Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế ngày 20 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân ngày 21 tháng 11 năm 2007; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân ngày 22 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng ngày 03 tháng 6 năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng ngày 19 tháng 6 năm 2013;

Căn cứ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 03 tháng 6 năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 19 tháng 6 năm 2013;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

Đọc tiếp »

TRẦN VŨ HẢI

Hiệu quả ngân sách cần được hiểu là những kết quả đích thực mà ngân sách nhà nước đạt được sau khi thực hiện được xem xét trong mối tương quan với nguồn lực đã sử dụng.

Theo TS. Bùi Đại Dũng, hiệu quả của việc chi tiêu ngân sách phải được phản ánh trong mối quan hệ giữa khối lượng nguồn lực mà nó sử dụng và các kết quả đầu ra tổng thể cho cả xã hội trong một khoảng thời gian thích hợp. Có thể sử dụng chỉ số phát triển con người (HDI) do Tổ chức Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) xây dựng để đánh giá hiệu quả chi tiêu ngân sách bằng cách xác định tỷ lệ giữa mức tăng HDI so với tổng chi ngân sách trong một giai đoạn nhất định. (TS. Bùi Đại Dũng, Hiệu quả chi tiêu ngân sách dưới tác động của vấn đề nhóm lợi ích ở một số nước trên thế giới, NXB Chính trị quốc gia, 2007).

Tuy nhiên, cách thức tiếp cận này chỉ đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế xã hội mà chưa đánh giá được những yếu tố về mặt chính trị và sự tuân thủ pháp luật của hoạt động ngân sách nhà nước cũng như sẽ gặp khó khăn khi đánh giá hiệu quả ngân sách trong ngắn hạn.

Đọc tiếp »

GS.TS. LÊ HỒNG HẠNH

NGUYÊN VIỆN TRƯỞNG VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ

Ai cũng biết rằng, dân chủ là động lực phát triển của xã hội. Một đất nước dù nghèo tài nguyên đến đâu nhưng nếu dựa vào nền dân chủ để phát triển thì vẫn trở thành cường quốc.

Đất nước qua nhiều thập kỷ đổi mới đang dần sử dụng những luật chơi của nền dân chủ để phát triển kinh tế xã hội. Một trong những luật chơi của nền dân chủ mà chúng ta đã khởi động từ hơn 20 năm nay chính là phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng trọng tài.

Sở dĩ gọi nó là luật chơi của nền dân chủ là vì Nhà nước thừa nhận và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, thương nhân tự lựa chọn cho mình cách thức xử lý các tranh chấp: hoặc là ra tòa hoặc sử dụng trọng tài thương mại hay các thiết chế lựa chọn khác như hòa giải, thương lượng.

Đặc biệt, khi chọn phương thức trọng tài, các doanh nghiệp, thương nhân được quyền lựa chọn cho mình những chuyên gia giỏi, trung thực, vô tư và khách quan để giải quyết tranh chấp. Các bên được tự lựa chọn địa điểm, thủ tục tố tụng, được quyền thay đổi trọng tài viên nếu có bằng chứng cho thấy họ không vô tư, không khách quan. Các bên được lựa chọn cả ngôn ngữ tố tụng và luật áp dụng trong trường hợp một bên tranh chấp là doanh nghiệp, thương nhân nước ngoài.

Gọi đó là luật chơi dân chủ vì trong quá trình tố tụng, các bên có đầy đủ quyền lực để thay đổi thành phần hội đồng trọng tài, có đầy đủ cơ hội để chứng minh cho yêu cầu của mình. Luật chơi dân chủ này đã được các doanh nghiệp, thương nhân trên thế giới sử dụng phổ biến và được coi là thiết chế hữu hiệu trong giải quyết tranh chấp.

