PHAN HUY CHÚ

Luattaichinh: Lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú được xem là Bách khoa toàn thư thời kỳ trung đại ở Việt Nam. Những thông tin và lời bàn của ông cho thấy, nhà nước phong kiến Việt Nam cũng có những quan niệm khá hiện đại về thuế và quản lý thuế khá chặt chẽ, cùng thời điểm Châu Âu bắt đầu bình minh của khoa học kinh tế. Tuy nhiên, việc kỳ thị đối với hoạt động thương mại là một hạn chế lớn trong quản lý kinh tế thời kỳ này.

Sau đây là phần I của phần Quốc dụng chí (Quyển XXXI).

———————————————————

ĐÁNH THUẾ CHUYÊN LỢI

THUẾ CHUYÊN LỢI VỀ QUẾ

Lê Dụ Tông, năm Vĩnh thịnh thứ 11[1715], thả lệnh cấm về vỏ quế, cho nhân dân được thông hành buôn bán. Cho phép nhân dân được thông hành buôn bán. Cho phép các nơi có thổ sản được bóc nộp, cho người thuê bóc một nửa, nộp vào nhà nước một nửa. Người thuê bóc được 500 cân thì cho 50 quan tiền mà trưng mua số quế.

Năm Bảo – thái thứ 1 [1720], Nhân vương [Trịnh Cương] cùng với tể thần bấy giờ là bọn Nguyễn Công Kháng bàn rằng cây quế là sản vật của nhà nước mà lệ cũ cho nhân dân buôn bán riêng với nhau, mối lợi về bọn lái buôn, việc chi dùng của nhà nước không được lợi gì, bèn định thi hành phép thuế chuyên lợi về quế, sai quan trông nom công việc. Phàm có nhân dân buôn bán tự nguyện đi bóc quế thì phải làm tờ khai xin phép và cung tiến lễ mừng. Quan giám đương hầu chỉ cấp bằng cho làm quế hộ. Các quế hộ vào rừng lấy quế, trước hết phải đến quan trình bằng và nộp lễ mừng 10 quan tiền quý. Quan hỏi người ấy định đi lấy quế ở địa phương nào, rồi làm giấy cho phép điền rõ số đi lấy là bao nhiêu cân, lại sai người đi trước đến báo cho xã dân ấy biết, cho sao bản giấy phép giữ lấy làm bằng để tiện xét nghiệm, rồi quế hộ mới được đi lấy quế. Số quế lấy được bao nhiêu cân, lại báo cho xã dân ấy ghi chép làm bằng, đem đựng vào sọt, mỗi sọt nặng 100 cân, đem đến trình quan bản trấn cân lại đúng số rồi cấp cho bài chỉ rõ ràng. Khi đi đường qua các quan tuần y, cứ chiếu bài chỉ kiểm tra lại thấy đúng số thì cấp giấy cho đi. Khi đến kinh đô, đem bài chỉ của trấn quan và giấy của tuần ty trình quan giám đương chiếu số kiểm lại đúng rồi bổ thuế. Cứ mỗi 100 cân định giá là 100 quan tiền quý thì đánh thuế 5 phần 10, rồi cho quế hộ đem về cất giữ. Khi nào có thuyền buôn đến mua, thì làm tờ khải nộp quan giám đương đệ lên chúa xem và hầu chỉ, cho mua bao nhiêu cần thì tính theo thời giá chuẩn cho nộp thuế, cứ mỗi 100 cân quế định giá 100 quan tiền quý thì đánh 5 phần 10, tức 1 quan tiền quý thì nộp 5 tiền. Quế hộ đem số quế phần của mình cất giữ tính thuế mà bán ra. Khách buôn khi trở về thì trấn quan sai binh lính đưa ra khỏi địa hạt, cứ mỗi lần phải nộp lộ phí 10 quan tiền quý.

Đọc tiếp »

TS. VŨ BẰNG

Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Sau khủng hoảng tài chính năm 2007-2008, nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện việc tái cấu trúc hệ thống tài chính, với quy mô và mức độ khác nhau. Đối với Việt Nam, công tác tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình tái cấu trúc thị trường chứng khoán và tái cấu trúc nền kinh tế.

1. Thực trạng các tổ chức kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam

Các công ty chứng khoán

Trong thời gian qua, các công ty chứng khoán (CTCK) đã phát huy vai trò là tổ chức trung gian trên thị trường chứng khoán (TTCK), giúp cho việc dẫn vốn và luân chuyển vốn trong nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài. Lượng nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán liên tục tăng trưởng qua các năm. Năm 2009 có trên 800.000 tài khoản, năm 2010 có trên 1 triệu tài khoản và năm 2013 có trên 1,3 triệu tài khoản.

Tại các CTCK, hệ thống công nghệ thông tin, mạng lưới cung cấp dịch vụ, đội ngũ người hành nghề không ngừng được tăng cường. Một số CTCK lớn đã chú trọng phát triển hệ thống quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ để hoạt động của công ty ngày càng tốt hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động của các CTCK cũng để lại một số vấn đề đáng chú ý. Số lượng các tổ chức tăng nhanh nhưng không bảo đảm hiệu quả hoạt động: Sự hình thành nhanh các CTCK dẫn đến việc cạnh tranh hết sức gay gắt, đặc biệt là cạnh tranh về thị phần môi giới (hơn 70% thị phần giao dịch tập trung vào 23 CTCK và chỉ có chưa đến 30% thị phần giao dịch do 80 CTCK còn lại nắm giữ). Để tăng khả năng cạnh tranh, thu hút khách hàng, một số CTCK thiếu sự chú trọng công tác quản trị rủi ro trong khi cung cấp các dịch vụ nhiều rủi ro. Khi thị trường đi xuống, nhiều CTCK đã bị thua lỗ và cũng có những CTCK đứng trước nguy cơ không huy động được đủ vốn cần thiết để duy trì hoạt động kinh doanh.

