Chào các bạn sinh viên khóa 34 đang theo học môn Luật Kinh doanh bảo hiểm do Bộ môn Luật TCNH đảm nhiệm.
Tuần qua, tôi nhận được nhiều câu hỏi về việc đề thi năm nay có cấu trúc như thế nào, có được sử dụng tài liệu vào hay không, v.v..
Những thắc mắc của các bạn là chính đáng.
Vì hiện nay chưa có quy chế về việc bộ môn cần phải công bố cấu trúc đề thi cho người học biết, nên rất xin lỗi là tôi không thể thay mặt các bạn đề nghị Bộ môn trả lời các bạn vấn đề này.
Tuy nhiên, tôi có thể có một vài lời khuyên sau đây dành cho các bạn:
- Hãy sẵn sàng cho tình huống “xấu nhất” là đề thi không được sử dụng tài liệu. Thực ra, đề thi dạng này không đáng sợ như các bạn nghĩ, vì người ra đề đương nhiên biết được khó khăn của các bạn là không được sử dụng tài liệu, vì thế sẽ có cách ra đề phù hợp.
- Những nội dung lý thuyết thường tập trung vào việc so sánh, phân biệt những khái niệm tương tự nhau. Tuy nhiên, nếu để đảm bảo nội dung kiểm tra được mở rộng, sự lựa chọn thường là câu hỏi trắc nghiệm. Các bạn đã quen với những dạng câu hỏi này, nên không có gì cần lo lắng quá.
- Thông thường, những đề thi LKDBH trước đây đều có bài tập, để đánh giá khả năng vận dụng của người học vào một tình huống cụ thể. Các bạn hãy nghiên cứu kỹ về HĐBH và các chế độ bảo hiểm theo quy định của LKDBH năm 2000 (sửa đổi) tbì hoàn toàn có thể làm được.
- Và cuối cùng, nếu các bạn có kiến thức chắc chắn, ôn tập tốt, sức khỏe đảm bảo thì đề thi dạng nào cũng vậy thôi!
Chúc các bạn thi tốt!
Cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước, cuộc khủng hoảng tài chính tại Châu Á đã gây ra hậu quả nặng nề cho thị trường tài chính các nước trong khu vực, trong đó có Trung Quốc. Để xây dựng lại thị trường tài chính lành mạnh và ổn định hơn, từ năm 1997, Trung Quốc đã thực hiện cải tổ hệ thống ngân hàng mạnh mẽ. Bài viết xin giới thiệu một số kinh nghiệm từ công cuộc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Trung Quốc.
Nhiệm vụ quan trọng của chương trình cải cách tài chính năm 1997 tại Trung Quốc là tái cơ cấu các định chế tài chính đang gặp khó khăn thanh khoản, bị thua lỗ và mất khả năng thanh toán, nhằm giảm thiểu rủi ro tài chính và tìm ra các biện pháp cho phép các định chế tài chính yếu kém nhất rút ra khỏi thị trường. Do vậy, công cuộc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng không chỉ hướng đến các ngân hàng thương mại (NHTM) mà bao gồm cả các định chế tài chính phi ngân hàng như các công ty ủy thác và đầu tư, các hợp tác xã tín dụng nông thôn/thành thị. Trung Quốc đã thực hiện 05 biện pháp trong công cuộc cải tổ này, bao gồm: tăng vốn; chuyển đổi nợ thành vốn góp; sáp nhập, xử lý các khoản nợ khó đòi; đóng cửa, cho phá sản một số định chế tài chính mất khả năng thanh toán.
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, khi nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển, thì nhu cầu phòng tránh rủi ro của các cá nhân, tổ chức cũng tăng lên, do đó thị trường bảo hiểm cũng phát triển theo nhằm thỏa mãn nhu cầu đó. Khi thị trường bảo hiểm càng phát triển càng mạnh thì kéo theo nó là các tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm diễn ra càng nhiều. Nhằm giải quyết các tranh chấp hợp đồng bảo hiểm có thể xảy ra, pháp luật Việt Nam hiện hành cũng đã quy định khá rõ ràng cả về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, tranh chấp hợp đồng bảo hiểm vẫn là hiện tượng diễn ra phổ biến trong thị trường bảo hiểm hiện nay. Khi thị trường bảo hiểm càng phát triển thì số lượng các vụ tranh chấp bảo hiểm càng diễn ra nhiều hơn và phức tạp hơn. Trong phạm vi bài viết này chúng em xin tìm hiểu về thực trạng tranh chấp hợp đồng bảo hiểm, từ đó chỉ ra những nguyên nhân cơ bản và đề xuất giải pháp để hạn chế tranh chấp.