Đọc tiếp »

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013, Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, Thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013, Thông tư số 85/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011,­­ Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 và Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính để cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế

clip_image003

Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 Luật sửa đi, bổ sung một số điu của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng số 31/2013/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2013;

Căn cứ Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế;

Căn cứ Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng;

Căn cứ Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010;

Căn cứ Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;

Căn cứ Nghị định số 215/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế,

Thực hiện cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế, Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số nội dung như sau:

Đọc tiếp »

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Nghị định số 08/2012/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;

Trên cơ sở Báo cáo của Bộ Tài chính (Tờ trình số 95/TTr-BTC ngày 28 tháng 7 năm 2014), thảo luận của các thành viên Chính phủ và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp thường kỳ, tổ chức ngày 30, 31 tháng 7 năm 2014,

QUYẾT NGHỊ:

I. CÁC GIẢI PHÁP VỀ THUẾ THÁO GỠ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, ĐẨY MẠNH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ:

1. Gia hạn thời hạn nộp thuế không quá 60 ngày đối với số tiền thuế giá trị gia tăng của máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư mà tổng giá trị nhập khẩu từ 100 tỷ đồng trở lên. Bộ Tài chính chỉ đạo cơ quan thuế thực hiện hoàn thuế trước kiểm tra sau chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan thuế nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị hoàn thuế của doanh nghiệp.

2. Gia hạn thời hạn nộp thuế tối đa không quá 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế đối với dự án đầu tư chưa được thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã ghi trong dự toán ngân sách nhà nước, số thuế được gia hạn không vượt quá số tiền ngân sách nhà nước còn nợ và thời gian gia hạn không vượt quá thời gian ngân sách còn nợ.

3. Doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ đối với khoản chi có tính chất phúc lợi chỉ trực tiếp cho người lao động mà doanh nghiệp có hóa đơn, chứng theo quy định; tổng số chi không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện.

Đọc tiếp »

NGUYỄN VẠN PHÚ

Đề án “Thí điểm mô hình đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục tiểu học từ lớp 1 đến lớp 3 tại TPHCM năm học 2014-2015” với tổng kinh phí chừng 4.000 tỉ đồng nếu nhìn từ góc cạnh kinh tế, có thể rút ra được những bài học gì về đầu tư công?

Số liệu công khai thu chi ngân sách TPHCM cho thấy tổng chi ngân sách địa phương năm 2013 ước tính trên 46.200 tỉ đồng, gồm 17.500 tỉ đồng chi cho đầu tư phát triển. Trong các khoản chi thường xuyên thì chi cho sự nghiệp giáo dục chỉ có chừng 6.800 tỉ đồng.

Thử hỏi trong bối cảnh đó, đề án “Thí điểm mô hình đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục tiểu học từ lớp 1 đến lớp 3 tại TPHCM năm học 2014-2015” với tổng kinh phí chừng 4.000 tỉ đồng làm sao mang tính khả thi? Cho dù có khoản mục “xã hội hóa”, tức phụ huynh sẽ tự bỏ tiền mua máy tính bảng nhưng kinh phí chủ yếu cũng từ ngân sách. Có lẽ ít người biết tổng chi quản lý hành chính của toàn TPHCM năm 2013 cũng vào khoảng chừng đó mà thôi!

Một đề án chỉ cho ba khối lớp 1, 2 và 3 mà đã gần bằng toàn bộ mức chi thường xuyên cho cả ngành giáo dục và bằng mức chi cho bộ máy hành chính thì làm sao được thông qua. Vấn đề đáng lưu tâm là qua đề án này, nhìn từ góc cạnh kinh tế, có thể rút ra được những bài học gì về đầu tư công hay công tư phối hợp?

Một đề án phi kinh tế

Đọc tiếp »

PGS., TS. CHÚC ANH TÚ – Học viện Tài chính

Luattaichinh: bình luận về tác giả hoặc nội dung bài viết là không đúng với tiêu chí của Luattaichinh. Nhưng với bài viết này, cần phải có hai nhận xét: 1) Nội dung bài viết của tác giả chỉ thuần túy cung cấp thông tin, không có vấn đề học thuật; 2) Công thức xác định thu nhập tính thuế được đưa trong bài là không chính xác: thứ nhất, lỗ kết chuyển được trừ đi khỏi thu nhập chịu thuế chứ không phải cộng vào; thứ hai, DN có thể được trừ đi  thêm một khoản, đó là trích lập Quỹ Phát triển Khoa học công nghệ theo Thông tư 15/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Sau đây là toàn văn bài viết:

Trước thực tế phát sinh những khoản chênh lệch (chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn) giữa kế toán và thuế, bài viết này sẽ tập trung phân tích làm rõ hơn các khoản thu nhập theo quy định hiện hành đã làm phát sinh chênh lệch với mục đích giúp những đối tượng quan tâm có được cái nhìn đơn giản hơn về vấn đề này.

