Lập dự toán thấp để được thưởng vì vượt thu cao

Nhà báo Việt Lâm:Đúng là nhà nghèo thì phải đi vay mượn. Nhưng nếu nhà nghèo mà vung tay quá trán thì rất đáng lo. Nhiều ĐBQH đã lên tiếng lo ngại về tình trạng kỷ cương ngân sách lỏng lẻo. Tôi xin trích lời phát biểu của ĐB Trần Du Lịch: “Tôi không thấy ở đâu sử dụng ngân sách tùy tiện như ở nước mình, có lần tôi đi thăm một nước vào cuối tháng 12 họ không mời được cơm vì ngân sách chưa có, còn nước ta thì ăn nhậu vô tội vạ, thậm chí quyết toán được hết”. Tại sao lại có tình trạng này, thưa ông?

Ts Vũ Đình Ánh: Là người làm trong lĩnh vực tài chính gần hai chục năm và quan sát cả cấp TƯ lẫn địa phương, tôi rất chia sẻ với lo ngại của ĐB Trần Du Lịch về kỷ luật ngân sách. Không những kỷ luật chi mà cả kỷ luật thu ngân sách của chúng ta đều có vấn đề.

Chúng ta thường xuyên kêu ca về nạn thất thu ngân sách, trốn lậu thuế. Nhưng vấn đề ở chỗ người ta thường xây dựng một dự toán thu ngân sách ở địa phương rất thấp để họ có thể vượt dự toán thu đó. Nhờ khoản vượt thu này mà họ được thưởng. Nói cách khác, họ cố tình kéo dự toán thu thấp hơn khả năng đạt được. Thêm vào đó, những địa phương này còn có dư địa rất lớn để đạt được dự toán cho năm sau. Dư địa này là khoản thất thu ngân sách và trốn lậu thuế mà các địa phương này chỉ cần tăng cường kỷ luật thì sẽ thu được rất cao.

Tình trạng bất cập này tạo ra một hiện tượng thú vị. Đó là, thu ngân sách nhà nước chưa bao giờ là không vượt dự toán, thậm chí có những năm vượt dự toán trên 30%. Thậm chí nếu bắt những nơi này vượt dự toán cả 50%, họ vẫn làm được và vẫn còn dư địa để năm sau tiếp tục vượt thu ngân sách. Rõ ràng kỷ luật thu ngân sách của chúng ta có vấn đề. Không chỉ về trình độ năng lực mà vấn đề là chúng ta tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người nghiêm túc và không nghiêm túc nộp ngân sách nhà nước.ăn nhậu, nợ công, ngân sách nhà nước

Điều đáng kinh ngạc là nếu giả định vượt thu ngân sách so với dự toán là thành tích, nỗ lực của các đơn vị thực thi, hay còn gọi là đơn vị hành thu theo thuật ngữ chuyên môn, thì tại sao chi ngân sách cũng vượt dự toán rất nhiều? Bất kể thu ngân sách có vượt vài chục phần trăm so với dự toán nhưng rốt cuộc thâm hụt ngân sách vẫn cứ đều đặn 4,8-5% GDP mỗi năm. Nghĩa là chi ngân sách cũng phải vượt dự toán vài chục phần trăm thì mới cho ra chênh lệch thu chi như vậy.

Đọc tiếp »

VŨ HOÀNG

Ở Việt Nam, Bio Rad bị tố cáo thường hối lộ các viên chức bệnh viện và phòng thí nghiệm, sử dụng một nhà phân phối trung gian để tránh bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý.

Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch (SEC) và Bộ Tư pháp Mỹ hôm 3/11 thông báo, công ty thiết bị và nghiên cứu y tế Mỹ Bio-Rad vừa chấp thuận nộp phạt 55 triệu USD để dàn xếp các cáo buộc hình sự và dân sự về hành vi hối lộ quan chức chính phủ của nhiều nước, trong đó có Việt Nam.