Ngoài ra, thực tế cũng cho thấy năng lực của các CTCK còn nhiều hạn chế về nghiệp vụ, nhân sự, cơ sở vật chất, đặc biệt tiềm lực tài chính chưa lớn.

Hệ thống công ty quản lý quỹ

Mặc dù ra đời trong bối cảnh khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, ngành quản lý quỹ vẫn tiếp tục duy trì hoạt động ổn định, an toàn, thận trọng dựa trên nền tảng những quy định pháp luật chặt chẽ theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Nhiều công ty quản lý quỹ (CTQLQ) tích cực đào tạo đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm, chuyên môn, từng bước định hình một ngành kinh doanh chứng khoán bậc cao và đội ngũ nhân sự có năng lực cần thiết cho việc phát triển hệ thống an sinh xã hội sau này.

Các CTQLQ đã từng bước khẳng định là những nhà đầu tư tổ chức lớn, tạo sức cầu cần thiết cho các chương trình cổ phần hóa, hỗ trợ sự phát triển của TTCK, thị trường trái phiếu. Một số công ty quản lý quỹ đã chủ động, tích cực huy động vốn đầu tư từ nước ngoài, từng bước tạo ra một kênh dẫn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài an toàn cho nền kinh tế.

Bên cạnh đó, các CTQLQ đã phát huy vai trò là những nhà quản lý tài sản chuyên nghiệp cho các tổ chức có nhiều vốn khả dụng, đặc biệt là các doanh nghiệp bảo hiểm và các ngân hàng. Điều này đã góp phần chuyên nghiệp hóa các hoạt động trên thị trường tài chính, ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng thương mại, CTCK đã và đang chuyển dần các hoạt động đầu tư tài chính sang các CTQLQ, để có nhiều nguồn lực tập trung và ngành nghề kinh doanh chính. Đây là xu hướng phù hợp với điều kiện của các tổ chức tài chính, ngân hàng Việt Nam, khi mà các tổ chức này còn có quy mô nhỏ, năng lực quản trị rủi ro thấp, đạo đức nghề nghiệp chưa có, tiềm ẩn nhiều xung đột lợi ích.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có những mặt tồn tại là nhiều CTQLQ hoạt động không hiệu quả, thua lỗ nhiều. Có tới 2/3 số công ty đang hoạt động không thể huy động được quỹ. Phần còn lại chỉ quản lý danh mục đầu tư ngắn hạn, chủ yếu là nguồn vốn ủy thác từ khối các ngân hàng, bảo hiểm. Các CTQLQ không phải là các định chế chuyên nghiệp về hoạt động tín dụng, không có hệ thống thẩm định tín dụng, vì vậy việc dùng nguồn vốn ủy thác từ các ngân hàng và cho vay lại càng rủi ro.

Năng lực hoạt động của các CTQLQ cũng còn hạn chế. Các công ty chưa chứng tỏ được năng lực trong hoạt động quản lý tài sản, kết quả hoạt động đầu tư cho khách hàng thấp. Có những công ty không tuân thủ quy định của pháp luật, không tách biệt tài sản của khách hàng, chưa tạo được lòng tin cho khách hàng. Đội ngũ nhân sự có trình độ, nghiệp vụ chuyên môn về quản lý tài sản chưa nhiều. Phần mềm, công nghệ tiên tiến chỉ được thực hiện tại một số các công ty có vốn nước ngoài và đang quản lý các quỹ đầu tư đại chúng. Phần còn lại đa số các công ty áp dụng các phần mềm không chuyên biệt, thao tác thủ công, chỉ phù hợp với hoạt động ở mức độ thấp như hiện tại.

Hiệu quả hoạt động của các công ty quản lý quỹ là không đồng đều, khi có tới 65% các CTQLQ có vốn góp của các ngân hàng, doanh nghiệp bảo hiểm có lãi lũy kế kể từ khi thành lập. Trong số các công ty còn lại, chỉ có 28% công ty là có khả năng tạo lợi nhuận.

2. Mục tiêu, nguyên tắc tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán

Đọc tiếp »

Luattaichinh: Thế mới thấy, thực hiện sự bình đẳng và công bằng mới khó làm sao?

Sau đây là toàn văn nội dung Công văn này:

—————————————–

Kính gửi:

- Tổng cục Hải quan;
- Cục Hải quan các tỉnh, thành phố;
- Tổng cục Cảnh sát QLHC về trật tự, an toàn xã hội,
(40 Hàng Bài, Hoàn Kiếm, Hà Nội);
- Công ty cổ phần đầu tư thương mại Hồng Lam.
(Đường 2/3 xóm 11, xã Đức Thuận, thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh).

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thông báo tại công văn số 1486/VPCP-KTTH ngày 14/3/2011 của Văn phòng Chính phủ về việc gia hạn nộp thuế và không tính phạt chậm nộp đối với lô hàng nhập khẩu phục vụ an ninh, quốc phòng, chậm nộp thuế do ngân sách nhà nước chưa bố trí kịp kinh phí để nộp thuế, giao Bộ Tài chính kiểm tra xử lý cụ thể.

Theo đề nghị của Tổng cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội (Bộ Công an) tại công văn số 1373/C61-C65, 1374/C61-C63 ngày 15/4/2014 về việc xem xét miễn phạt chậm nộp thuế tiêu thụ đặc biệt 511 xe mô tô 2 bánh Honda Phantom 200cc nhập khẩu phục vụ trực tiếp cho an ninh; Bộ Tài chính đề nghị:

1/ Không tính phạt chậm nộp thuế đối với 511 xe mô tô 2 bánh Honda Phantom 200cc, theo các tờ khai nhập khẩu số 5010/NK/KD/T03G, 5012/NK/KD/T03G ngày 06/4/2010, 6698/NK/KD/T03G, 6700/NK/KD/T03G ngày 06/5/2010, 1389/NK/KD/T03G và 1393/NK/KD/T03G ngày 26/01/2010 của Cục Chính trị Hậu cần cảnh sát quản lý hành chính, ủy thác cho Công ty cổ phần đầu tư thương mại Hồng Lam nhập khẩu để phục vụ cho mục đích an ninh, đã nộp tiền thuế tiêu thụ đặc biệt vào ngân sách nhà nước, nhưng ngân sách nhà nước chậm cấp kinh phí để nộp thuế.