Luật số 32/2013/QH 13 ngày 09/06/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN); Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN; Thông tư 78/2014/TT – BTC ngày 18/06/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định 218/2013/NĐ – CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN. Những quy định hiện hành trên, đã làm phát sinh những khoản chênh lệch (chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn) giữa kế toán và thuế:

Công thức xác định thuế TNDN như sau:

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ, bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà DN được hưởng không phân biệt đã thu hay chưa thu được tiền. Một số điều khoản quy định của Luật thuế TNDN và của kế toán có sự khác biệt dẫn đến phát sinh khoản chênh lệch, đó là:

Đọc tiếp »

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Công bố ngày 25/7/2014

Năm 2013, Kiểm toán Nhà nước đã tổ chức kiểm toán tại 150 đầu mối[1] và kiểm toán Báo cáo quyết toán NSNN năm 2012 tại Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT.

Thực hiện quy định tại khoản 8, Điều 15, khoản 3, Điều 55 Luật Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán Nhà nước đã lập Báo cáo kết quả kiểm toán năm 2013 để gửi đến từng Đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa 13 và các cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

Căn cứ Điều 58, Luật Kiểm toán nhà nước, khoản 2, Điều 11, Nghị định số 91/2008/NĐ-CP ngày 18/8/2008 của Chính phủ về công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước trân trọng công bố tóm tắt kết quả kiểm toán năm 2013 như sau:

A. KẾT QUẢ KIỂM TOÁN QUYẾT TOÁN NSNN NĂM 2012

- Tổng thu NSNN 1.058.140 tỷ đồng, vượt 1,9% dự toán.

- Tổng chi NSNN 1.170.924 tỷ đồng, vượt 8,3% dự toán, trong đó: Chi đầu tư phát triển 268.812 tỷ đồng, bằng 31,1% tổng chi NSNN, vượt 49,3% (88.812 tỷ đồng) dự toán; chi thường xuyên 603.372 tỷ đồng, vượt 0,3% (2.072 tỷ đồng) dự toán; chi trả nợ, viện trợ 105.838 tỷ đồng, vượt 5,8% (5.838 tỷ đồng) dự toán.

- Tăng trưởng kinh tế năm 2012 đạt 5,3%; bội chi NSNN được giữ ở mức 4,75% GDP, thấp hơn 0,05% mức Quốc hội cho phép (4,8%); dư nợ Chính phủ bằng 38,9% GDP, dư nợ nước ngoài của quốc gia bằng 37,4% GDP[2]; dư nợ công 1.642.916 tỷ đồng, bằng 55,7% GDP (năm 2011 bằng 54,9% GDP)[3].

Qua kiểm toán cho thấy trong quản lý điều hành ngân sách việc sử dụng các khoản tăng thu, dư dự toán và dự phòng ngân sách cơ bản phù hợp quy định; tổng chi chuyển nguồn và chuyển nguồn của những nhiệm vụ chậm triển khai đều giảm so với năm 2011, sử dụng kinh phí NSNN tại các bộ, cơ quan trung ương đi vào nề nếp hơn, phù hợp với tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước[4]; các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; các đơn vị được kiểm toán cơ bản đã tuân thủ quy định của Luật NSNN, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Phòng, Chống tham nhũng… Song, còn một số thiếu sót, hạn chế:

1. Lập và giao dự toán

Đọc tiếp »

Luattaichinh

Vấn đề lương tối thiểu là cuộc tranh luận bất tận giữa công đoàn và giới chủ, giữa các cơ quan nhà nước, thậm chí giữa các đảng phái chính trị. Về phương diện kinh tế học, lương tối thiểu được ủng hộ và phản đối.
Quan điểm của nhóm ủng hộ:

Đọc tiếp »

PHAN HUY CHÚ

Luattaichinh: Lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú được xem là Bách khoa toàn thư thời kỳ trung đại ở Việt Nam. Những thông tin và lời bàn của ông cho thấy, nhà nước phong kiến Việt Nam cũng có những quan niệm khá hiện đại về thuế và quản lý thuế khá chặt chẽ, cùng thời điểm Châu Âu bắt đầu bình minh của khoa học kinh tế. Tuy nhiên, việc kỳ thị đối với hoạt động thương mại là một hạn chế lớn trong quản lý kinh tế thời kỳ này.

Sau đây là phần I của phần Quốc dụng chí (Quyển XXXI).