Bio-Rad được thành lập vào năm 1952 tại Berkeley, hiện đặt trụ sở tại Hercules, California, Mỹ. Công ty ban đầu tập trung vào mảng phát triển và sản xuất hóa chất đặc biệt, sử dụng trong sinh học, dược phẩm và các ứng dụng nghiên cứu khoa học đời sống khác. Đến nay, Bio-Rad hoạt động trên hai phân khúc: khoa học đời sống và chẩn đoán lâm sàng, với quy mô toàn cầu. Công ty có gần 8.000 nhân viên, giám đốc điều hành là ông Norman D.Schwartz. Khách hàng của Bio-Rad thường là các bệnh viện, viện nghiên cứu lớn, cơ sở y tế công cộng, phòng thí nghiệm…

Thuê trung gian hòng né tránh pháp luật Việt Nam

Theo thông báo điều tra của SEC, Bio Rad từ năm 2005 đến năm 2009 duy trì một văn phòng đại diện bán hàng ở Việt Nam. Giám đốc văn phòng Việt Nam được phép phê duyệt những hợp đồng có giá trị lên đến 100.000 USD và chi hoa hồng đến 20.000 USD. Văn phòng Việt Nam sẽ báo cáo mọi thông tin chi tiết cho giám đốc khu vực Đông Nam Á (RSM) của Bio-Rad có trụ sở đặt tại Singapore, và từ đây tiếp tục báo về cho giám đốc quản lý chung toàn khu vực châu Á.

Đọc tiếp »

Bài 1: Rộ phát hành trái phiếu doanh nghiệp

Tác giả: Thành Nam (thesaigontimes.vn, thứ Năm,  6/11/2014)

(TBKTSG) – Vốn có thể đang rất thừa đối với các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu, kinh doanh dịch vụ nhưng nó chưa qua thời khan hiếm đối với bất động sản. Nhìn từ gốc rễ sâu xa này, mới thấy phát hành trái phiếu doanh nghiệp là một nửa nụ cười có phần chua chát.

Công ty cổ phần Phát triển hạ tầng kỹ thuật (IJC-Hose) cuối tuần qua công bố nghị quyết hội đồng quản trị phát hành 400 tỉ đồng trái phiếu kỳ hạn năm năm cho Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank), với lãi suất năm đầu 12,2%, những năm sau lãi suất thả nổi cộng biên độ 4%/năm. Trước đó, cuối tháng 9-2014, IJC cũng thông qua phương án phát hành 600 tỉ đồng trái phiếu nhằm thực hiện dự án Sunflower II.

IJC không phải đơn vị đầu tiên hay duy nhất phát hành trái phiếu doanh nghiệp năm nay. Thị trường đã chứng kiến hàng chục ngàn tỉ đồng trái phiếu được các công ty niêm yết phát hành như Công ty cổ phần Năm Bảy Bảy; tập đoàn Sao Mai; Công ty cổ phần Ngân Sơn; tập đoàn Vingroup; tập đoàn Đại Dương; tập đoàn Masan; Tổng công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc… Ngay cả những “đại gia” không thiếu tiền mặt như Công ty Chứng khoán Sài Gòn cũng vừa quyết định phát hành 1.000-1.500 tỉ đồng trái phiếu không chuyển đổi để mở rộng hoạt động tự doanh và ký quỹ.

Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN ĐỨC THÀNH

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR),

Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Bài viết này mong muốn đưa ra một cái nhìn khách quan về nền kinh tế Việt Nam, vì việc đánh giá thực tiễn có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp, các nhà đầu tư và cả kinh nghiệm cho các nhà điều hành chính sách.

Sau khi Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trình bày Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2014 và nhiệm vụ năm 2015 trước Quốc hội tại kỳ họp thứ 8, khóa XIII, ngày 20/10/2014, trên nhiều diễn đàn đã dấy lên một cuộc tranh luận sôi nổi về thực trạng kinh tế Việt Nam và triển vọng cùng những nguy cơ trong trung hạn.

Có thể nói, vấn đề kinh tế căn bản của Việt Nam trong những năm gần đây xoay quanh hai vấn đề chính: duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô và kiến tạo đà tăng trưởng kinh tế trong trung hạn.