2/ Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan các tỉnh, thành phố thực hiện đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ không tính phạt chậm nộp đối với lô hàng nhập khẩu phục vụ quốc phòng, an ninh do Ngân sách nhà nước chưa bố trí kịp kinh phí để nộp thuế.

Bộ Tài chính thông báo để các đơn vị biết và thực hiện./.

Trần Vũ Hải

Nghị định 68/2014/NĐ-CP ngày 9/7/2014 sửa đổi, bổ sung Nghị định 45/2007/NĐ-CP đúng duy nhất một nội dung, đó là định nghĩa bổ sung về một loại bảo hiểm phi nhân thọ là bảo hiểm bảo lãnh. Theo đó, bảo hiểm bảo lãnh là hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo đó doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chấp nhận rủi ro của người được bảo lãnh, trên cơ sở người được bảo lãnh đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.

Đọc tiếp »

Luật Tài chính: Nghị quyết này, về mặt thực tế không có gì đáng bàn, vì nó cần để xử lý những vấn đề trước mắt.

Nhưng về mặt lý luận pháp luật cũng như tài chính công, có một số vấn đề cần xem xét:

1. Nghị quyết của Quốc hội có cần căn cứ vào Luật Ngân sách Nhà nước không? Về hiệu lực, Nghị quyết của Quốc hội có hiệu lực rất cao, trong khi nội dung chính của nghị quyết (Điều 1) lại không hoàn toàn phù hợp với Điều 59 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002.

2. Lần đầu tiên có khái niệm "nguồn tăng bội chi", và liệu nguồn tăng bội chi này có được hiểu là nguồn tăng thu hay không, trong khi vay nợ lại không phải là nguồn thu của ngân sách trung ương theo Điều 30 Luật Ngân sách Nhà nước?

3. Lấy nguồn tăng bội chi để bù đắp hụt thu ngân sách trung ương là việc chưa có tiền lệ. Tại sao không giảm chi tương ứng với số thu chưa đạt theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước? Nếu vẫn giảm chi tương ứng với số hụt thu thì việc bù đắp này có ý nghĩa gì ngoài câu chuyện của các con số?

4. Và cuối cùng, nếu do tăng trần bội chi mà dẫn đến việc vay được nhiều tiền hơn, tại sao không quyết định trả lại tiền vay hoặc không tiếp tục vay (nhiều trường hợp hoàn toàn có thể) mà lại vẫn phải sử dụng cho bằng hết số tiền vay khi không thực sự cần?

Sau đây là toàn văn Nghị quyết:

Đọc tiếp »

TS. LÊ THỊ THÙY VÂN

Viện Chiến lược và Chính sách tài chính

Mô hình quản lý và giám sát hệ thống tài chính trên thế giới đã có những thay đổi đáng kể qua nhiều thập niên, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Những rủi ro mới phát sinh đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện các chuẩn mực, phương thức giám sát hệ thống tài chính theo hướng tăng cường giám sát thận trọng vĩ mô, nâng cao năng lực thể chế của hệ thống giám sát nhằm đảm bảo tính ổn định và sức chịu đựng của hệ thống trước các cú sốc.

Xu hướng lựa chọn và điều chỉnh mô hình giám sát

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã làm bộc lộ những yếu kém trong hệ thống giám sát tài chính thế giới, khi mô hình quản lý và giám sát tài chính không theo kịp sự phát

Xu hướng cải cách hệ thống giám sát tài chính trên thế giới

triển và đổi mới của hệ thống tài chính. Do vậy, sau khủng hoảng tài chính này, các nền kinh tế lớn đã tích cực cải cách hệ thống giám sát tài chính nhằm tăng cường hiệu quả giám sát, kịp thời phát hiện rủi ro và ngăn ngừa việc tái diễn khủng hoảng trong tương lai.

Giám sát tài chính hợp nhất là mô hình được nhiều nước hướng đến nhiều hơn trong số 4 mô hình giám sát (giám sát theo định chế, giám sát theo chức năng, giám sát hợp nhất, giám sát lưỡng đỉnh), với tỷ lệ các nước lựa chọn mô hình này tăng từ 20% vào năm 1996 lên 31% (năm 2011). Số nước lựa chọn mô hình cũng tăng từ 13 nước (năm 1996) lên 36 nước vào năm 2006, 42 nước (năm 2009) và lên 55 nước (năm 2012). Trong đó, các nước tiêu biểu cho lựa chọn mô hình này là: Đức, Thụy Điển, Đan Mạch, Canada, Na Uy, Anh (từ năm 1997 đến tháng 3/2013), Ba Lan (từ năm 1997), Hàn Quốc (từ năm 1999), Hungary (từ năm 2000).

Các nguyên nhân cơ bản lý giải cho xu hướng này là: (i) Kịp thời phản ánh sự phát triển của hệ thống tài chính cũng như hoạt động kinh doanh của các định chế tài chính; (ii) Nâng cao hiệu quả giám sát trong bối cảnh các tập đoàn tài chính được thành lập ngày càng nhiều; (iii) Mô hình giám sát phân tán không thể ứng phó kịp thời và hiệu quả trước những tác động tiêu cực từ các cú sốc bên ngoài đến khu vực tài chính trong nước.

