắn kết các nhà lại, dưới sự giám sát của ngân hàng. Dòng tiền khi đóng cho chủ đầu tư phải được quản lý để chi trả hợp lý cho vật liệu, nhân công và để trả nhà cho dân", ông Mạnh nói.

Cũng theo ông Mạnh, gói 50.000 tỷ đồng này được bơm ra dưới hình thức liên kết 4 nhà là chương trình thí điểm, nhưng ông tin rằng nó sẽ là một trong những giải pháp giúp khơi thông thị trường bất động sản.

Bình luận của Luattaichinh:

Đọc tiếp »

PGS, TS. ĐÀO VĂN HÙNG & TS. TRỊNH QUANG ANH

Năm 2013, hơn nửa chặng đường 2011-2015, đã khép lại. Niềm vui là “kinh tế vĩ mô đang dần ổn định” dường như bị lấn át bởi những lo lắng, trăn trở trong điều hành kinh tế vĩ mô sao cho đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế – xã hội đặt ra cho nửa chặng đường còn lại 2014-2015. Vì vậy, việc phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trở nên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Những khó khăn, thách thức đang đặt ra

Nhìn tổng thể kết quả 3 năm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của kế hoạch 2011-2013, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện khá tích cực và mục tiêu tổng quát năm 2013 là: “tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn năm 2012” về cơ bản đã thực hiện được. Kết quả điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, cũng như những thành quả bước đầu của tiến trình tái cấu trúc nền kinh tế, đã có những đóng góp nhất định vào thành tựu chung này.

Tuy nhiên, về cơ bản, kinh tế nước ta vẫn đang trong giai đoạn khó khăn, tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức trong ngắn hạn và chưa thể trở lại quỹ đạo tăng trưởng nhanh trong 1-2 năm tới. Những tồn tại, hạn chế trong trong công tác quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô nói chung thời gian qua được xác định là một trong những nguyên nhân chính gây lên tình trạng trên.

Đọc tiếp »

NGÔ QUANG TRUNG

1. Tóm lược về FDI tại Việt Nam

Trải qua 25 năm hoạt động, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam là khó rõ nét và đã được khẳng định: hiện nay có 15.067 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 218,8 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 106 tỷ USD, trở thành nguồn bổ sung quan trọng cho tổng vốn đầu tư xã hội. Các dự án FDI góp phần tăng thu ngân sách, cải thiện cán cân thanh toán, là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ, phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới, giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao mức sống cho người lao động.

Bên cạnh những đóng góp tích cực cho nền kinh tế, FDI cũng đã và đang bộc lộ những vấn đề gây ảnh hưởng tiêu cực đến tính bền vững của tăng trưởng. Gần đây, đã xuất hiện hàng loạt sự việc tác động xấu đến sự phát triển của Việt Nam, gây bức xúc cho dư luận xã hội, trong đó nổi bật lên là chuyển giá, trốn thuế, tạo nên tình trạng lỗ giả, lãi thật, gây thất thu ngân sách, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh với các doanh nghiệp trong nước, tác động không tốt đến môi trường đầu tư.

2. Một số hình thức chuyển giá cơ bản của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam và các doanh nghiệp FDI trên thế giới.

Hiện tượng chuyển giá hầu như đều xảy ra đối với các công ty đa quốc gia. Tại Việt Nam, hiện tượng chuyển giá đã xuất hiện và ngày càng nhiều tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Đọc tiếp »

BÙI ĐỨC NAM

Nhu cầu về tài chính cho giáo dục đại học đang ngày càng cao, tạo áp lực lên ngân sách nhà nước. Từ góc độ một cơ sở giáo dục đại học, bài viết đưa ra một số ý kiến xoay quanh vấn đề tài chính đại học đối với cơ sở giáo dục đại học (CSGDĐH) công lập.

Đổi mới cơ chế, chính sách…

Hiện nay, các CSGDĐH ở các nước trên thế giới nhận hỗ trợ tài chính từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: Kinh phí nhà nước phân bổ cho hoạt động, đặc biệt là giảng dạy và nghiên cứu khoa học; Kinh phí phân bổ cho nghiên cứu hoặc hỗ trợ cho các dự án nghiên cứu từ các nguồn khác nhau (từ các bộ); Học phí và các loại phí khác thu được từ sinh viên trong nước và sinh viên nước ngoài; Nguồn thu từ các hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, hợp đồng đào tạo, dịch vụ tư vấn, bản quyền…; Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ trong khuôn viên nhà trường phục vụ giảng viên, sinh viên và cộng đồng; Nguồn thu từ hiến tặng, tài trợ, quà biếu, đầu tư.