Trong nhiều năm, cho tới tận trước 2011, mục tiêu tăng trưởng luôn là ưu tiên hàng đầu của Chính phủ, dưới sự hậu thuẫn của các cấp lãnh đạo (Đảng, Quốc hội). Tuy nhiên, do cấu trúc của nền kinh tế dựa nhiều vào khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và đầu tư công, mục tiêu này đã không thể đạt được, trái lại, hậu quả chỉ là bất ổn vĩ mô ngày càng lớn đi liền với suy giảm tăng trưởng.

Từ năm 2011, mục tiêu điều hành được xoay hướng sang ưu tiên ổn định vĩ mô ngày càng rõ ràng. Trong ngắn hạn, ổn định vĩ mô, với công cụ là thu hẹp đầu tư công, cải cách khu vực DNNN, và thận trọng trong cung ứng tiền tệ, thường đi liền với tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại.

Cụ thể, lạm phát đã liên tục giảm từ mức cao của năm 2011 xuống 6,8% vào năm 2012 và 6% năm 2013 và dự kiến năm nay, 2014, sẽ thấp hơn 5%. Đồng thời, tăng trưởng kinh tế trong những năm này đều chỉ đạt khoảng 5%.

Nhận định chung cho thấy có thể đánh đổi một giai đoạn kinh tế tăng trưởng chậm lại để tái lập ổn định vĩ mô, đồng thời thực hiện cải cách cơ cấu để lấy lại đà tăng trưởng. Hai quá trình này cần thực hiện song song, để mục tiêu đạt được trong giai đoạn sau là có sự tăng trưởng cao hơn, tốc độ tăng trưởng được duy trì bền vững hơn, trong khi kinh tế vĩ mô vẫn được duy trì liên tục. Vì vậy, việc đánh giá thành quả của việc bình ổn vĩ mô, chính là hiệu quả của việc cải cách cơ cấu nền kinh tế trong thời gian đó.

Đọc tiếp »

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế ngày 20 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân ngày 21 tháng 11 năm 2007; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân ngày 22 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng ngày 03 tháng 6 năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng ngày 19 tháng 6 năm 2013;

Căn cứ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 03 tháng 6 năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 19 tháng 6 năm 2013;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

Đọc tiếp »

TRẦN VŨ HẢI

Hiệu quả ngân sách cần được hiểu là những kết quả đích thực mà ngân sách nhà nước đạt được sau khi thực hiện được xem xét trong mối tương quan với nguồn lực đã sử dụng.

Theo TS. Bùi Đại Dũng, hiệu quả của việc chi tiêu ngân sách phải được phản ánh trong mối quan hệ giữa khối lượng nguồn lực mà nó sử dụng và các kết quả đầu ra tổng thể cho cả xã hội trong một khoảng thời gian thích hợp. Có thể sử dụng chỉ số phát triển con người (HDI) do Tổ chức Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) xây dựng để đánh giá hiệu quả chi tiêu ngân sách bằng cách xác định tỷ lệ giữa mức tăng HDI so với tổng chi ngân sách trong một giai đoạn nhất định. (TS. Bùi Đại Dũng, Hiệu quả chi tiêu ngân sách dưới tác động của vấn đề nhóm lợi ích ở một số nước trên thế giới, NXB Chính trị quốc gia, 2007).

Tuy nhiên, cách thức tiếp cận này chỉ đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế xã hội mà chưa đánh giá được những yếu tố về mặt chính trị và sự tuân thủ pháp luật của hoạt động ngân sách nhà nước cũng như sẽ gặp khó khăn khi đánh giá hiệu quả ngân sách trong ngắn hạn.

Đọc tiếp »

GS.TS. LÊ HỒNG HẠNH

NGUYÊN VIỆN TRƯỞNG VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ

Ai cũng biết rằng, dân chủ là động lực phát triển của xã hội. Một đất nước dù nghèo tài nguyên đến đâu nhưng nếu dựa vào nền dân chủ để phát triển thì vẫn trở thành cường quốc.

Đất nước qua nhiều thập kỷ đổi mới đang dần sử dụng những luật chơi của nền dân chủ để phát triển kinh tế xã hội. Một trong những luật chơi của nền dân chủ mà chúng ta đã khởi động từ hơn 20 năm nay chính là phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng trọng tài.