Đọc tiếp »

TRẦN ĐÌNH THIÊN & PHÍ MẠNH HỒNG1

Cơ chế thị trường là một cơ chế kinh tế hiện thực, đã được xác lập một cách vững chắc trong lịch sử phát triển của kinh tế thế giới. Cho đến nay, dù không phải là một cơ chế hoàn hảo, song nó vẫn chứng tỏ được rằng đó là một cơ chế phân bổ nguồn lực, một cơ chế phát triển tốt nhất hiện nay. Một quốc gia dựa trên nền tảng thị trường để phát triển kinh tế có thể không chắc chắn thành công, song một quốc gia không dựa trên thị trường chắc chắn sẽ thất bại trong dài hạn. Môt cách triệt để, đối với sự phát triển hiện đại, phát triển đồng nghĩa với việc xây dựng, phát triển, hoàn thiện nền kinh tế thị trường hiện đại. Kết cục của sự lựa chọn giữa kinh tế thị trường hay kinh tế phi thị trường, về mặt thực tiễn là rõ ràng, với ưu thế rõ rệt, không cần phải tranh cãi của mô hình của kinh tế thị trường. Các kiểu mẫu phát triển khác nhau, sự thành công hay thất bại khác nhau, gắn liền với việc xử lý đúng đắn, hiệu quả, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể về mối quan hệ giữa thị trường và nhà nước với tư cách là 2 phương thức phân bổ nguồn lực khác nhau, có thể bổ sung cho nhau, song cũng có thể triệt tiêu tính hiệu quả của nhau.Thực tiễn trước và sau Đổi mới ở Việt Nam chứng minh rằng: phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế (một thuộc tính phát sinh từ quá trình toàn cầu hoá của nền kinh tế thị trường hiện đại) là lựa chọn không thể tránh né của Việt Nam.

Nền tảng của nền kinh tế thị trường là dựa trên sự xác lập và thực thi phổ biến quyền sở hữu tư nhân về các tài sản (dùng cách diễn đạt "các tài sản" thay cho "các tư liệu sản xuất chủ yếu" như là đối tượng của sở hữu chính xác hơn. Tài sản bao gồm cả tài sản vô hình như tri thức, vốn là thứ đang nổi lên như một nguồn lực hàng đầu quyết định năng lực sáng tạo của cải trong nền kinh tế tri thức). Luận điểm này được thừa nhận phổ biến và được thực tiễn lịch sử kinh tế thế giới chứng minh. Nó cũng từng được C.Mac nêu lên như một trong hai điều kiện cần thiết của sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá. Quyền sở hữu tư nhân được thực thi hàm nghĩa rằng người sở hữu tài sản có quyền khai thác, sử dụng tài sản của mình, được thụ hưởng các kết quả mà mình tạo ra từ tài sản đó. Thừa nhận quyền sở hữu tư nhân có nghĩa là mọi người chỉ có thể có được hàng hoá, tài sản từ người khác phải thông qua trao đổi mua bán, chứ không phải thông qua sự chiếm đoạt. Sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường đối nghịch với các quan hệ kinh tế dựa trên sự lệ thuộc cá nhân của các xã hội tiền tư bản. Nó là hình thái sở hữu tư nhân đích thực, trọn vẹn. Sức sống lâu bền của hệ thống kinh tế thị trường nằm ở chỗ: nó phù hợp với giai đoạn lịch sử mà con người về căn bản còn là những người tư lợi. Họ sản xuất, trao đổi trước hết vì lợi ích cá nhân của mình. Dựa trên nền tảng quyền tư hữu được tôn trọng và bảo vệ, hệ thống này cho phép các cá nhân phát huy được các tiềm năng của mình trong các hoạt động sản xuất trao đổi nhằm tối đa hoá các lợi ích cá nhân. Như A.Smit đã chỉ ra, thông qua cơ chế cạnh tranh và sự lên xuống của giá cả, bàn tay vô hình của thị trường hoá ra lại là "cơ chế tuyệt diệu có thể chuyển hoá các nỗ lực theo đuổi lợi ích riêng của các cá nhân thành các lợi ích của toàn xã hội"2. Tôn trọng và phát huy sức mạnh của lợi ích cá nhân (hiểu theo nghĩa rộng, đó không chỉ là lợi ích vật chất, tiền bạc mà còn bao hàm cả những lợi ích tinh thần mà cá nhân theo đuổi) trên cơ sở xác lập và bảo vệ quyền tư hữu, coi đó là động lực sâu sa chi phối hành vi kinh tế con người – tất cả nhứng điều đó làm nên sức sống năng động và sự thịnh vượng của các nền kinh tế thị trường. "Hệ thống thị trường đã chứng kiến nhiều thay đổi trong hai năm qua, nhưng chế độ tư hữu vẫn tiếp tục đóng vai trò trung tâm. Khi sản xuất và trao đổi ngày càng phức tạp với mức độ chuyên môn hoá và phân công lao động ngày càng cao, quyền tư hữu càng được củng cố chứ không yếu đi trong các nền kinh tế thị trường, và việc thực thi quyền tư hữu ngày càng được mở rộng ở mức độ tinh vi hơn"3.

Đọc tiếp »

PGS, TS. PHẠM DUY NGHĨA

Người ta có thể tranh luận bất tận về các lý thuyết tổ chức quyền lực nhà nước, song sau khi bản Hiến pháp 2013 đã được Quốc hội nước ta thông qua, có lẽ đã tới lúc cần trở về với thực tiễn hành động. Trong khuôn khổ của bản Hiến pháp mới, chính quyền các cấp có thể đổi thay đáng kể được hay không, và nếu có cần cải cách theo những định hướng nào để chính quyền phục vụ người dân và doanh nghiệp được tốt hơn. Bài viết dưới đây xem xét cơ quan quản lý nhà nước như một tổ chức cung ứng dịch vụ công và thảo luận các khả năng tham khảo kinh nghiệm của khu vực tư nhân để cải thiện cách tổ chức và hoạt động của chính quyền.