———————————————————

ĐÁNH THUẾ CHUYÊN LỢI

THUẾ CHUYÊN LỢI VỀ QUẾ

Lê Dụ Tông, năm Vĩnh thịnh thứ 11[1715], thả lệnh cấm về vỏ quế, cho nhân dân được thông hành buôn bán. Cho phép nhân dân được thông hành buôn bán. Cho phép các nơi có thổ sản được bóc nộp, cho người thuê bóc một nửa, nộp vào nhà nước một nửa. Người thuê bóc được 500 cân thì cho 50 quan tiền mà trưng mua số quế.

Năm Bảo – thái thứ 1 [1720], Nhân vương [Trịnh Cương] cùng với tể thần bấy giờ là bọn Nguyễn Công Kháng bàn rằng cây quế là sản vật của nhà nước mà lệ cũ cho nhân dân buôn bán riêng với nhau, mối lợi về bọn lái buôn, việc chi dùng của nhà nước không được lợi gì, bèn định thi hành phép thuế chuyên lợi về quế, sai quan trông nom công việc. Phàm có nhân dân buôn bán tự nguyện đi bóc quế thì phải làm tờ khai xin phép và cung tiến lễ mừng. Quan giám đương hầu chỉ cấp bằng cho làm quế hộ. Các quế hộ vào rừng lấy quế, trước hết phải đến quan trình bằng và nộp lễ mừng 10 quan tiền quý. Quan hỏi người ấy định đi lấy quế ở địa phương nào, rồi làm giấy cho phép điền rõ số đi lấy là bao nhiêu cân, lại sai người đi trước đến báo cho xã dân ấy biết, cho sao bản giấy phép giữ lấy làm bằng để tiện xét nghiệm, rồi quế hộ mới được đi lấy quế. Số quế lấy được bao nhiêu cân, lại báo cho xã dân ấy ghi chép làm bằng, đem đựng vào sọt, mỗi sọt nặng 100 cân, đem đến trình quan bản trấn cân lại đúng số rồi cấp cho bài chỉ rõ ràng. Khi đi đường qua các quan tuần y, cứ chiếu bài chỉ kiểm tra lại thấy đúng số thì cấp giấy cho đi. Khi đến kinh đô, đem bài chỉ của trấn quan và giấy của tuần ty trình quan giám đương chiếu số kiểm lại đúng rồi bổ thuế. Cứ mỗi 100 cân định giá là 100 quan tiền quý thì đánh thuế 5 phần 10, rồi cho quế hộ đem về cất giữ. Khi nào có thuyền buôn đến mua, thì làm tờ khải nộp quan giám đương đệ lên chúa xem và hầu chỉ, cho mua bao nhiêu cần thì tính theo thời giá chuẩn cho nộp thuế, cứ mỗi 100 cân quế định giá 100 quan tiền quý thì đánh 5 phần 10, tức 1 quan tiền quý thì nộp 5 tiền. Quế hộ đem số quế phần của mình cất giữ tính thuế mà bán ra. Khách buôn khi trở về thì trấn quan sai binh lính đưa ra khỏi địa hạt, cứ mỗi lần phải nộp lộ phí 10 quan tiền quý.

Đọc tiếp »

TS. VŨ BẰNG

Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Sau khủng hoảng tài chính năm 2007-2008, nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện việc tái cấu trúc hệ thống tài chính, với quy mô và mức độ khác nhau. Đối với Việt Nam, công tác tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình tái cấu trúc thị trường chứng khoán và tái cấu trúc nền kinh tế.

1. Thực trạng các tổ chức kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam

Các công ty chứng khoán

Trong thời gian qua, các công ty chứng khoán (CTCK) đã phát huy vai trò là tổ chức trung gian trên thị trường chứng khoán (TTCK), giúp cho việc dẫn vốn và luân chuyển vốn trong nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài. Lượng nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán liên tục tăng trưởng qua các năm. Năm 2009 có trên 800.000 tài khoản, năm 2010 có trên 1 triệu tài khoản và năm 2013 có trên 1,3 triệu tài khoản.

