Luật gia Trần Vũ Hải

ĐH Luật Hà Nội

1. Góp ý về Điều 59 dự thảo

Điều 59 quy định ở khoản 1 như sau: “Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác được Nhà nước thống nhất quản lý, sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật”.

Ở điều khoản này, việc quan trọng là cần nói rõ ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính công khác do nhà nước quản lý được sử dụng vào mục đích gì. Rõ ràng, tài chính công không có mục đích nào khác hơn là phục vụ nhân dân và phấn đấu tăng cường phúc lợi xã hội, vì hầu hết các nguồn tài chính công là do nhân dân đóng góp và trao đổi tài nguyên quốc gia thuộc sở hữu toàn dân. Không phải quỹ nào cũng nhất thiết phải có sự đóng góp của nhà nước do đó nhà nước không đương nhiên có quyền quản lý mà cần được sự ủy quyền của các chủ thể đóng góp. Việc quản lý đúng pháp luật là đương nhiên, có lẽ không cần phải nhấn mạnh ở đây.

Vì vậy đề nghị khoản 1 Điều 59 nên quy định như sau:

Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác được Nhà nước quản lý với tư cách là đại diện chủ sở hữu, được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, vì lợi ích của nhân dân và đảm bảo ngày càng tăng cường phúc lợi xã hội.

2. Góp ý Điều 75 dự thảo

Điều 75 (sửa đổi, bổ sung Điều 84) quy định tại khoản 4 về quyền hạn của Quốc hội như sau: “Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định nguyên tắc phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán và phân bổ ngân sách trung ương; phê chuẩn quyết toán ngân sách trung ương; xem xét báo cáo tổng hợp dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước”

- Xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới là hướng đến chính sách tiền tệ độc lập do ngân hàng trung ương quyết định. Do vậy, cùng với đề nghị cần nghiêm túc xem xét việc quy định trong Hiến pháp về địa vị Ngân hàng Nhà nước là cơ quan độc lập chịu trách nhiệm trước Quốc hội về điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, hạn chế tình trạng Chính phủ vừa điều hành chính sách tiền tệ cùng với chính sách tài khóa như hiện nay. Do vậy, để đảm bảo tính độc lập của ngân hàng trung ương, Quốc hội không nên là người quyết định chính sách tiền tệ mà có lẽ nên phê chuẩn chính sách tiền tệ, thậm chí có thể trao quyền này cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội để việc thực hiện chính sách tiền tệ được linh hoạt.

- Việt Nam trong thời gian qua đã kiểm soát không thật tốt an toàn nợ quốc gia. Thời gian qua, Việt Nam chưa nhất quán áp dụng các chuẩn mực quốc tế về an toàn nợ công nên Quốc hội rất thiếu cơ sở khoa học để đánh giá và quyết định. Do đó, cần quy định về việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong quyết định giới hạn nợ quốc gia và nợ công. Theo định nghĩa về nợ công của quốc tế thì nợ chính phủ cũng chính là nợ công, nên việc tách nợ chính phủ ra khỏi nội hàm nợ công như trong dự thảo là không hợp lý.

- Nên sửa cụm từ “các thứ thuế” thành “các loại thuế” sẽ hợp với văn phong hiện đại.

Như vậy, khoản 4 Điều 75 dự thảo nên sửa là:

Quyết định chính sách tài chính, phê chuẩn chính sách tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các loại thuế; quyết định nguyên tắc phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia và nợ công theo tiêu chuẩn chung của quốc tế; quyết định dự toán và phân bổ ngân sách trung ương; phê chuẩn quyết toán ngân sách trung ương; xem xét báo cáo tổng hợp dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước.

3. Góp ý Điều 101 dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 112)

Hiện nay dự thảo về Điều 101 không đề cập đến trách nhiệm thực hiện quyết định về ngân sách của Quốc hội. Đây là một thiếu sót lớn vì thực hiện quyết định ngân sách của Quốc hội là nền tảng, điều kiện để thực hiện rất nhiều nhiệm vụ và quyền hành của Chính phủ, do đó cần bổ sung thêm cụm từ:

“thực hiện quyết định của Quốc hội về ngân sách trung ương và phân bổ ngân sách địa phương”

4. Đề nghị bổ sung một phần về tài chính nhà nước

Hầu hết trong Hiến pháp các quốc gia đều có dành một phần cho nội dung này. Vấn đề về tài chính nhà nước rất quan trọng nhằm đảm bảo thực thi hiệu quả các chức năng của nhà nước. Những nguyên tắc như nguyên tắc thu thuế theo luật định, nguyên tắc quyết định và phân bổ ngân sách, nguyên tắc quản lý quỹ ngân sách cần được nghiên cứu bổ sung thì mới đảm bảo tính toàn diện, bao quát của Hiến pháp.