Nhận diện rõ khách hàng để cung ứng dịch vụ công tốt hơn

Tựa như doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu của khách hàng, cơ quan quản lý nhà nước cũng cung cấp các dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp. Từ trị an, hộ tịch, kinh doanh, cấp phép xây dựng, cho tới đăng ký tài sản, quản lý thị trường, bảm đảm an toàn thực phẩm… phần lớn dịch vụ công thiết yếu được cung cấp cho người dân bởi chính quyền cấp cơ sở (xã, phường, quận, huyện). Rất hiếm khi người dân mới cần tới dịch vụ công của chính quyền cấp tỉnh thành. Khách hàng của nền hành chính cấp tỉnh chủ yếu là doanh nghiệp. Chính quyền trung ương, nếu có duy trì một số dịch vụ công được tổ chức theo ngành dọc như thuế, hải quan, cũng tổ chức hệ thống từ tổng cục tới chi cục như các đại lý bố trí đều khắp ở các khu vực và địa phương.

Như vậy, như một sự phân chia thị trường, thực tiễn phân cấp quản lý nhà nước từ cổ xưa đã phân tách một cách khá tự nhiên đối tượng phục vụ của cơ quan quản lý nhà nước từ cấp phường xã tới cấp tỉnh. Việc phân cấp quản lý ấy tuân theo những nguyên tắc phổ quát đúc rút từ lý thuyết tổ chức của khu vực kinh tế tư nhân, theo đó một dịch vụ cần được quyết định và thực hiện bởi nơi có thông tin đầy đủ nhất, có thể tiến hành dịch vụ với chi phí giao dịch hợp lý nhất. Việc khai sinh, kết hôn, khai tử, thanh tra xây dựng, đo đạc và lập bản đồ địa chính… không cấp nào phù hơn là cấp phường xã. Việc quản lý mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, cấp phù hợp sẽ là chính quyền cấp huyện. Cứ như thế, nếu xác định rõ đối tượng phục vụ (hay phân khúc thị trường), chính quyền từng cấp cần quản trị nguồn lực của mình một cách tương ứng để phục vụ tốt nhất khách hàng.

Đọc tiếp »

ThS. TRẦN VŨ HẢI & HOÀNG MINH THÁI

ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

1. Quan niệm về giám sát tài chính công

Tại Việt Nam và trên thế giới hiện nay, nhận thức về giám sát trong lĩnh vực tài chính công (GSTCC) là không thống nhất. Nếu có định nghĩa thì hầu hết đều tập trung định nghĩa về hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung. Walter J. Oleszek, chuyên gia cao cấp của Chính phủ Mỹ dẫn lại của Joel D. Aberbach (1990) cho rằng: có nhiều khái niệm khác nhau về giám sát tùy thuộc vào các nhà chính trị, trong đó có một khái niệm hẹp đáng chú ý, theo đó giám sát của Quốc hội được hiểu là việc Quốc hội xem xét các hành vi của các cơ quan hành chính liên bang và các chương trình, chính sách mà họ quản lý, bao gồm đánh giá diễn ra trong khi thực hiện cũng như đánh giá sau đó[1]. Trong khi đó, Yamamoto (2007) lại định nghĩa: Giám sát của Quốc hội là việc rà soát, theo dõi và giám sát của chính phủ và các cơ quan công quyền, bao gồm cả việc thực hiện các chính sách và pháp luật. Định nghĩa này tập trung vào mục đích và tính chất của hoạt động giám sát chứ không phải trên các giai đoạn thực hiện[2]. Cụ thể hơn, Karolina Buzaljko và cộng sự (2010) cho rằng mục đích của giám sát tài chính là để xác định trách nhiệm của Chính phủ trong việc sử dụng công quỹ bằng cách phát hiện gian lận, lãng phí, nhằm đảm bảo tính hiệu quả, tiết kiệm trong hoạt động của chính phủ[3].

Qua khảo cứu cho thấy các định nghĩa đều mô tả hoạt động giám sát nói chung, mà hầu như không có định nghĩa riêng về giám sát tài chính. Điều này có lẽ xuất phát từ một vài lý do. Một là, tài chính công tự thân nó đã có những yêu cầu của sự minh bạch, do đó vấn đề giám sát, đánh giá hoạt động tài chính công thường được coi là song hành với nội dung của hoạt động tài chính công. Quy trình quyết định và thực hiện các hoạt động tài chính công đòi hỏi những mối quan hệ khá đa dạng và thường có sự kiểm soát lẫn nhau. Ví dụ: các hoạt động chi tiêu của Chính phủ sẽ do Quốc hội quyết định, hay việc kiểm tra điều kiện thanh toán của đơn vị sử dụng ngân sách sẽ do KBNN thực hiện. Hai là, hoạt động giám sát thường được hiểu là của một chủ thể thứ ba “từ bên trên” thực hiện việc theo dõi, đánh giá và can thiệp để đảm bảo hoạt động nào đó, ví dụ như việc giám sát thị trường ngân hàng, chứng khoán hay bảo hiểm. Với cách hiểu này thì rõ ràng việc GSTCC rất khó được giải thích vì tài chính công là hoạt động của nhà nước, do đó, việc giám sát tài chính cũng là của nhà nước chứ không phải là một chủ thể độc lập nào khác. Chính vì vậy, khi nói đến hoạt động giám sát tài chính, hầu như các nghiên cứu bỏ qua nội dung giám sát trong lĩnh vực tài chính công[4].

Từ những quan niệm khác nhau về GSTCC, có thể đưa ra một số cách tiếp cận theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, GSTCC được hiểu là các phương thức đánh giá từ bên trong và bên ngoài nhằm đảm bảo cho hoạt động tài chính công đạt hiệu quả. Còn theo nghĩa hẹp, GSTCC là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc đảm bảo sự tuân thủ chính sách và pháp luật trong lĩnh vực tài chính công.

Đọc tiếp »

THS. NGUYỄN VĂN THỌ (Vietcombank)

Ths. NGUYỄN NGỌC LINH (Baovietbank)

Luattaichinh: Cách xử lý nợ xấu này, tuy về mặt thực tiễn rất đáng tham khảo, nhưng về ý nghĩa quản trị vốn, thì nó không khác so với mô hình VAMC là bao nhiêu. Tiền thật bao giờ về đến ngân hàng, vẫn luôn là một câu hỏi.