Sở dĩ gọi nó là luật chơi của nền dân chủ là vì Nhà nước thừa nhận và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, thương nhân tự lựa chọn cho mình cách thức xử lý các tranh chấp: hoặc là ra tòa hoặc sử dụng trọng tài thương mại hay các thiết chế lựa chọn khác như hòa giải, thương lượng.

Đặc biệt, khi chọn phương thức trọng tài, các doanh nghiệp, thương nhân được quyền lựa chọn cho mình những chuyên gia giỏi, trung thực, vô tư và khách quan để giải quyết tranh chấp. Các bên được tự lựa chọn địa điểm, thủ tục tố tụng, được quyền thay đổi trọng tài viên nếu có bằng chứng cho thấy họ không vô tư, không khách quan. Các bên được lựa chọn cả ngôn ngữ tố tụng và luật áp dụng trong trường hợp một bên tranh chấp là doanh nghiệp, thương nhân nước ngoài.

Gọi đó là luật chơi dân chủ vì trong quá trình tố tụng, các bên có đầy đủ quyền lực để thay đổi thành phần hội đồng trọng tài, có đầy đủ cơ hội để chứng minh cho yêu cầu của mình. Luật chơi dân chủ này đã được các doanh nghiệp, thương nhân trên thế giới sử dụng phổ biến và được coi là thiết chế hữu hiệu trong giải quyết tranh chấp.

Đọc tiếp »

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013, Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, Thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013, Thông tư số 85/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011,­­ Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 và Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính để cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế

clip_image003

Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 Luật sửa đi, bổ sung một số điu của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng số 31/2013/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2013;

Căn cứ Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế;

Căn cứ Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng;

Căn cứ Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010;

Căn cứ Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;

Căn cứ Nghị định số 215/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế,

Thực hiện cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế, Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số nội dung như sau:

Đọc tiếp »

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Nghị định số 08/2012/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;

Trên cơ sở Báo cáo của Bộ Tài chính (Tờ trình số 95/TTr-BTC ngày 28 tháng 7 năm 2014), thảo luận của các thành viên Chính phủ và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp thường kỳ, tổ chức ngày 30, 31 tháng 7 năm 2014,

QUYẾT NGHỊ:

I. CÁC GIẢI PHÁP VỀ THUẾ THÁO GỠ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, ĐẨY MẠNH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ:

1. Gia hạn thời hạn nộp thuế không quá 60 ngày đối với số tiền thuế giá trị gia tăng của máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư mà tổng giá trị nhập khẩu từ 100 tỷ đồng trở lên. Bộ Tài chính chỉ đạo cơ quan thuế thực hiện hoàn thuế trước kiểm tra sau chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan thuế nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị hoàn thuế của doanh nghiệp.

2. Gia hạn thời hạn nộp thuế tối đa không quá 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế đối với dự án đầu tư chưa được thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã ghi trong dự toán ngân sách nhà nước, số thuế được gia hạn không vượt quá số tiền ngân sách nhà nước còn nợ và thời gian gia hạn không vượt quá thời gian ngân sách còn nợ.

3. Doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ đối với khoản chi có tính chất phúc lợi chỉ trực tiếp cho người lao động mà doanh nghiệp có hóa đơn, chứng theo quy định; tổng số chi không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện.

Đọc tiếp »

NGUYỄN VẠN PHÚ

Đề án “Thí điểm mô hình đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục tiểu học từ lớp 1 đến lớp 3 tại TPHCM năm học 2014-2015” với tổng kinh phí chừng 4.000 tỉ đồng nếu nhìn từ góc cạnh kinh tế, có thể rút ra được những bài học gì về đầu tư công?

Số liệu công khai thu chi ngân sách TPHCM cho thấy tổng chi ngân sách địa phương năm 2013 ước tính trên 46.200 tỉ đồng, gồm 17.500 tỉ đồng chi cho đầu tư phát triển. Trong các khoản chi thường xuyên thì chi cho sự nghiệp giáo dục chỉ có chừng 6.800 tỉ đồng.