© luattaichinh.wordpress.com

Ngày 18/5/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định 53/2013/NĐ-CP về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (Nghị định 53). Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 09/7/2013. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để NHNN triển khai xử lý nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng. Để làm rõ các nội dung của Nghị định quan trọng này, bài viết dưới đây xin được giới thiệu các nội dung cơ bản của Nghị định 53 và cơ chế xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (Công ty Quản lý tài sản).

1. Về thẩm quyền của NHNN đối với việc thành lập, tổ chức của công ty quản lý tài sản

Theo Nghị định 53, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quyền hạn và trách nhiệm sau đây: (i) Thành lập Công ty Quản lý tài sản nhằm xử lý nợ xấu, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý cho nền kinh tế. Công ty Quản lý tài sản là doanh nghiệp đặc thù, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ. Vốn điều lệ của Công ty là 500 tỷ đồng; (ii) Phê duyệt Điều lệ và nội dung sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty quản lý tài sản; (iii) Cấp đủ vốn điều lệ cho Công ty quản lý tài sản; (iv) Bổ nhiệm, miễn nhiệm Chủ tịch và các thành viên Hội đồng Thành viên, Trưởng ban kiểm soát và các thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc của công ty quản lý tài sản; (v) Thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước tại công ty quản lý tài sản; (v) Quản lý Nhà nước, giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm đối với công ty quản lý tài sản trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về mua, bán và xử lý nợ xấu…

Đọc tiếp »

Chiếm đoạt hơn 1.000 tỷ đồng ở Ðắk Nông

Ngày 4/6/2013, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ðắk Nông đã hoàn tất các hồ sơ thủ tục đề nghị Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh truy tố 13 bị can trong vụ "vi phạm quy định cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng" và nhận hối lộ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng xảy ra tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam chi nhánh Ðắk Lắk – Ðắk Nông, Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Ðông và Ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Á (chi nhánh tại Hà Nội).

Theo kết quả điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ðắk Nông, lợi dụng chủ trương cho vay vốn tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, 5 công ty, doanh nghiệp đã làm giả các loại hồ sơ, giấy tờ, hợp đồng xuất khẩu, tờ khai hải quan… rồi mang đến các ngân hàng kể trên làm thủ tục tạm ứng vay vốn giải ngân.

Ðể được vay vốn, các đối tượng đã thông đồng, móc nối và đưa hối lộ cho một số cán bộ thuộc 3 ngân hàng này với số tiền "chung chi" rất lớn để lừa đảo, tham ô chiếm đoạt tài sản của Nhà nước với số tiền 1.058 tỷ đồng.

Huỳnh Thị Huyền Như lừa đảo gần 5.000 tỷ đồng

Đọc tiếp »

TS. VŨ SỸ CƯỜNG

Phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền là nội dung cốt lõi trong phân cấp quản lý của Nhà nước và đang trở thành chủ đề được quan tâm trong cải cách hoạt động của khu vực công tại nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, vấn đề này đã được thực hiện từ nhiều năm nay và quy định cụ thể trong Luật Ngân sách nhà nước (NSNN), các văn bản dưới luật. Bài viết đánh giá khái quát tình hình thực hiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước trong những năm gần đây và đưa ra một số gợi ý cải cách trong giai đoạn sắp tới.

Thực trạng phân cấp ngân sách ở Việt Nam

Tỷ lệ thu ngân sách địa phương (NSĐP) trong tổng NSNN tăng mạnh kể từ sau khi áp dụng Luật NSNN 2002. Nếu không tính thu NSNN từ dầu thô thì thu NSĐP chiếm trung bình hơn 44% tổng thu NSNN ở Việt Nam giai đoạn 2004-2008.