Sau đây là toàn văn nội dung bài viết:

Thời gian qua, hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Vấn đề trọng tâm hiện nay là xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại, bởi nó làm tắc nghẽn dòng tín dụng trong nền kinh tế Việt Nam. Xử lý nợ xấu là bước đi quan trọng trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và có ảnh hưởng không nhỏ đến điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng. Có nhiều biện pháp để TCTD xử lý nợ xấu, tuy nhiên, chuyển nợ thành vốn góp được coi là một trong những biện pháp nhanh chóng, hiệu quả và mang lại lợi ích cho cả người vay và người nợ.

1. Khái niệm nội dung xử lý nợ xấu bằng biện pháp chuyển nợ thành vốn góp

1.1. Khái niệm chuyển nợ thành vốn góp

Chuyển nợ thành vốn góp là việc chủ nợ hoặc tổ chức thay vì thu hồi tiền nợ đã cho doanh nghiệp vay, họ sẽ lấy khoản nợ phải thu đó để “mua” chính cổ phần của doanh nghiệp hoặc một đối tác quan tâm mua lại chính khoản nợ đó từ chủ nợ với giá tương đương hoặc theo thỏa thuận. Khi đó, chủ nợ hoặc người mua nợ sẽ trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp, đầu tư thêm vốn để tái cơ cấu lại toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp từ tổ chức nhân sự đến hoạt động kinh doanh và định hướng phát triển…

1.2. Ưu điểm của biện pháp chuyển nợ thành vốn góp

  – Đối với TCTD: Việc áp dụng biện pháp này sẽ giúp ngân hàng sớm thoát khỏi nợ xấu, “làm đẹp” bản báo cáo tài chính, đồng thời giúp ngân hàng tăng nguồn vốn do vốn vay chuyển thành khoản đầu tư tài chính của ngân hàng.

  – Đối với doanh nghiệp: Việc chuyển nợ thành vốn góp sẽ ngay lập tức giúp doanh nghiệp bỏ áp lực trả nợ cho ngân hàng, có điều kiện khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh từ nguồn cấp vốn của các TCTD hoặc các nguồn vốn đầu tư khác.

  – Đối với nền kinh tế: Việc xử lý nợ xấu theo biện pháp chuyển nợ thành vốn góp sẽ giảm thiểu được những tác động tiêu cực như: doanh nghiệp bị phá sản, người lao động mất việc làm… Biện pháp này không chỉ giúp các TCTD sớm thu hồi được nợ xấu, vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội phục hồi và phát triển.

1.3. Đối tượng áp dụng

Biện pháp chuyển nợ thành vốn góp cổ phần tỏ rõ hiệu quả trong việc xử lý khoản nợ của các doanh nghiệp gặp khó khăn tạm thời trong hoạt động kinh doanh, có đủ thực lực để khôi phục lại hoạt động sản xuất kinh doanh nếu có nguồn vốn hỗ trợ. Các doanh nghiệp này phải có thương hiệu trên thị trường, có hệ thống nhà xưởng, dây chuyền máy móc thiết bị sản xuất kinh doanh, lãnh đạo doanh nghiệp có tâm huyết và thực sự muốn vực dậy doanh nghiệp…

2. Thực trạng hoạt động chuyển nợ thành vốn góp tại Việt Nam

Đọc tiếp »

Việc cho phép dùng nhà ở hình thành trong tương lai để thế chấp vay vốn tại các tổ chức tín dụng (TCTD) sẽ tạo điều kiện cho người dân tiếp cận được nguồn vốn để mua nhà, ổn định chỗ ở. Tuy nhiên, việc thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro nếu không có khung khổ pháp lý đồng bộ. Trong thời gian qua, hoạt động này đã phát sinh nhiều vấn đề do thiếu cơ chế hướng dẫn. Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và đảm bảo an toàn, giảm thiểu rủi ro trong thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai, ngày 25/4/2014, Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Xây dựng đã ký ban hành Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-NHNN-BXD-BTP-BTNMT (Thông tư 01) hướng dẫn thủ tục thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai theo quy định tại Nghị định số 71/2010/NĐ-CP (Nghị định 71) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/6/2014, bao gồm những nội dung cơ bản sau đây.

1. Về phạm vi điều chỉnh của Thông tư 01

Phạm vi điều chỉnh của Thông tư 01 phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 61 Nghị định 71 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. Theo đó, Thông tư 01 hướng dẫn thủ tục thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai bao gồm: (i) thủ tục thế chấp, (ii) thủ tục công chứng hợp đồng thế chấp và (iii) thủ tục đăng ký thế chấp của tổ chức, cá nhân để vay vốn mua chính nhà ở đó hoặc mua nhà ở khác của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (BĐS) trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại TCTD theo quy định tại Khoản 2 Điều 61 của Nghị định 71.

Thông tư 01 không điều chỉnh đối với việc thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai của hộ gia đình, cá nhân được xây dựng trên khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình để vay vốn tại các TCTD.

Như vậy, theo quy định tại Thông tư, tổ chức, cá nhân chỉ được thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai quy định tại Khoản 2 Điều 61 của Nghị định 71 để vay vốn mua chính nhà ở đó hoặc mua nhà ở khác của doanh nghiệp kinh doanh BĐS trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở. Quy định này là phù hợp nhằm đảm bảo nguồn vốn vay được sử dụng tập trung, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển thị trường BĐS và tạo điều kiện cho người dân có cơ hội được sở hữu nhà ở.