Thử hỏi trong bối cảnh đó, đề án “Thí điểm mô hình đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục tiểu học từ lớp 1 đến lớp 3 tại TPHCM năm học 2014-2015” với tổng kinh phí chừng 4.000 tỉ đồng làm sao mang tính khả thi? Cho dù có khoản mục “xã hội hóa”, tức phụ huynh sẽ tự bỏ tiền mua máy tính bảng nhưng kinh phí chủ yếu cũng từ ngân sách. Có lẽ ít người biết tổng chi quản lý hành chính của toàn TPHCM năm 2013 cũng vào khoảng chừng đó mà thôi!

Một đề án chỉ cho ba khối lớp 1, 2 và 3 mà đã gần bằng toàn bộ mức chi thường xuyên cho cả ngành giáo dục và bằng mức chi cho bộ máy hành chính thì làm sao được thông qua. Vấn đề đáng lưu tâm là qua đề án này, nhìn từ góc cạnh kinh tế, có thể rút ra được những bài học gì về đầu tư công hay công tư phối hợp?

Một đề án phi kinh tế

Đọc tiếp »

PGS., TS. CHÚC ANH TÚ – Học viện Tài chính

Luattaichinh: bình luận về tác giả hoặc nội dung bài viết là không đúng với tiêu chí của Luattaichinh. Nhưng với bài viết này, cần phải có hai nhận xét: 1) Nội dung bài viết của tác giả chỉ thuần túy cung cấp thông tin, không có vấn đề học thuật; 2) Công thức xác định thu nhập tính thuế được đưa trong bài là không chính xác: thứ nhất, lỗ kết chuyển được trừ đi khỏi thu nhập chịu thuế chứ không phải cộng vào; thứ hai, DN có thể được trừ đi  thêm một khoản, đó là trích lập Quỹ Phát triển Khoa học công nghệ theo Thông tư 15/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Sau đây là toàn văn bài viết:

Trước thực tế phát sinh những khoản chênh lệch (chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn) giữa kế toán và thuế, bài viết này sẽ tập trung phân tích làm rõ hơn các khoản thu nhập theo quy định hiện hành đã làm phát sinh chênh lệch với mục đích giúp những đối tượng quan tâm có được cái nhìn đơn giản hơn về vấn đề này.

Luật số 32/2013/QH 13 ngày 09/06/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN); Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN; Thông tư 78/2014/TT – BTC ngày 18/06/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định 218/2013/NĐ – CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN. Những quy định hiện hành trên, đã làm phát sinh những khoản chênh lệch (chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn) giữa kế toán và thuế:

Công thức xác định thuế TNDN như sau:

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ, bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà DN được hưởng không phân biệt đã thu hay chưa thu được tiền. Một số điều khoản quy định của Luật thuế TNDN và của kế toán có sự khác biệt dẫn đến phát sinh khoản chênh lệch, đó là:

Đọc tiếp »

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Công bố ngày 25/7/2014

Năm 2013, Kiểm toán Nhà nước đã tổ chức kiểm toán tại 150 đầu mối[1] và kiểm toán Báo cáo quyết toán NSNN năm 2012 tại Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT.

Thực hiện quy định tại khoản 8, Điều 15, khoản 3, Điều 55 Luật Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán Nhà nước đã lập Báo cáo kết quả kiểm toán năm 2013 để gửi đến từng Đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa 13 và các cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

Căn cứ Điều 58, Luật Kiểm toán nhà nước, khoản 2, Điều 11, Nghị định số 91/2008/NĐ-CP ngày 18/8/2008 của Chính phủ về công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước trân trọng công bố tóm tắt kết quả kiểm toán năm 2013 như sau:

A. KẾT QUẢ KIỂM TOÁN QUYẾT TOÁN NSNN NĂM 2012

- Tổng thu NSNN 1.058.140 tỷ đồng, vượt 1,9% dự toán.