Tỷ lệ bổ sung từ ngân sách trung ương (NSTW) cho địa phương có xu hướng giảm mạnh, chỉ còn 34,1% cho giai đoạn 2005-2010. So sánh với các nước trên thế giới cho thấy tỷ lệ thu NSĐP trong GDP của Việt Nam đạt 9,9% trong giai đoạn này, cao hơn mức trung bình của các nước đang phát triển. Tỷ lệ chuyển giao ngân sách từ Trung ương cho địa phương của Việt Nam cũng cao hơn mức trung bình của nhóm các nước đang chuyển đổi Đông Âu và Liên Xô (cũ), song thấp hơn mức trung bình của các nước đang phát triển.

Đọc tiếp »

1. Khái niệm về Thuế thu nhập doanh nghiệp

Là loại thuế trực thu mà đối tượng chịu thuế là thu nhập của doanh nghiệp, tổ chức có hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Chủ thể nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là doanh nghiệp và các tổ chức có hoạt động kinh doanh được quy định trong Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

- Thuế thu nhập doanh nghiệp không được coi là chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

- Mục đích chính của loại thuế này là tái phân phối thu nhập giữa doanh nghiệp và nhà nước, nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách phục vụ lợi ích chung của xã hội.

Trước thời điểm 1/1/2009, thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) còn áp dụng đối với cá nhân có hành vi sản xuất, kinh doanh, cá nhân hành nghề độc lập hoặc có tài sản cho thuê. Tuy nhiên, sau thời điểm 1/1/2009, những chủ thể này chuyển sang nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân. (x. thuế thu nhập cá nhân)

2. Khái quát về Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008

Đọc tiếp »

TS. LÊ THỊ THU HÀ

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một loại hình trung gian tài chính, có chức năng cơ bản là chuyển vốn từ nơi dư thừa tới nơi thiếu hụt. Với chức năng cơ bản đó, hoạt động chính của ngân hàng là đi vay để cho vay. Vì vậy, nghiệp vụ tín dụng là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất tại các NHTM. Nghiệp vụ tín dụng cũng là một nghiệp vụ phức tạp, nhiều rủi ro, với quy trình đòi đòi hỏi sự kiểm soát chặt chẽ của các ngân hàng. Bài viết này nhằm trao đổi về các gian lận thường gặp trong nghiệp vụ tín dụng tại các NHTM và một số dấu hiệu nhận biết.

Trong thực tế, quy trình cho vay có thể chia thành ba giai đoạn chính: nhận hồ sơ và phê duyệt khoản vay; giải ngân và theo dõi việc sử dụng vốn; thu lãi, nợ gốc và hoàn trả tài sản đảm bảo. Sau đây là một số gian lận có thể xảy ra:

Giai đoạn tiếp nhận hồ sơ và phê duyệt khoản vay

Các sai phạm thường liên quan đến tính có thật của khoản vay cũng như khả năng tài chính của khách hàng. Các gian lận có thể bao gồm việc lập hồ sơ cho vay khống, che dấu các khoản vay cho các bên liên quan, nhân viên tín dụng nhận hối lộ từ khách hàng, khách hàng vay vốn giả mạo thông tin trên hồ sơ vay vốn…

Cho vay khống: Khoản vay khống là các khoản vay tới các khách hàng không có thật, sử dụng tên và địa chỉ liên lạc giả mạo, hoặc sử dụng tên tuổi, địa chỉ có thật, nhưng thực tế khách hàng không vay tiền. Các khoản vay này thường do các nhân viên ngân hàng tạo ra nhằm mục đích chiếm dụng vốn của ngân hàng. Loại hình gian lận này khá phổ biến trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ với số lượng lớn các khoản vay có giá trị nhỏ. Một loại sai phạm có liên quan đến cho vay khống là cho vay ké, trong đó cán bộ tín dụng vay ké vào khoản vay có thật của khách hàng.

Các dấu hiệu nhận biết khoản vay khống: hồ sơ cho vay “mỏng” với các chi tiết sơ sài, thông tin tài chính không đầy đủ, các giấy tờ phô tô với các ghi chép rời rạc; khách hàng vay vốn có các tên thông dụng, tên tương tự, do cùng một nguồn giới thiệu; khách hàng không có đăng ký kinh doanh hoặc các giấy tờ chứng minh khác; tài sản thế chấp có giá trị cao hơn bình thường; vốn vay được giải ngân trước khi hoàn thành các thủ tục chính thức; ngân hàng không có quy trình đối chiếu dư nợ chặt chẽ; các khoản vay quá hạn được gia hạn một cách dề dàng…

Che giấu khoản vay cho bên  liên quan

Đọc tiếp »

TS.NGUYỄN MINH PHONG

Thực trạng phân cấp quản lý đầu tư công còn nhiều bất cập, nên các dự án đầu tư công do các địa phương quyết định thường thiếu cân đối với nguồn vốn và bị dàn trải; không ít dự án chậm đưa vào sử dụng, chất lượng thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. Để khắc phục tình trạng trên, bài viết đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước.