2. Về khái niệm nhà ở hình thành trong tương lai

Đọc tiếp »

Luật gia TRẦN VŨ HẢI

Vụ đại án Nguyễn Đức Kiên rất đáng quan tâm nhưng có lẽ cần thêm thời gian để có được thông tin mới có thể bình luận sâu hơn. Cảm nhận ban đầu là: Sự rắc rối của những giao dịch vốn đã được minh chứng trên mái tóc bạc của bầu Kiên chăng?
Ở đây, người viết chỉ bàn đến một điểm: đó là liệu việc mua bán cổ phiếu của một doanh nghiệp có phải là hành vi kinh doanh hay không? Nếu được xem là hành vi kinh doanh, thì việc không đăng ký kinh doanh có bị coi là kinh doanh trái phép?
Hãy bắt đầu bằng một câu hỏi: tại sao Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán không có định nghĩa rõ ràng về nhà đầu tư trong hoạt động mua, bán cổ phần, cổ phiếu (thật ra trong Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán có định nghĩa, nhưng có cũng như không vì không chỉ ra được những đặc trưng bản chất nào.). Có lẽ vì lý do đơn giản: bất cứ ai cũng có quyền đầu tư nên việc đưa ra một định nghĩa chỉ làm cho hạn hẹp quyền đầu tư của các chủ thể này mà thôi.

Đọc tiếp »

HẢI AN

(Tài chính) Phòng chống "rửa tiền" là vấn đề làm đau đầu các nhà chức trách các nước. Mỗi năm bọn tội phạm tiến hành “rửa” từ 1.000-1.500 tỷ USD trên toàn thế giới.

    Vòng quay “rửa tiền” trên thế giới

Mỗi năm bọn tội phạm tiến hành “rửa” từ 1.000-1.500 tỷ USD trên toàn thế giới. Nguồn: Internet

“Rửa tiền" và các tác hại

Thuật ngữ "rửa tiền" lần đầu tiên xuất hiện trên báo chí Mỹ là vào năm 1973 trong vụ bê bối tài chính Watergate nổi tiếng nước Mỹ. Năm năm sau đó thuật ngữ "rửa tiền" chính thức được sử dụng trong một số văn bản pháp lý của tòa án Mỹ. Thuật ngữ này trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần đây bởi tính phổ biến và ảnh hưởng của chúng. Tổ chức chống "rửa tiền" quốc tế (Finance Action Task Force) đã định nghĩa hoạt động của "rửa tiền" là:

• Việc giúp đỡ đối tượng phạm pháp lẩn tránh sự trừng phạt của pháp luật;

• Việc cố ý che giấu nguồn gốc, bản chất, việc cất giấu, di chuyển hay chuyển quyền sở hữu tài sản phạm pháp;

• Việc cố ý mua, sở hữu hay sử dụng tài sản phạm pháp.

Như vậy, hiểu một cách khái quát thì "rửa tiền" là toàn bộ các hoạt động được tiến hành một cách cố ý nhằm hợp pháp hóa tiền và tài sản có nguồn gốc từ tội phạm.

Việc "rửa tiền" thành công sẽ giúp cho các hoạt động phạm tội có thể sinh lợi, để những kẻ tội phạm có thể "hưởng thụ" các thành quả thu được từ các hoạt động tội phạm. Vì vậy, chừng nào một nước còn được coi là nơi ẩn náu an toàn cho hoạt động "rửa tiền" thì khi đó còn có nhiều khả năng nước đó có sức lôi cuốn tội phạm và thúc đẩy tham nhũng.

Tai tiếng về một nơi ẩn náu an toàn cho "rửa tiền" và tài trợ cho khủng bố cũng đã có thể gây ra những hậu quả bất lợi đáng kể cho sự phát triển của một đất nước. Các tổ chức tài chính nước ngoài có thể quyết định hạn chế các giao dịch của mình với những tổ chức là nơi ẩn náu an toàn cho "rửa tiền"; buộc những giao dịch như vậy phải qua sự kiểm soát gắt gao hơn, khiến cho chúng thêm tốn kém hoặc chấm dứt hoàn toàn các mối quan hệ giao dịch hay vay mượn. Ngay cả các doanh nghiệp hợp pháp lẫn những doanh nghiệp là nơi ẩn náu an toàn cho "rửa tiền" cũng có thể bị giảm khả năng tiếp cận các thị trường thế giới hoặc phải tiếp cận với chi phí cao hơn do phải chịu sự kiểm soát gắt gao hơn về quyền sở hữu, các hệ thống tổ chức và kiểm soát.

Ở các nước đang phát triển, lĩnh vực tài chính mới được tư nhân hóa và chính phủ vẫn trong quá trình xây dựng luật lệ quản lý nên họ dễ trở thành mục tiêu và phải gánh chịu tác động nặng nề của hoạt động rửa tiền thời toàn cầu hóa.

"Rửa tiền" và tài trợ cho khủng bố có thể gây nguy hại theo nhiều cách cho sự lành mạnh của khu vực tài chính của một đất nước cũng như cho sự ổn định của từng tổ chức tài chính. Những hậu quả tai hại đó được coi là rủi ro đối với uy tín, nghiệp vụ, pháp lý và rủi ro tập trung đều có mối quan hệ qua lại với nhau. Mỗi rủi ro đều gây ra những chi phí cụ thể: Mất đi hoạt động kinh doanh sinh lợi; Những vấn đề về tính thanh khoản do việc rút tiền gây ra; Giảm giá trị cổ phiếu của các tổ chức tài chính…

Bên cạnh đó, những kẻ "rửa tiền" khét tiếng là những kẻ biết sử dụng “các công ty bình phong”- là những doanh nghiệp có vẻ bề ngoài hợp pháp và tham gia vào hoạt động kinh doanh hợp pháp nhưng trên thực tế lại do bọn tội phạm kiểm soát.

Những công ty bình phong này hòa trộn các quỹ phi pháp với các quỹ hợp pháp để che giấu những khoản tiền bất chính. Khả năng tiếp cận của các công ty bình phong tới những quỹ phi pháp cho phép chúng bao cấp các sản phẩm và dịch vụ của công ty, thậm chí với giá thấp hơn giá thị trường. Do vậy, các doanh nghiệp hợp pháp sẽ khó cạnh tranh với những công ty bình phong khi mục tiêu duy nhất của chúng là bảo toàn và bảo vệ những khoản tiền bất hợp pháp chứ không phải để tạo một ra bất cứ khoản lợi nhuận nào.