Trong khi làm bài tập thì nhóm đã tham khảo rất nhiều các tài liệu trên internet, có các vụ việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm cụ thể để từ đó đưa ra các nhận xét. Tuy nhiên, chưa có một số liệu thống kê cụ thẻ là hàng năm có bao nhiêu các tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm xảy ra nên khó đánh giá được tình hình tranh chấp qua các năm.
A. Giới thiệu vấn đề
Hợp đồng được kí kết giữa các bên trong hợp tác kinh doanh ngày càng trở nên phổ biến trong thời buổi kinh tế thị trường. Tuy nhiên sau khi kí kết hợp đồng, nếu các bên không tuân thủ theo các cam kết trong hợp đồng thì sẽ phát sinh tranh chấp. Hợp đồng bảo hiểm cũng không nằm ngoài xu hướng này. Ở nước ta hiện nay tranh chấp hợp đồng bảo hiểm không phải là hiện tượng hiếm gặp và có xu hướng tăng về số lượng và tính chất phức tạp. Nắm bắt nguyên nhân hiện tượng và ngăn chặn tranh chấp ngay từ đầu thay vì giải quyết hậu quả vụ việc là mục tiêu mà Nhà nước cũng như các doanh nghiệp bảo hiểm hướng tới. Xuất phát từ nhận thức đó, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu về thực trạng tranh chấp hợp đồng bảo hiểm từ đó chỉ ra những nguyên nhân cơ bản và đề xuất giải pháp để hạn chế tranh chấp”
Trong quá trình thực hiện, tinh thần làm việc tập thể của các thành viên và sự hướng dẫn của thầy (cô) là những thuận lợi cơ bản của nhóm. Nhưng do thực tiễn tranh chấp hợp đồng bảo hiểm khá phức tạp, thường tồn tại ở các dạng vụ việc cụ thể và khả năng đánh giá tổng quan cũng như kiến thức của chúng em còn hạn chế nên bài làm còn nhiều thiếu sót. Chúng em mong nhận được sự góp ý của thầy (cô) để giúp chúng em hoàn thiện hơn về kiến thức trong lĩnh vực bảo hiểm nói chung và tranh chấp hợp đồng bảo hiểm nói riêng.
LỜI MỞ ĐẦU.
Trong những năm gần đây, sau khi chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã nghiêm túc thực hiện các cam kết của mình trong tất cả các lĩnh vực… Sự nghiêm túc của Việt Nam được các thành viên WTO và cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước đánh giá cao và đó cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần tạo ra kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài đầy ấn tượng. Tuy nhiên, như ở nhiều thành viên mới gia nhập WTO khác, quá trình thực thi cam kết ở Việt Nam cũng đã gặp một số vướng mắc gây khó khăn không nhỏ cho doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước hữu quan. Những vướng mắc này chủ yếu phát sinh trong lĩnh vực dịch vụ, một lĩnh vực còn khá mới và hết sức phức tạp. Với mong muốn giúp mọi người hiểu rõ hơn về những cam kết của Việt Nam trong dịch vụ bảo hiểm, cũng như có những biện pháp thiết thực để đưa những cam kết này được thực thi có hiệu quả, nhóm số 10 đã chọn đề tài: Tìm hiểu các cam kết của Việt Nam khi
gia nhập WTO về tự do hóa dịch vụ bảo hiểm và đánh giá về việc nội luật hóa các cam kết này trong Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) làm bài tập nhóm tháng số 01 của mình.
Trong quá trình nghiên cứu làm việc nhóm, có những thuận lợi và cũng không ít khó khăn. Điểm thuận lợi là các cam kết của Việt Nam trong WTO đã được trình bày khá cụ thể trong Biểu cam kết về thương mại dịch vụ; hơn nữa cũng đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu, các số liệu thực tế xoay quanh vấn đề này. Đó là nguồn tài liệu vô cùng quý giá cho bài viết này. Tuy nhiên, vấn đề nội luật hóa các cam kết trong Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi – là một luật rất mới, lại đem lại nhiều khó khăn, do luật còn rất mới nên thực tiễn thực hiện chưa nhiều, khó nắm bắt được những điểm còn hạn chế, vướng mắc của luật. Do đó, xung quanh vấn đề này, nhóm chỉ xin đưa ra một số quan điểm riêng của mình.