Phân cấp và quản lý đầu tư công từ ngân sách nhà nước Nâng cao hiệu quả đầu tư công từ ngân sách nhà nước

Đầu tư công từ ngân sách nhà nước (NSNN) là một trong 4 nguồn ở Việt Nam và luôn chiếm vai trò quan trọng, nhất là trong phát triển cơ sở hạ tầng, cả cấp quốc gia và địa phương… Từ năm 2006, hầu hết dự án đầu tư công từ NSNN đã phân cấp về địa phương quản lý, nên hiệu quả đầu tư công mang lại phụ thuộc rất lớn vào năng lực và quyết định đầu tư của địa phương.
Theo Bộ Kế hoạch & Đầu tư, hiện nay, nếu tính cả khoản chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia, thì địa phương đang được hưởng khoảng 73% NSNN cho đầu tư phát triển năm 2013, trong khi Trung ương chỉ giữ khoảng 27%. Vì vậy, việc quyết định chi tiêu tại địa phương của HĐND các cấp là đặc biệt quan trọng, nhằm tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả trong điều kiện nền kinh tế và ngân sách còn nhiều khó khăn.

Thực tế cho thấy, do nhu cầu và lợi ích cục bộ của địa phương, nên các dự án đầu tư công do các địa phương quyết định thường thiếu cân đối với nguồn vốn và bị dàn trải; thiếu kết nối với hệ thống cơ sở hạ tầng quốc gia, thông qua hệ thống giao thông cao tốc với chi phí cạnh tranh. Không ít dự án chậm đưa vào sử dụng, chất lượng thấp, hạn chế hiệu quả của đầu tư công. Tình trạng tham nhũng, thất thoát và lãng phí dưới mọi hình thức trong mọi dạng đầu tư công có nguy cơ khó kiểm soát. Các nhà thầu nước ngoài chiếm phần lớn các dự án đầu tư công, đẩy các nhà thầu Việt Nam, dù có năng lực cũng thành nhà thầu phụ. Hiệu quả đầu tư công thấp, thúc đẩy lạm phát cao, thâm hụt ngân sách lớn, nợ công tăng cao.

Đặc biệt, đầu tư công cho các dự án cơ sở hạ tầng giao thông chiếm tỷ trọng áp đảo và lấn át các nguồn đầu tư khác. Các dự án BOT có tỷ lệ vay nợ cao và nhiều dự án được Nhà nước bảo lãnh khiến các dự án này thực chất vẫn là đầu tư công (nhưng chủ đầu tư sẽ quan tâm hưởng lợi ngay trong quá trình xây dựng, chứ không phải là thu hồi vốn sau này và gánh nặng nợ vay khi gặp rủi ro thua lỗ thì Nhà nước vẫn phải gánh chịu). Các quy định phân cấp hiện hành chưa phù hợp với thực tiễn của mỗi khu vực, vùng lãnh thổ, chưa phân biệt rõ sự khác nhau giữa quản lý nhà nước đối với đô thị và nông thôn. Các cơ quan chức năng còn lúng túng và chưa xác định rõ trách nhiệm của mỗi cấp, của tập thể và cá nhân trong quy trình và thực tế triển khai những nhiệm vụ đã được phân cấp, hoặc chỉ dừng lại ở việc phân cấp nhiệm vụ; chưa phân định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, tổ chức cung cấp dịch vụ công, đại diện chủ sở hữu đối với các tổ chức kinh tế nhà nước và tài sản nhà nước.

Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công từ ngân sách nhà nước

Đọc tiếp »

KHƯƠNG TIẾN HÙNG

Phó Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành VI

1. Những đặc điểm chủ yếu của các Dự án đầu tư xây dựng tại các doanh nghiệp nhà nước, Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước
Hiện nay chúng ta có 1.039 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã nhận được 40% tổng vốn kinh doanh, 30 % tổng vốn tín dụng, 45% tổng giá trị tài sản của khu vực doanh nghiệp (sử dụng vốn NSNN khoảng 700.000 tỷ đồng, vay nợ tín dụng khoảng 415.000 tỷ đồng) nhưng chỉ đóng góp 30% GDP.
Nằm trong khu vực kinh tế Nhà nước, trong những năm qua các Tập đoàn, Tổng công ty (TCT), DNNN đã tích cực huy động nguồn vốn lớn để đầu tư xây dựng. Hiệu quả đầu tư góp phần quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế, thay đổi diện mạo đất nước và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên có một thực tế là Công tác quy hoạch, kế hoạch và việc huy động sử dụng các nguồn lực tại các DNNN còn hạn chế, kém hiệu quả, đầu tư còn dàn trải. Cá biệt còn có các đơn vị sử dụng lãng phí, thất thoát một lượng lớn tiền và tài sản của Nhà nước như Vinashin, Vinaline. Có tình trạng trên là do các dự án đầu tư xây dựng (ĐTXD) tại các DNNN có nhiều đặc điểm riêng biệt, như:
- Quyền tự quyết định của DNNN trong việc quyết định đầu tư các dự án rất cao, trong khi còn thiếu các chế tài giám sát hiệu quả. Theo phân cấp, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch hội đồng thành viên tại Tập đoàn, Tổng công ty đã được quyết định đầu tư đến các dự án nhóm A. Như vậy việc đầu tư do lãnh đạo DNNN tự quyết định mà không phải chịu sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước (theo Nghị định 132 thì chỉ báo cáo người đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp, chứ không bắt buộc phải báo cáo lên các bộ, ngành).
- Đặc điểm về vốn đầu tư cho các dự án. Nguồn vốn huy động cho dự án từ nhiều nguồn khác nhau như NSNN cấp, nguồn tín dụng bảo lãnh của Nhà nước, vốn trái phiếu, vốn vay ngân hàng thương mại và vốn tự có của DNNN,…Thông thường các dự án của các DNNN sử dụng vốn vay thương mại là chủ yếu, tại nhiều dự án có nguồn vốn vay chiếm quá 70% vốn đầu tư cho dự án. Theo qui định hiện hành, các dự án có vốn Nhà nước <30%, mặc dù về số tuyệt đối là rất lớn, nhưng không bắt buộc phải tuân thủ các qui định liên quan của Nhà nước (mà chỉ khuyến khích áp dụng) như quy định về quản lý chi phí, quy định về đấu thầu…
- Các dự án ĐTXD của DNNN khi hoàn thành phần lớn được bàn giao cho chính DNNN đó sử dụng, do đó bên cạnh mặt tích cực đó là các dự án ĐTXD phù hợp với nhu cầu sử dụng, thuận lợi trong việc bàn giao đưa vào sử dụng,… nhưng còn có mặt hạn chế là dễ dãi trong việc nghiệm thu, bàn giao, bỏ qua nhiều lỗi kỹ thuật, hạch toán không rõ ràng giữa chi phí đầu tư với chi phí SXKD (đặc biệt là chi phí chạy thử), thời gian chạy thử, thời gian lập Biên bản nghiệm thu chậm…
- Các dự án ĐTXD của DNNN chủ yếu là nhằm mục đích kinh doanh, do đó khả năng thu hồi vốn phụ thuộc rất lớn vào tình hình SXKD của doanh nghiệp, tình hình phát triển kinh tế của đất nước
2. Đánh giá chung về công tác kiểm toán ĐTXD tại các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước

Đọc tiếp »

ĐINH TIẾN DŨNG

Tổng Kiểm toán Nhà nước

Nhận thức sâu sắc những tác hại nghiêm trọng của tệ nạn tham nhũng, Đảng và Nhà nước luôn luôn chú trọng đến việc phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng. Hiến pháp năm 1992 đã quy định về nhiệm vụ chống tham nhũng như sau: Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền. (Điều 8). Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Phòng và chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Mọi cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ trung ương đến cơ sở và từng đảng viên, trước hết là người đứng đầu phải gương mẫu thực hiện và trực tiếp tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2012) đã xác định các hành vi được coi là tham nhũng; các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong phòng, chống tham nhũng. Bộ luật hình sự và Luật Phòng, chống tham nhũng đã xác định các hành vi tham nhũng là tội phạm hình sự và những hình phạt tương ứng.