Điều này cũng làm tăng sự bất ổn định tiềm tàng về khía cạnh tiền tệ và kinh tế do sự phân bổ sai lệch các nguồn lực bắt nguồn từ tình trạng méo mó giả tạo của giá tài sản và hàng hóa. Nó cũng tạo ra một cơ chế cho trốn thuế, từ đó làm cạn kiệt nguồn thu của đất nước.

Hậu quả kinh tế của các hành vi “rửa tiền” có thể nghiêm trọng hơn. Trong những năm 90 của thế kỷ trước nhiều ngân hàng ở các nước vùng Baltic đã sụp đổ vì khách hàng lo lắng đến rút hết tiền do nghe tin đồn lan rộng về những khoản tiền bẩn rất lớn gửi vào ngân hàng.

Vòng quay "rửa tiền"

Đọc tiếp »

Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Bảo Hiểm

Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường trong các phân ngành dịch vụ bảo hiểm sau:

  • Bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm y tế);
  • Bảo hiểm phi nhân thọ;
  • Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;
  • Trung gian bảo hiểm (môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm);
  • Các dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường).

Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có thể thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam theo những hình thức nào?

Theo cam kết trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm, các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài được quyền hiện diện ở Việt Nam dưới các hình thức:

  1. Văn phòng đại diện (tuy nhiên các văn phòng đại diện không được phép kinh doanh sinh lời trực tiếp);
  2. Liên doanh với đối tác Việt Nam;
  3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (với những hạn chế về loại dịch vụ được phép cung cấp theo lộ trình);
  4. Chi nhánh (với điều kiện mở sau 11/1/2012 và chi nhánh chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ).

Hộp 1 – Hạn chế về loại dịch vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài được phép cung cấp
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc, bao gồm:
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba;
- Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt;
- Bảo hiểm các công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường.
Cũng theo cam kết thì tất cả các hạn chế này phải được bãi bỏ từ ngày 1/1/2008.

Tỷ lệ góp vốn tối đa dưới hình thức mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam là bao nhiêu?

Đọc tiếp »

Luật gia TRẦN VŨ HẢI

Hôm nay, bên cạnh những diễn biến Biển Đông, chương trình thời sự VTV1 có nói đến ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch nước trong việc giải quyết vụ đại án Huỳnh Thị Huyền Như ở giai đoạn phúc thẩm.
Về vụ án này, mình đã từng có ý kiến ở nhiều buổi giảng cho các học viên.
Với những bằng chứng có được đến thời điểm này, theo mình thì việc xử Huỳnh Thị Huyền Như là đúng người, đúng tội. Nhưng hậu quả dân sự thì không đúng.
Đối với những hợp đồng tiền gửi của khách hàng đã được Vietinbank xác nhận, thì khoản tiền đó là thuộc sở hữu của Vietinbank. Về bản chất quan hệ pháp luật dân sự, khách hàng cho ngân hàng vay tiền thông qua hợp đồng tiền gửi, và theo quy định của Bộ luật Dân sự thì người vay là chủ sở hữu của tài sản vay. Do đó, Huỳnh Thị Huyền Như đã lừa đảo Viettinbank khi chiếm đoạt những khoản tiền đó chứ không phải là lừa đảo khách hàng của Vietinbank. "Tài khoản" chỉ là khái niệm về công cụ ghi chép nhằm xác nhận trách nhiệm của Vietinbank đối với người gửi tiền, chứ nó không phải là tài sản.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 5-2014

VÁN CỜ ĐÔNG BẮC

Nguyên lý chơi cờ khá đơn giản: bạn và đối thủ phải tôn trọng luật chơi.
Nếu đối thủ không tôn trọng luật chơi, họ sẽ không dành được sự ủng hộ của những người chơi khác.

Nhưng nếu đối thủ không tôn trọng luật chơi chung, mà bạn cũng không tôn trọng luật chơi mà bạn đã quen thuộc, thì bạn sẽ ít có cơ hội thắng, nhất là khi đối thủ có khả năng áp đặt luật chơi khác.

Nếu bạn chơi giỏi, bạn phải phán đoán được đối thủ tiếp theo sẽ đi nước cờ nào để có nước đi tiếp theo phù hợp.

Nếu đối thủ của bạn chơi cũng giỏi, thậm chí còn giỏi hơn bạn, thì việc bạn bộc lộ rõ chiến thuật và nước đi đôi khi lại có lợi, vì khi đó ta sẽ không bị cuốn vào lối chơi của họ và đồng thời đối phương sẽ hiểu ra trước khi đi những nước cờ nguy hiểm cho chính bản thân họ.

Khi bạn ít quân hơn trên bàn cờ, việc chơi quá nhanh sẽ nguy hiểm. Đôi khi, đối thủ sẽ bối rối nếu bạn được nhiều người cổ vũ, và những người đó sẽ cùng bạn tìm ra nước cờ hay. Họ cũng muốn bạn thắng, vì nếu bạn thua, họ sẽ là người phải chơi tiếp theo.

Đôi khi, trong một ván cờ giữa hai cao cờ, bàn cờ giữa hai người cũng chỉ là một quân cờ hoặc là một nước cờ thôi, của một bàn cờ lớn hơn!

PHÁT NGÔN ẤN TƯỢNG

“Vinashin đã là thảm họa. Nhưng nguồn gốc thảm họa là Vinacho, và bên cạnh là Vinachia. Đấy là sự thỏa hiệp ngầm, thỏa hiệp đen để bòn rút tài sản của nhà nước”

ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC - ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Tám 2014
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 7    
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,088,107 lượt

RSS Tin tức kinh tế

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 124 other followers