- Tổng chi NSNN 1.170.924 tỷ đồng, vượt 8,3% dự toán, trong đó: Chi đầu tư phát triển 268.812 tỷ đồng, bằng 31,1% tổng chi NSNN, vượt 49,3% (88.812 tỷ đồng) dự toán; chi thường xuyên 603.372 tỷ đồng, vượt 0,3% (2.072 tỷ đồng) dự toán; chi trả nợ, viện trợ 105.838 tỷ đồng, vượt 5,8% (5.838 tỷ đồng) dự toán.

- Tăng trưởng kinh tế năm 2012 đạt 5,3%; bội chi NSNN được giữ ở mức 4,75% GDP, thấp hơn 0,05% mức Quốc hội cho phép (4,8%); dư nợ Chính phủ bằng 38,9% GDP, dư nợ nước ngoài của quốc gia bằng 37,4% GDP[2]; dư nợ công 1.642.916 tỷ đồng, bằng 55,7% GDP (năm 2011 bằng 54,9% GDP)[3].

Qua kiểm toán cho thấy trong quản lý điều hành ngân sách việc sử dụng các khoản tăng thu, dư dự toán và dự phòng ngân sách cơ bản phù hợp quy định; tổng chi chuyển nguồn và chuyển nguồn của những nhiệm vụ chậm triển khai đều giảm so với năm 2011, sử dụng kinh phí NSNN tại các bộ, cơ quan trung ương đi vào nề nếp hơn, phù hợp với tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước[4]; các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; các đơn vị được kiểm toán cơ bản đã tuân thủ quy định của Luật NSNN, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Phòng, Chống tham nhũng… Song, còn một số thiếu sót, hạn chế:

1. Lập và giao dự toán

Đọc tiếp »

Luattaichinh

Vấn đề lương tối thiểu là cuộc tranh luận bất tận giữa công đoàn và giới chủ, giữa các cơ quan nhà nước, thậm chí giữa các đảng phái chính trị. Về phương diện kinh tế học, lương tối thiểu được ủng hộ và phản đối.
Quan điểm của nhóm ủng hộ:

Đọc tiếp »

PHAN HUY CHÚ

Luattaichinh: Lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú được xem là Bách khoa toàn thư thời kỳ trung đại ở Việt Nam. Những thông tin và lời bàn của ông cho thấy, nhà nước phong kiến Việt Nam cũng có những quan niệm khá hiện đại về thuế và quản lý thuế khá chặt chẽ, cùng thời điểm Châu Âu bắt đầu bình minh của khoa học kinh tế. Tuy nhiên, việc kỳ thị đối với hoạt động thương mại là một hạn chế lớn trong quản lý kinh tế thời kỳ này.

Sau đây là phần I của phần Quốc dụng chí (Quyển XXXI).

———————————————————

ĐÁNH THUẾ CHUYÊN LỢI

THUẾ CHUYÊN LỢI VỀ QUẾ

Lê Dụ Tông, năm Vĩnh thịnh thứ 11[1715], thả lệnh cấm về vỏ quế, cho nhân dân được thông hành buôn bán. Cho phép nhân dân được thông hành buôn bán. Cho phép các nơi có thổ sản được bóc nộp, cho người thuê bóc một nửa, nộp vào nhà nước một nửa. Người thuê bóc được 500 cân thì cho 50 quan tiền mà trưng mua số quế.