Trong điều kiện hiện nay, Đảng và Nhà nước ta coi tham nhũng là một “quốc nạn” và công cuộc chống tham nhũng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị. Với địa vị pháp lý là cơ quan kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) là một trong những cơ quan trực tiếp có trách nhiệm phát hiện và phối hợp xử lý tham nhũng, bao gồm: Cơ quan Thanh tra nhà nước, cơ quan điều tra, Kiểm toán Nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân. Vai trò của KTNN trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:

Đọc tiếp »

PGS,TS. ĐẶNG VĂN THANH

Chủ tịch Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA)

 

Chủ trương sửa đổi và bổ sung Luật Ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2002 đã được đưa vào chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh của Quốc hội từ khóa XII và sẽ tiếp tục trong chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh của Quốc hội khóa XIII. Luật NSNN có tác động đến toàn bộ nền kinh tế – xã hội, nên việc sửa đổi cần phải được đặt ra một cách nghiêm túc, căn bản đạt cho được mục tiêu và chủ định của việc tăng cường quản lý ngân quỹ nhà nước. Những quy định về kế toán phải tương xứng với vai trò của nó trong nhiệm vụ kiểm kê, đo lường và công khai, minh bạch công tác quản lý NSNN, quản lý nền tài chính quốc gia.Quản lý và kế toán ngân quỹ nhà nước: yêu cầu luật hóa và phương hướng đổi mới

Luật NSNN năm 2002 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 16/12/2002 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004. Qua hơn bảy năm thực hiện, Luật đã góp phần phát triển và huy động mạnh mẽ tiềm năng đất nước, đảm bảo tăng tiềm lực và quy mô NSNN. Luật đã góp phần tăng quyền chủ động, trách nhiệm của địa phương và các Bộ, ngành trong việc quản lý tài chính – ngân sách được phân cấp. Việc thực thi luật trong đời sống thực tế đã góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý ngân sách, phù hợp với tiến trình cải cách hành chính nhà nước; xây dựng nền tài chính lành mạnh, công khai, tăng cường kỷ cương, kỷ luật, thực hiện chế độ trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách. NSNN đã chủ động đáp ứng các yêu cầu mới đặt ra trong quá trình tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Điều thấy rõ nhất là quy mô ngân sách cứ năm năm sau lại gấp hai lần số thu năm năm trước.

Luật NSNN năm 2002 đã bảo đảm các nguyên tắc cơ bản:

Đọc tiếp »

Khuôn khổ lạm phát mục tiêu trước khủng hoảng tài chính năm 2008

Trước khủng hoảng tài chính năm 2008, lạm phát mục tiêu (LPMT) được coi là một khuôn khổ chuẩn cho chính sách tiền tệ. Nhiều ngân hàng trung ương (NHTW) các nước trên thế giới đã áp dụng hoàn toàn hoặc một phần khuôn khổ này. Ngay cả NHTW Châu Âu và Cục Dữ trữ Liên bang Mỹ dù không công bố rằng đang vận dụng chính sách tiền tệ (CSTT) lạm phát mục tiêu nhưng cũng xây dựng khuôn khổ điều hành CSTT trên tư tưởng cam kết một mục tiêu định lượng được trong trung hạn cho lạm phát.

Đọc tiếp »

Thanh tra cần làm rõ: Vàng lậu vào VN là bao nhiêu? Đấu giá vàng và tạo ra tình hình độc quyền thương hiệu để làm gì?

Góp ý nhân đợt Thanh tra Chính phủ tiến hành thanh tra công tác quản lý kinh doanh vàng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), chuyên gia kinh tế – TS Nguyễn Thị Hiền cho rằng: Sự phê phán về tình trạng độc quyền trong nhập khẩu vàng nguyên liệu, chế tác và đấu giá vàng miếng và kiến nghị NHNN trả lại thị trường cho vàng đều có cơ sở, căn cứ và cần được lắng nghe thấu đáo. Và mức tăng giá vàng kéo theo giá USD những ngày qua là tín hiệu đáng lo ngại.

Không thể chấp nhận

Theo bà, NHNN đứng ra “bao sô” các hoạt động nhập nguyên liệu, đấu thầu vàng, chỉ chấp nhận một thương hiệu… là sai quy luật của thị trường, gây ra thiệt hại cho người dân có nhu cầu mua vàng. “Diễn biến này đã có từ năm 2012 nhưng NHNN phản ứng quá chậm để khắc phục. Đây là điều không thể chấp nhận được” – bà nhấn mạnh.