A. Lý do lựa chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, sự ra đời của hàng loạt các công ty bảo hiểm làm thị trường bảo hiểm trở nên cực kì sôi động. Mỗi công ty lại đưa ra những phương châm và cách thức hoạt động khác nhau để có thể dễ dàng tiếp cận thị
trường và tăng doanh thu. Tuy nhiên, không nằm ngoài quy luật chung, tất cả các công ti này đều có nhu cầu hợp tác trao đổi kinh nghiệm với nhau, giúp nhau cùng phát triển. Hơn nữa, trong quá trình kinh doanh những tranh chấp phát sinh là không tránh khỏi. Vì vậy các doanh nghiệp bảo hiểm cần có một tiếng nói chung để đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và có thể đứng ra dàn xếp các lợi ích giữa các công ti bảo hiểm nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng cho khách hàng. Bởi vậy, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam ra đời với tư cách là tổ chức tự nguyện xã hội – nghề nghiệp của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên, hợp tác và phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam. Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đóng một vai trò to lớn trong việc phát triển ngành bảo hiểm của Việt Nam. Tuy nhiên, còn rất nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về Hiệp hội bảo hiểm cần được nghiên cứu, bởi không phải ai cũng biết đến sự tồn tại của Hiệp hội này. Để hiểu thêm một phần nào đó về Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam chúng em đã lựa chọn đề tài “Tìm hiểu về Hiệp Hội bảo hiểm Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của tổ chức này trong việc giám sát thị trường bảo hiểm”.
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Bảo hiểm là một lĩnh vực tài chính, một lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn sâu. Việc cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm tác động rất lớn đến sự phát triển của dịch vụ tài chính – ngân hàng – bảo hiểm. Để có thể chiếm lĩnh thị trường, các công ty bảo hiểm tuyển người tư vấn ồ ạt, đào tạo chuyên môn ngắn hạn. Do đó chất lượng không đáp ứng được đòi hỏi khắt khe của khách hàng. Khác với những hàng hoá cụ thể, sản phẩm bảo hiểm là sự đảm bảo cho những rủi ro được dự đoán về sau này, sản phẩm bảo hiểm có đặc trưng là không thể cảm nhận được. Vì vậy, người yêu cầu bảo hiểm thường không hiểu rõ về lợi và hại, cái hay và dở của sản phẩm bảo hiểm. Khi đó, sự xuất hiện của những nhà môi giới bảo hiểm có những tác động tích cực trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm để giúp tránh xảy ra những tình trạng bất lợi cho người tham gia bảo hiểm. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, trong bài viết sau nhóm em đi sâu phân tích thực tiễn hoạt động môi giới bảo hiểm ở Việt Nam và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM VÀ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI BẢO HIỂM.
1. Về kinh doanh bảo hiểm.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm thì kin
h doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm được điều chỉnh bởi Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản có liên quan như Luật doanh nghiệp, Nghị định 45/2007/ NĐ – CP, Nghị định 46/2007/ NĐ – CP ….
Trong những tháng đầu năm 2012, mặc dù còn nhiều khó khăn do tác động từ bên ngoài và ngay từ trong nước, nhưng nhờ xác định đúng mục tiêu và triển khai tổ chức thực hiện chủ động, tích cực, có hiệu quả các cơ chế, chính sách, giải pháp phù hợp cùng với sự phấn đấu, nỗ lực của các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội, nền kinh tế nước ta đã đạt được những kết quả tích cực bước đầu. Lạm phát kiềm chế ở mức thấp; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; an sinh xã hội được bảo đảm. Tuy nhiên, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn; sức mua của thị trường giảm; nền kinh tế tuy có tăng trưởng nhưng tốc độ tăng thấp hơn so với cùng kỳ năm 2011. Vì vậy, tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh gắn với hỗ trợ phát triển thị trường nhưng vẫn nhất quán trong việc thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh đang là nhiệm vụ trọng tâm trong chỉ đạo điều hành của Chính phủ để bảo đảm thực hiện đạt mức cao nhất các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2012 đã đề ra.
TS. ALAN PHAN
Các “người dân thường” cũng có đầy những khôn ngoan hiểu biết không kém gì các đại trí giả trong tháp ngà. Họ lại có thêm cái dũng khí là dám làm dám thua, nên ít hoang tưởng về những giả thuyết chỉ đẹp trên giấy tờ. Do đó, các bạn trẻ đừng để các giáo sư khoa bảng hù dọa vối những giả thuyết mù mờ; cũng như đừng để các chánh trị gia phù phép với những hoang tưởng bịa đặt. Sự thật rất đơn giản.
Vài chục năm trước tôi mất khá nhiều thì giờ nghiền ngẫm những bài nghiên cứu phân tích rất công phu của các tiền bối trong giới hàn lâm về kinh tế. Dĩ nhiên, mỗi người một kiểu, mỗi vị một góc nhìn, tên tuổi càng cao thì bài viết càng khô khan, phức tạp. Ai cũng cố gắng thể hiện đẳng cấp, trong một sân chơi đầy thiên tài và những luật lệ khắt khe.
Sau khi sống sót trong môi trường đó một cách chật vật, tôi từ giã học đường, ra ngoài kinh doanh và nhận thấy các “người dân thường” cũng có đầy những khôn ngoan hiểu biết không kém gì các đại trí giả trong tháp ngà. Họ lại có thêm cái dũng khí là dám làm dám thua, nên ít hoang tưởng về những giả thuyết chỉ đẹp trên giấy tờ.