Năm Bảo – thái thứ 1 [1720], Nhân vương [Trịnh Cương] cùng với tể thần bấy giờ là bọn Nguyễn Công Kháng bàn rằng cây quế là sản vật của nhà nước mà lệ cũ cho nhân dân buôn bán riêng với nhau, mối lợi về bọn lái buôn, việc chi dùng của nhà nước không được lợi gì, bèn định thi hành phép thuế chuyên lợi về quế, sai quan trông nom công việc. Phàm có nhân dân buôn bán tự nguyện đi bóc quế thì phải làm tờ khai xin phép và cung tiến lễ mừng. Quan giám đương hầu chỉ cấp bằng cho làm quế hộ. Các quế hộ vào rừng lấy quế, trước hết phải đến quan trình bằng và nộp lễ mừng 10 quan tiền quý. Quan hỏi người ấy định đi lấy quế ở địa phương nào, rồi làm giấy cho phép điền rõ số đi lấy là bao nhiêu cân, lại sai người đi trước đến báo cho xã dân ấy biết, cho sao bản giấy phép giữ lấy làm bằng để tiện xét nghiệm, rồi quế hộ mới được đi lấy quế. Số quế lấy được bao nhiêu cân, lại báo cho xã dân ấy ghi chép làm bằng, đem đựng vào sọt, mỗi sọt nặng 100 cân, đem đến trình quan bản trấn cân lại đúng số rồi cấp cho bài chỉ rõ ràng. Khi đi đường qua các quan tuần y, cứ chiếu bài chỉ kiểm tra lại thấy đúng số thì cấp giấy cho đi. Khi đến kinh đô, đem bài chỉ của trấn quan và giấy của tuần ty trình quan giám đương chiếu số kiểm lại đúng rồi bổ thuế. Cứ mỗi 100 cân định giá là 100 quan tiền quý thì đánh thuế 5 phần 10, rồi cho quế hộ đem về cất giữ. Khi nào có thuyền buôn đến mua, thì làm tờ khải nộp quan giám đương đệ lên chúa xem và hầu chỉ, cho mua bao nhiêu cần thì tính theo thời giá chuẩn cho nộp thuế, cứ mỗi 100 cân quế định giá 100 quan tiền quý thì đánh 5 phần 10, tức 1 quan tiền quý thì nộp 5 tiền. Quế hộ đem số quế phần của mình cất giữ tính thuế mà bán ra. Khách buôn khi trở về thì trấn quan sai binh lính đưa ra khỏi địa hạt, cứ mỗi lần phải nộp lộ phí 10 quan tiền quý.

Đọc tiếp »

TS. VŨ BẰNG

Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Sau khủng hoảng tài chính năm 2007-2008, nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện việc tái cấu trúc hệ thống tài chính, với quy mô và mức độ khác nhau. Đối với Việt Nam, công tác tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình tái cấu trúc thị trường chứng khoán và tái cấu trúc nền kinh tế.

1. Thực trạng các tổ chức kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam

Các công ty chứng khoán

Trong thời gian qua, các công ty chứng khoán (CTCK) đã phát huy vai trò là tổ chức trung gian trên thị trường chứng khoán (TTCK), giúp cho việc dẫn vốn và luân chuyển vốn trong nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài. Lượng nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán liên tục tăng trưởng qua các năm. Năm 2009 có trên 800.000 tài khoản, năm 2010 có trên 1 triệu tài khoản và năm 2013 có trên 1,3 triệu tài khoản.

Tại các CTCK, hệ thống công nghệ thông tin, mạng lưới cung cấp dịch vụ, đội ngũ người hành nghề không ngừng được tăng cường. Một số CTCK lớn đã chú trọng phát triển hệ thống quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ để hoạt động của công ty ngày càng tốt hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động của các CTCK cũng để lại một số vấn đề đáng chú ý. Số lượng các tổ chức tăng nhanh nhưng không bảo đảm hiệu quả hoạt động: Sự hình thành nhanh các CTCK dẫn đến việc cạnh tranh hết sức gay gắt, đặc biệt là cạnh tranh về thị phần môi giới (hơn 70% thị phần giao dịch tập trung vào 23 CTCK và chỉ có chưa đến 30% thị phần giao dịch do 80 CTCK còn lại nắm giữ). Để tăng khả năng cạnh tranh, thu hút khách hàng, một số CTCK thiếu sự chú trọng công tác quản trị rủi ro trong khi cung cấp các dịch vụ nhiều rủi ro. Khi thị trường đi xuống, nhiều CTCK đã bị thua lỗ và cũng có những CTCK đứng trước nguy cơ không huy động được đủ vốn cần thiết để duy trì hoạt động kinh doanh.

Ngoài ra, thực tế cũng cho thấy năng lực của các CTCK còn nhiều hạn chế về nghiệp vụ, nhân sự, cơ sở vật chất, đặc biệt tiềm lực tài chính chưa lớn.