Nguyên nhân của tình trạng trên được bà Hiền cho là do nguồn cung không đáp ứng đủ. Đấu thầu vàng chỉ giúp các tổ chức kinh doanh vàng cân bằng trạng thái vàng chứ không nhằm cung cho thị trường. Chuyện thị trường vàng sẽ ổn định khi việc tất toán vàng hoàn thành sau 30-6-2013 là rất khó. Cũng không có hy vọng nào cho thấy chênh lệch giá vàng sẽ giảm. Mà chênh lệch vàng sẽ dẫn đến buôn lậu vàng, USD hút vào nhập vàng và tỉ giá thì tăng lên như hiện nay.

“Theo tôi, Thanh tra Chính phủ cần xác minh cái lợi – hại của đấu thầu vàng. Rất mong qua đợt thanh tra này sẽ tìm ra nguyên nhân gây nên sự biến động vô lý của thị trường vàng. Đấu thầu không giúp cải thiện thị trường vàng. Hãy trả lại vàng về đúng thị trường và tạo cơ hội cho các doanh nghiệp có nguồn ngoại tệ chính đáng tham gia chế tác, kinh doanh tăng cung thực chất cho thị trường” – bà gửi gắm.

Có lợi cho ai?

Đọc tiếp »

(Ban hành theo Quyết định số 563/QĐ-NHNN ngày 18 tháng 3 năm 2013

của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

MỤC 1. QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Quy trình này quy định cụ thể về việc mua, bán vàng miếng trực tiếp và mua, bán vàng miếng qua hình thức đấu thầu giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Ngân hàng Nhà nước) và tổ chức tín dụng, doanh nghiệp theo quy định tại Thông tư 06/2013/TT-NHNN ngày 12/3/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn hoạt động mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây viết tắt là “Thông tư 06/2013/TT-NHNN”).

Điều 2. Nguyên tắc chung

Việc mua, bán vàng miếng giữa Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp được thực hiện trên cơ sở tuân thủ các quy định của Thông tư 06/2013/TT-NHNN, Quy trình này và Phương án mua, bán vàng miếng đã được phê duyệt.

MỤC 2. QUY TRÌNH MUA, BÁN VÀNG MIẾNG QUA HÌNH THỨC ĐẤU THẦU

Điều 3. Thông báo đấu thầu vàng miếng

Chậm nhất trong ngày làm việc liền kề trước ngày Ngân hàng Nhà nước tổ chức đấu thầu, Sở Giao dịch gửi thông báo đấu thầu (theo mẫu tại Phụ lục 1) qua fax cho các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp đã thiết lập quan hệ mua, bán vàng miếng với Ngân hàng Nhà nước theo số fax đã đăng ký.

Điều 4. Chuyển tiền đặt cọc

Chậm nhất đến 17 giờ của ngày liền kề trước ngày Ngân hàng Nhà nước tổ chức đấu thầu vàng miếng, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp phải chuyển tiền đặt cọc vào tài khoản của Ngân hàng Nhà nước theo thông báo đấu thầu.

Điều 5. Kiểm tra và thông báo tư cách dự thầu của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp

Đọc tiếp »

Sau “cú rơi” 12/4, giá vàng lên, xuống trồi sụt, không ổn định thể hiện tâm lý bất ổn của giới đầu tư vàng. Tuy nhiên, 8 phiên đấu giá vàng của Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt là những phiên gần đây rơi vào thời gian sau 12/4 lại vẫn rất “có hậu” và giá vàng trong nước và thế giới lại ngày càng doãng ra. Câu hỏi đặt ra là sau phiên đấu giá, lợi nhuận đang chảy về túi ai?

8 phiên đấu thầu: 7 phiên thành công mỹ mãn

Phiên đấu thầu vàng thứ 8 của Ngân hàng Nhà nước diễn ra trong ngày hôm nay (15/4) đã thành công khi số dư chỉ còn 300 lượng trên tổng số 40.000 lượng vàng được chào bán.javascript:void(0)

Như vậy, trừ phiên đấu thầu đầu tiên với 24 nghìn lượng vàng bị “ế”, Ngân hàng Nhà nước đã có 7 phiên đấu thầu vàng thành công.Mức giá sàn của phiên hôm nay là 40,7 triệu đồng/lượng. Mức giá

này cao hơn giá doanh nghiệp mua vào trên thị trường sáng nay thì mức giá sàn này cao hơn khoảng 500.000 đồng/lượng.