Tại các CTCK, hệ thống công nghệ thông tin, mạng lưới cung cấp dịch vụ, đội ngũ người hành nghề không ngừng được tăng cường. Một số CTCK lớn đã chú trọng phát triển hệ thống quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ để hoạt động của công ty ngày càng tốt hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động của các CTCK cũng để lại một số vấn đề đáng chú ý. Số lượng các tổ chức tăng nhanh nhưng không bảo đảm hiệu quả hoạt động: Sự hình thành nhanh các CTCK dẫn đến việc cạnh tranh hết sức gay gắt, đặc biệt là cạnh tranh về thị phần môi giới (hơn 70% thị phần giao dịch tập trung vào 23 CTCK và chỉ có chưa đến 30% thị phần giao dịch do 80 CTCK còn lại nắm giữ). Để tăng khả năng cạnh tranh, thu hút khách hàng, một số CTCK thiếu sự chú trọng công tác quản trị rủi ro trong khi cung cấp các dịch vụ nhiều rủi ro. Khi thị trường đi xuống, nhiều CTCK đã bị thua lỗ và cũng có những CTCK đứng trước nguy cơ không huy động được đủ vốn cần thiết để duy trì hoạt động kinh doanh.

Ngoài ra, thực tế cũng cho thấy năng lực của các CTCK còn nhiều hạn chế về nghiệp vụ, nhân sự, cơ sở vật chất, đặc biệt tiềm lực tài chính chưa lớn.

Hệ thống công ty quản lý quỹ

Mặc dù ra đời trong bối cảnh khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, ngành quản lý quỹ vẫn tiếp tục duy trì hoạt động ổn định, an toàn, thận trọng dựa trên nền tảng những quy định pháp luật chặt chẽ theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Nhiều công ty quản lý quỹ (CTQLQ) tích cực đào tạo đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm, chuyên môn, từng bước định hình một ngành kinh doanh chứng khoán bậc cao và đội ngũ nhân sự có năng lực cần thiết cho việc phát triển hệ thống an sinh xã hội sau này.

Các CTQLQ đã từng bước khẳng định là những nhà đầu tư tổ chức lớn, tạo sức cầu cần thiết cho các chương trình cổ phần hóa, hỗ trợ sự phát triển của TTCK, thị trường trái phiếu. Một số công ty quản lý quỹ đã chủ động, tích cực huy động vốn đầu tư từ nước ngoài, từng bước tạo ra một kênh dẫn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài an toàn cho nền kinh tế.

Bên cạnh đó, các CTQLQ đã phát huy vai trò là những nhà quản lý tài sản chuyên nghiệp cho các tổ chức có nhiều vốn khả dụng, đặc biệt là các doanh nghiệp bảo hiểm và các ngân hàng. Điều này đã góp phần chuyên nghiệp hóa các hoạt động trên thị trường tài chính, ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng thương mại, CTCK đã và đang chuyển dần các hoạt động đầu tư tài chính sang các CTQLQ, để có nhiều nguồn lực tập trung và ngành nghề kinh doanh chính. Đây là xu hướng phù hợp với điều kiện của các tổ chức tài chính, ngân hàng Việt Nam, khi mà các tổ chức này còn có quy mô nhỏ, năng lực quản trị rủi ro thấp, đạo đức nghề nghiệp chưa có, tiềm ẩn nhiều xung đột lợi ích.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có những mặt tồn tại là nhiều CTQLQ hoạt động không hiệu quả, thua lỗ nhiều. Có tới 2/3 số công ty đang hoạt động không thể huy động được quỹ. Phần còn lại chỉ quản lý danh mục đầu tư ngắn hạn, chủ yếu là nguồn vốn ủy thác từ khối các ngân hàng, bảo hiểm. Các CTQLQ không phải là các định chế chuyên nghiệp về hoạt động tín dụng, không có hệ thống thẩm định tín dụng, vì vậy việc dùng nguồn vốn ủy thác từ các ngân hàng và cho vay lại càng rủi ro.

Năng lực hoạt động của các CTQLQ cũng còn hạn chế. Các công ty chưa chứng tỏ được năng lực trong hoạt động quản lý tài sản, kết quả hoạt động đầu tư cho khách hàng thấp. Có những công ty không tuân thủ quy định của pháp luật, không tách biệt tài sản của khách hàng, chưa tạo được lòng tin cho khách hàng. Đội ngũ nhân sự có trình độ, nghiệp vụ chuyên môn về quản lý tài sản chưa nhiều. Phần mềm, công nghệ tiên tiến chỉ được thực hiện tại một số các công ty có vốn nước ngoài và đang quản lý các quỹ đầu tư đại chúng. Phần còn lại đa số các công ty áp dụng các phần mềm không chuyên biệt, thao tác thủ công, chỉ phù hợp với hoạt động ở mức độ thấp như hiện tại.