Cơ cấu của các nguồn trên thay đổi rất nhiều giữa các nước. Chẳng hạn, hầu hết các trường đại học ở nước đang phát triển, 90% nguồn thu của họ là từ phân bổ của Nhà nước cho giảng dạy. Học phí và lệ phí là không đáng kể. Ngay cả ở một vài nước phát triển, các trường đại học của họ nếu không có nhiều hoạt động nghiên cứu cũng sẽ dựa chủ yếu vào hai nguồn thu chính – hỗ trợ từ Nhà nước và học phí.

Ở Việt Nam, các CSGDĐH có 3 nguồn thu chính, gồm từ ngân sách nhà nước (NSNN) và học phí, nguồn còn lại không đáng kể. Thời gian qua, cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục đại học (GDĐH) đã đổi mới cho phù hợp với yêu cầu phát triển. Điều này thể hiện rõ qua Nghị quyết số 35/2009/ QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội khoá XII về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm 2010-2011 đến năm học 2014-2015; Nghị định số 49/2009/NĐ-CP quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015… Những đổi mới này, đã tạo động lực quan trọng đối với các CSGDĐH công lập trong việc nâng cao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm.

Đọc tiếp »

TS. BÙI TIẾN DŨNG

Bộ Khoa học và Công nghệ

Nguồn ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH&CN) nói chung còn khiêm tốn so với các lĩnh vực khác, mặc dù gần đây nhiều quy định đang được đổi mới song vẫn chưa hiển thị rõ nét. Bài viết đề cập một số đổi mới cơ chế tài chính hiện hành của các đơn vị sự nghiệp (KH&CN) công lập và đề xuất một số gợi ý nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính hiện nay.

Cơ chế tài chính những năm gần đây

Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các bộ ngành, địa phương trình Thủ tướng Chính phủ một số đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN nói chung và cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN nói riêng. Không có cơ chế tài chính chỉ riêng cho các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập.

Thứ nhất, Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH&CN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 28/9/2004 có nội dung “Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN”. Đây là nội dung thứ 3 trong 6 nhóm nội dung và giải pháp chủ yếu trong Đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN. Những giải pháp chính trong đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN gồm: Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho KH&CN; Đổi mới chính sách đầu tư và cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước (NSNN); Hoàn thiện cơ chế sử dụng nguồn tài chính tạo động lực cho KH&CN; Một số cơ chế được ban hành theo hướng đổi mới trong thời gian qua…

Để quản lý các dự án KH&CN, ngày 20/8/2004 Liên bộ Bộ Tài chính, Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN, hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án KH&CN được NSNN hỗ trợ và có thu hồi kinh phí. Thông tư 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN quy định NSNN hỗ trợ tối đa 30% tổng mức kinh phí đầu tư mới cần thiết để thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm, các dự án chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học từ nước ngoài; Đồng thời, tối đa không quá 24 tháng sau khi dự án kết thúc, các dự án phải nộp trả NSNN số kinh phí thu hồi từ 60 – 100% mức kinh phí NSNN đã hỗ trợ thực hiện các dự án; Kinh phí thu hồi chủ yếu từ nguồn thu bán các sản phẩm là kết quả thực hiện của dự án. Sau một thời gian thực hiện, những quy định tại Thông tư nói trên đã bộc lộ một số điểm bất cập, cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế.

Đọc tiếp »

TRẦN VŨ HẢI

Các bạn sinh viên ngành luật thường không nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp, nên tôi có một số ý ngắn gọn để giúp các bạn hiểu rõ hơn về Báo cáo tài chính khi học môn pháp luật tài chính doanh nghiệp.

Báo cáo tài chính và ý nghĩa của nó

Báo cáo tài chính thường bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Báo cáo thu nhập, có thể kèm theo Thuyết minh báo cáo tài chính.

Báo cáo tài chính được Ban giám đốc dùng để báo cáo với cổ đông, cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan, tổ chức liên quan.

Ý nghĩa cơ bản của từng loại như sau:

- Bảng cân đối kế toán cho ta biết tổng giá trị sổ sách của tài sản trong doanh nghiệp và nguồn vốn tạo ra những tài sản ấy trong năm tài chính. Nó cũng cho ta biết những thông tin cơ bản về cấu trúc vốn và cấu trúc tài sản của doanh nghiệp. Bảng cân đối kế toán là bức ảnh chụp về thông tin kế toán vào cuối ngày 31/12 của năm tài chính. Do đó, để hiểu rõ hơn, người ta thường so sánh giữa số liệu đầu kỳ (ngày 31/12 của năm tài chính trước tức ngày 1/1 của năm tài chính hiện hành) và số liệu cuối kỳ hay nói cách khác, bảng cân đối kế toán thường sử dụng là gộp giữa hai bảng cân đối kế toán, đầu kỳ và cuối kỳ. Còn sự vận động của dòng tiền, tài sản trong năm thì nó mù tịt.