Đọc tiếp »

Theo báo cáo 2009 của Nhóm tư vấn trợ giúp người nghèo (CGAP – Consultative Group to Assist the Poor) thì TCVM đã chiếm tới 5% trên tổng số tiền gửi tại các nước đang phát triển, tại Rwanda TCVM nắm giữ 10% khối lượng tiền gửi nhưng cung cấp dịch vụ tới 40% trên tổng số người gửi tiền, trong khi các TCVM của Zambia có số lượng người vay lớn gấp 3 lần của các ngân hàng thương mại.

Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động TCVM, Chính phủ các nước đã và đang có xu hướng ngày càng quan tâm, hỗ trợ cho lĩnh vực TCVM phát triển bền vững, thông qua việc tạo dựng một môi trường kinh doanh và pháp lý thuận lợi đi cùng với việc giám sát hiệu quả hoạt động TCVM nhằm đảm bảo tính an toàn, lành mạnh và bền vững của hệ thống. Bài viết trình bày về các khuyến nghị của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (viết tắt là Ủy ban Basel) về áp dụng những nguyên tắc cơ bản trong giám sát hoạt động TCVM.

Đọc tiếp »

Để việc nghiên cứu và tham gia ý kiến cho Dự thảo “Thông tư hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán” được thuận lợi, Đơn vị soạn thảo xin cung cấp thêm một số nội dung liên quan như sau:

1. Sự cần thiết của việc ban hành Thông tư hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán:

Từ năm 2002 đến nay, việc mở và sử dụng tài khoản tiền gửi thanh toán tại NHNN và tổ chức tín dụng được thực hiện theo Quyết định 1284/2002/QĐ-NHNN ngày 21/11/2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Ban hành "Quy chế mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước và Tổ chức tín dụng (Quyết định 1284). Các nội dung quy định tại Quyết định 1284 cơ bản phù hợp với hành lang pháp lý tại thời điểm ban hành, tạo hành lang pháp lý để tổ chức, cá nhân mở và sử dụng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của ngân hàng, qua đó góp phần phát triển thanh toán không dùng tiền mặt và phục vụ công tác quản lý, điều hành chính sách tiền tệ của NHNN. Tuy nhiên, sau hơn 10 năm triển khai thực hiện, bên cạnh những kết quả được, Quyết định 1284 cũng đã bộc lộ một số bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế nói chung và hoạt động thanh toán nói riêng, trong đó một số nội dung đã không còn tương thích với một số điều, khoản tại các văn bản pháp lý mới được ban hành, cụ thể là:

Đọc tiếp »

Bui Van Nam Son

Theo nghĩa rộng, lỗi hệ thống không gì khác hơn là những sai lầm tiêu biểu khi ta không hiểu và đi ngược lại tư duy hệ thống! Lỗi trong hệ thống là lỗi cục bộ, có thể khắc phục được, còn lỗi hệ thống thì ta phải thay đổi... tư duy! Ta dễ mắc lỗi hệ thống, vì bản thân hệ thống là con dao hai lưỡi!

Nhà văn Bùi Văn Nam Sơn

tai-chinh-cong

Một tác phẩm về tài chính công được xuất bản, rất hữu ích để ôn tập và nghiên cứu, tìm hiểu thêm tại đây

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 5-2013

Thuật ngữ "đấu thầu vàng" gây ra nhiều ngạc nhiên. Đấu thầu, về bản chất là việc tổ chức mua bán theo đó có một người mua và nhiều người bán, còn nếu có nhiều người mua và một người bán thì gọi là đấu giá. Đầu thầu, do đó, có lợi cho người mua, còn đấu giá sẽ có lợi cho người bán. Theo Quyết định số 563/QĐ-NHNN ngày 18/3/2013 thì NHNN tổ chức đấu thầu cả khi mua và khi bán vàng miếng (!)

Những ngày vừa qua, NHNN là người bán vàng, liên tục, chứ không mua, vậy tại sao gọi là đấu thầu vàng? Cũng theo quy trình tại Quyết định số 563/QĐ-NHNN thì những DN chào giá mua cao sẽ trúng thầu khi mua, chào giá bán thấp sẽ trúng thầu khi bán.

E là, người được lợi không phải là người dân, và nỗ lực kéo giá vàng về với giá thế giới cũng bay lơ lửng trên trời giống như chính giá vàng

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Sáu 2013
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 5    
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 912,729 lượt
Tổng số bài: 565

RSS Tin tức kinh tế

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 78 other followers