Hệ thống công ty quản lý quỹ

Mặc dù ra đời trong bối cảnh khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, ngành quản lý quỹ vẫn tiếp tục duy trì hoạt động ổn định, an toàn, thận trọng dựa trên nền tảng những quy định pháp luật chặt chẽ theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Nhiều công ty quản lý quỹ (CTQLQ) tích cực đào tạo đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm, chuyên môn, từng bước định hình một ngành kinh doanh chứng khoán bậc cao và đội ngũ nhân sự có năng lực cần thiết cho việc phát triển hệ thống an sinh xã hội sau này.

Các CTQLQ đã từng bước khẳng định là những nhà đầu tư tổ chức lớn, tạo sức cầu cần thiết cho các chương trình cổ phần hóa, hỗ trợ sự phát triển của TTCK, thị trường trái phiếu. Một số công ty quản lý quỹ đã chủ động, tích cực huy động vốn đầu tư từ nước ngoài, từng bước tạo ra một kênh dẫn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài an toàn cho nền kinh tế.

Bên cạnh đó, các CTQLQ đã phát huy vai trò là những nhà quản lý tài sản chuyên nghiệp cho các tổ chức có nhiều vốn khả dụng, đặc biệt là các doanh nghiệp bảo hiểm và các ngân hàng. Điều này đã góp phần chuyên nghiệp hóa các hoạt động trên thị trường tài chính, ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng thương mại, CTCK đã và đang chuyển dần các hoạt động đầu tư tài chính sang các CTQLQ, để có nhiều nguồn lực tập trung và ngành nghề kinh doanh chính. Đây là xu hướng phù hợp với điều kiện của các tổ chức tài chính, ngân hàng Việt Nam, khi mà các tổ chức này còn có quy mô nhỏ, năng lực quản trị rủi ro thấp, đạo đức nghề nghiệp chưa có, tiềm ẩn nhiều xung đột lợi ích.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có những mặt tồn tại là nhiều CTQLQ hoạt động không hiệu quả, thua lỗ nhiều. Có tới 2/3 số công ty đang hoạt động không thể huy động được quỹ. Phần còn lại chỉ quản lý danh mục đầu tư ngắn hạn, chủ yếu là nguồn vốn ủy thác từ khối các ngân hàng, bảo hiểm. Các CTQLQ không phải là các định chế chuyên nghiệp về hoạt động tín dụng, không có hệ thống thẩm định tín dụng, vì vậy việc dùng nguồn vốn ủy thác từ các ngân hàng và cho vay lại càng rủi ro.

Năng lực hoạt động của các CTQLQ cũng còn hạn chế. Các công ty chưa chứng tỏ được năng lực trong hoạt động quản lý tài sản, kết quả hoạt động đầu tư cho khách hàng thấp. Có những công ty không tuân thủ quy định của pháp luật, không tách biệt tài sản của khách hàng, chưa tạo được lòng tin cho khách hàng. Đội ngũ nhân sự có trình độ, nghiệp vụ chuyên môn về quản lý tài sản chưa nhiều. Phần mềm, công nghệ tiên tiến chỉ được thực hiện tại một số các công ty có vốn nước ngoài và đang quản lý các quỹ đầu tư đại chúng. Phần còn lại đa số các công ty áp dụng các phần mềm không chuyên biệt, thao tác thủ công, chỉ phù hợp với hoạt động ở mức độ thấp như hiện tại.

Hiệu quả hoạt động của các công ty quản lý quỹ là không đồng đều, khi có tới 65% các CTQLQ có vốn góp của các ngân hàng, doanh nghiệp bảo hiểm có lãi lũy kế kể từ khi thành lập. Trong số các công ty còn lại, chỉ có 28% công ty là có khả năng tạo lợi nhuận.

2. Mục tiêu, nguyên tắc tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 5-2014

PHÁT NGÔN ẤN TƯỢNG

“Vinashin đã là thảm họa. Nhưng nguồn gốc thảm họa là Vinacho, và bên cạnh là Vinachia. Đấy là sự thỏa hiệp ngầm, thỏa hiệp đen để bòn rút tài sản của nhà nước”

ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC - ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Mười Một 2014
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 10    
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,154,737 lượt

RSS Tin tức kinh tế

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 141 other followers