Hiệu quả hoạt động của các công ty quản lý quỹ là không đồng đều, khi có tới 65% các CTQLQ có vốn góp của các ngân hàng, doanh nghiệp bảo hiểm có lãi lũy kế kể từ khi thành lập. Trong số các công ty còn lại, chỉ có 28% công ty là có khả năng tạo lợi nhuận.

2. Mục tiêu, nguyên tắc tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán

Đọc tiếp »

Luattaichinh: Thế mới thấy, thực hiện sự bình đẳng và công bằng mới khó làm sao?

Sau đây là toàn văn nội dung Công văn này:

—————————————–

Kính gửi:

- Tổng cục Hải quan;
- Cục Hải quan các tỉnh, thành phố;
- Tổng cục Cảnh sát QLHC về trật tự, an toàn xã hội,
(40 Hàng Bài, Hoàn Kiếm, Hà Nội);
- Công ty cổ phần đầu tư thương mại Hồng Lam.
(Đường 2/3 xóm 11, xã Đức Thuận, thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh).

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thông báo tại công văn số 1486/VPCP-KTTH ngày 14/3/2011 của Văn phòng Chính phủ về việc gia hạn nộp thuế và không tính phạt chậm nộp đối với lô hàng nhập khẩu phục vụ an ninh, quốc phòng, chậm nộp thuế do ngân sách nhà nước chưa bố trí kịp kinh phí để nộp thuế, giao Bộ Tài chính kiểm tra xử lý cụ thể.

Theo đề nghị của Tổng cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội (Bộ Công an) tại công văn số 1373/C61-C65, 1374/C61-C63 ngày 15/4/2014 về việc xem xét miễn phạt chậm nộp thuế tiêu thụ đặc biệt 511 xe mô tô 2 bánh Honda Phantom 200cc nhập khẩu phục vụ trực tiếp cho an ninh; Bộ Tài chính đề nghị:

1/ Không tính phạt chậm nộp thuế đối với 511 xe mô tô 2 bánh Honda Phantom 200cc, theo các tờ khai nhập khẩu số 5010/NK/KD/T03G, 5012/NK/KD/T03G ngày 06/4/2010, 6698/NK/KD/T03G, 6700/NK/KD/T03G ngày 06/5/2010, 1389/NK/KD/T03G và 1393/NK/KD/T03G ngày 26/01/2010 của Cục Chính trị Hậu cần cảnh sát quản lý hành chính, ủy thác cho Công ty cổ phần đầu tư thương mại Hồng Lam nhập khẩu để phục vụ cho mục đích an ninh, đã nộp tiền thuế tiêu thụ đặc biệt vào ngân sách nhà nước, nhưng ngân sách nhà nước chậm cấp kinh phí để nộp thuế.

2/ Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan các tỉnh, thành phố thực hiện đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ không tính phạt chậm nộp đối với lô hàng nhập khẩu phục vụ quốc phòng, an ninh do Ngân sách nhà nước chưa bố trí kịp kinh phí để nộp thuế.

Bộ Tài chính thông báo để các đơn vị biết và thực hiện./.

Trần Vũ Hải

Nghị định 68/2014/NĐ-CP ngày 9/7/2014 sửa đổi, bổ sung Nghị định 45/2007/NĐ-CP đúng duy nhất một nội dung, đó là định nghĩa bổ sung về một loại bảo hiểm phi nhân thọ là bảo hiểm bảo lãnh. Theo đó, bảo hiểm bảo lãnh là hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo đó doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chấp nhận rủi ro của người được bảo lãnh, trên cơ sở người được bảo lãnh đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.

Đọc tiếp »

Luật Tài chính: Nghị quyết này, về mặt thực tế không có gì đáng bàn, vì nó cần để xử lý những vấn đề trước mắt.

Nhưng về mặt lý luận pháp luật cũng như tài chính công, có một số vấn đề cần xem xét:

1. Nghị quyết của Quốc hội có cần căn cứ vào Luật Ngân sách Nhà nước không? Về hiệu lực, Nghị quyết của Quốc hội có hiệu lực rất cao, trong khi nội dung chính của nghị quyết (Điều 1) lại không hoàn toàn phù hợp với Điều 59 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002.