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho ta biết dòng tiền đã chuyển dịch như thế nào trong năm tài chính, hay nói cách khác, nó cho biết lãnh đạo DN đã sử dụng tiền và tài sản như thế nào. Còn việc dùng tiền và tài sản có tạo ra được thu nhập hay không thì nó không được thể hiện.

- Báo cáo thu nhập cho biết trong năm doanh nghiệp lỗ hay lãi bằng cách so sánh doanh thu và chi phí. Báo cáo thu nhập cũng cho biết thu nhập có được từ những hoạt động nào của doanh nghiệp.

- Thuyết minh báo cáo tài chính giúp người đọc/cổ đông hiểu rõ hơn về báo cáo tài chính bằng việc diễn giải các số liệu. Việc thuyết minh sẽ có sức thuyết phục bằng cách sử dụng các chỉ số tài chính, ví dụ như tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tài sản lưu động hoặc các chỉ số mà các nhà đầu tư quan tâm như ROA, ROE, P/E, EPS, v.v.. Những chỉ số này cũng sẽ cho thấy có sự liên hệ giữa các báo cáo với nhau.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Những kẻ âm mưu và những kẻ chuyên quyền mọi thời đại đều vô cùng thích lạm dụng những lời lẽ về ý chí quốc gia. Những kẻ âm mưu thấy cái ý chí đó trong các lá phiếu mua được bởi một vài người có thế lực trong chính quyền. Những kẻ chuyên quyền thấy cái ý chí đó trong các lá phiếu của thiểu số dân đi bỏ phiếu vì tham hoặc vì sợ. Cái ý chí đó còn thể hiện trong sự im lặng của người dân và cho rằng từ sự phục tùng trên thực tế nảy sinh cho họ cái quyền chỉ huy."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 2-2014

Câu chuyện nhà ở công vụ không được trả lại, hoặc được "hóa giá" với giá rẻ mạt so với thị trường được nhiều người dân và phương tiện truyền thông thời gian gần đây quan tâm, khi bàn đến việc sửa đổi Luật Nhà ở.

Thậm chí, ông Bộ trưởng, Chủ nhiệm VP Chính phủ cũng cho rằng "nghe rất là buồn".

Nhà ở công vụ, nhiều quốc gia có, và nó là tài sản của nhà nước. Nơi ở của Tổng thống Mỹ, Thủ tướng Anh là những địa chỉ nổi tiếng. Mục đích của nhà ở công vụ khá đa dạng: hoặc để đảm bảo an toàn cho các yếu nhân, hoặc để những người đương chức toàn tâm phục vụ nhân dân nhằm đáp ứng nguyện vọng của cử tri mà không vướng bận đến lo toan vụn vặt về nơi ăn, chốn ở, hoặc được coi là sự hỗ trợ cho cán bộ, công chức để họ đủ điều kiện mà làm việc bình thường. Cho dù với lý do gì, thì đều có chung một điều kiện tiên quyết: Người được sử dụng nhà ở công vụ phải đang thực thi công vụ.

Nếu không còn công vụ, đương nhiên, sẽ hết điều kiện ở nhà công vụ. Nhà công vụ nên dành cho người tiếp theo đang thực thi công vụ chứ không phải là chuyển quyền sở hữu cho người hết công vụ. Không có lý do nào để giải thích cho đặc quyền này, vì đặc quyền của công chức không phải là lý do chân chính trong cách hiểu của cử tri ở một thể chế dân chủ.

"Rất là buồn", nếu có, phải là lời cảm thán của cử tri, chứ không nên là của cơ quan hành pháp với đầy đủ công cụ để thực thi pháp luật một cách liêm chính và minh bạch.

Hy vọng với những bước đi ban đầu của Chính phủ trong việc từng bước thu hồi nhà ở công vụ sẽ dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới đây.

PHÁT NGÔN ẤN TƯỢNG

“Vinashin đã là thảm họa. Nhưng nguồn gốc thảm họa là Vinacho, và bên cạnh là Vinachia. Đấy là sự thỏa hiệp ngầm, thỏa hiệp đen để bòn rút tài sản của nhà nước”

ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC - ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Tư 2014
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 3    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,032,818 lượt
Tổng số bài: 565

RSS Tin tức kinh tế

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 112 other followers