2. Lần đầu tiên có khái niệm "nguồn tăng bội chi", và liệu nguồn tăng bội chi này có được hiểu là nguồn tăng thu hay không, trong khi vay nợ lại không phải là nguồn thu của ngân sách trung ương theo Điều 30 Luật Ngân sách Nhà nước?

3. Lấy nguồn tăng bội chi để bù đắp hụt thu ngân sách trung ương là việc chưa có tiền lệ. Tại sao không giảm chi tương ứng với số thu chưa đạt theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước? Nếu vẫn giảm chi tương ứng với số hụt thu thì việc bù đắp này có ý nghĩa gì ngoài câu chuyện của các con số?

4. Và cuối cùng, nếu do tăng trần bội chi mà dẫn đến việc vay được nhiều tiền hơn, tại sao không quyết định trả lại tiền vay hoặc không tiếp tục vay (nhiều trường hợp hoàn toàn có thể) mà lại vẫn phải sử dụng cho bằng hết số tiền vay khi không thực sự cần?

Sau đây là toàn văn Nghị quyết:

Đọc tiếp »

TS. LÊ THỊ THÙY VÂN

Viện Chiến lược và Chính sách tài chính

Mô hình quản lý và giám sát hệ thống tài chính trên thế giới đã có những thay đổi đáng kể qua nhiều thập niên, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Những rủi ro mới phát sinh đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện các chuẩn mực, phương thức giám sát hệ thống tài chính theo hướng tăng cường giám sát thận trọng vĩ mô, nâng cao năng lực thể chế của hệ thống giám sát nhằm đảm bảo tính ổn định và sức chịu đựng của hệ thống trước các cú sốc.

Xu hướng lựa chọn và điều chỉnh mô hình giám sát

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã làm bộc lộ những yếu kém trong hệ thống giám sát tài chính thế giới, khi mô hình quản lý và giám sát tài chính không theo kịp sự phát

Xu hướng cải cách hệ thống giám sát tài chính trên thế giới

triển và đổi mới của hệ thống tài chính. Do vậy, sau khủng hoảng tài chính này, các nền kinh tế lớn đã tích cực cải cách hệ thống giám sát tài chính nhằm tăng cường hiệu quả giám sát, kịp thời phát hiện rủi ro và ngăn ngừa việc tái diễn khủng hoảng trong tương lai.

Giám sát tài chính hợp nhất là mô hình được nhiều nước hướng đến nhiều hơn trong số 4 mô hình giám sát (giám sát theo định chế, giám sát theo chức năng, giám sát hợp nhất, giám sát lưỡng đỉnh), với tỷ lệ các nước lựa chọn mô hình này tăng từ 20% vào năm 1996 lên 31% (năm 2011). Số nước lựa chọn mô hình cũng tăng từ 13 nước (năm 1996) lên 36 nước vào năm 2006, 42 nước (năm 2009) và lên 55 nước (năm 2012). Trong đó, các nước tiêu biểu cho lựa chọn mô hình này là: Đức, Thụy Điển, Đan Mạch, Canada, Na Uy, Anh (từ năm 1997 đến tháng 3/2013), Ba Lan (từ năm 1997), Hàn Quốc (từ năm 1999), Hungary (từ năm 2000).

Các nguyên nhân cơ bản lý giải cho xu hướng này là: (i) Kịp thời phản ánh sự phát triển của hệ thống tài chính cũng như hoạt động kinh doanh của các định chế tài chính; (ii) Nâng cao hiệu quả giám sát trong bối cảnh các tập đoàn tài chính được thành lập ngày càng nhiều; (iii) Mô hình giám sát phân tán không thể ứng phó kịp thời và hiệu quả trước những tác động tiêu cực từ các cú sốc bên ngoài đến khu vực tài chính trong nước.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 5-2014

PHÁT NGÔN ẤN TƯỢNG

“Vinashin đã là thảm họa. Nhưng nguồn gốc thảm họa là Vinacho, và bên cạnh là Vinachia. Đấy là sự thỏa hiệp ngầm, thỏa hiệp đen để bòn rút tài sản của nhà nước”

ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC - ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Mười 2014
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 9    
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,135,275 lượt

RSS Tin tức kinh tế

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 137 other followers