Họ không có những ngôn từ hoa mỹ khó hiểu để “làm dáng trí thức”, do đó, cái mộc mạc của tư duy họ thấm đậm vào tri thức dễ dàng hơn, sống động hơn. Thêm vào đó, những khôn ngoan này đã được truyền lại từ cha ông và được minh chứng qua bao thời đại lich sử. Tôi gọi chúng là các nguyên lý bất diệt của một nền kinh tế thực.
luattaichinh: doanh nghiệp lỗ nặng do nền kinh tế suy thoái, trong khi lãi vay là chi phí không thể thiếu. nhnn đưa ra mức khống chế lãi suất huy động nhưng tỏ ra bất lực khi khống chế lãi suất cho vay. dòng tiền vốn từ người gửi tiền đến người vay tiền dường đang bị rò rỉ quá nhiều. có lẽ đã đến lúc gióng lên hồi chuông về đạo đức kinh doanh.
Hằng năm, thành viên HĐQT và ban kiểm soát của nhiều ngân hàng thương mại được trả hàng tỷ đồng mỗi người. Tuy nhiên, không phải toàn bộ số tiền đó là thu nhập thực sự của họ.
Năm 2012, Eximbank nâng tổng mức thù lao hội đồng quản trị (HĐQT) và ban kiểm soát từ 1% lên 1,5% lợi nhuận sau thuế. Kế hoạch lợi nhuận trước thuế của Eximbank là 4.600 tỷ đồng (sau thuế trên 3.400 tỷ), tổng số tiền chi trả là gần 52 tỷ đồng. Phân bổ cho 13 thành viên HĐQT và ban kiểm soát, mỗi người nhận xấp xỉ 4 tỷ đồng.
11 thành viên HĐQT và ban kiểm soát LienVietPostBank cũng hứa hẹn sẽ nhận thù lao cao hơn 4 tỷ đồng trong năm 2012, với phương án chi 45 tỷ đồng được thông qua tại đại hội cổ đông.
Với Techcombank, con số này là 22,4 tỷ đồng dành cho chi trả thù lao cố định; tính trung bình, mỗi thành viên sẽ nhận trên 2 tỷ đồng. Năm 2011, thù lao cố định cho HĐQT và ban kiểm soát chỉ hơn 10 tỷ đồng.

Mỗi thành viên HĐQT và ban kiểm soát có thù lao hàng tỷ đồng mỗi năm. Ảnh minh họa: Hoàng Hà
Còn tại Ngân hàng Quốc tế (VIB), thù lao đề xuất là 1% lợi nhuận trước thuế và không thấp hơn 13,3 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế năm 2012 VIB đặt ra là trên 1.700 tỷ đồng. Do đó, số thù lao mà mỗi thành viên HĐQT và ban kiểm soát nhận được năm 2012 là hơn 1,5 tỷ đồng; trường hợp xấu nhất là 1,2 tỷ đồng.
Giao dịch bảo đảm là giao dịch dự phòng do các bên chủ thể thỏa thuận để bảo đảm lợi ích của bên có quyền bằng cách cho phép bên có quyền được xử lý những tài sản thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ để khấu trừ giá trị nghĩa vụ trong trường hợp nghĩa vụ đó bị vi phạm.
Trong 07 biện pháp bảo đảm (theo Đ 318 của Bộ Luật dân sự 2005) gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký quỹ, ký cược, bảo lãnh, tín chấp thì biện pháp thế chấp tài sản được tôn vinh là “nữ hoàng” của các biện pháp bảo đảm (BPBĐ). Khoản 1, Điều 432 BLDS 2005 quy định: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”. Thế chấp tài sản được lựa chọn làm BPBĐ của hầu hết các giao dịch dân sự, đặc biệt là trong các quan hệ tín dụng. Nếu như trong BPBĐ cầm cố tài sản, bên có nghĩa vụ phải “giao tài sản” cho bên có quyền thì trong quan hệ thế chấp, bên bảo đảm chỉ “dùng tài sản để bảo đảm” mà “không chuyển giao tài sản đó” cho bên có quyền. Dùng tài sản để bảo đảm mà không phải chuyển giao mà lợi ích của các bên trong quan hệ vẫn đạt được là 1 giải pháp tuyệt vời hữu hiệu chỉ có ở biện pháp thế chấp tài sản. Tài sản bảo đảm được coi là phao cứu sinh của hoạt động ngân hàng, bảo đảm ngân hàng có thể thu hồi ít nhất là vốn gốc khi rủi ro khách hàng không trả được nợ xảy ra. Phần lớn tài sản bảo đảm của ngân hàng là quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là nhà đất). Tuy nhiên, thực tế hoạt động ngân hàng cho thấy, có muôn ngàn lý do làm cho quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất, vốn là tài sản bảo đảm trở thành không bảo đảm, khiến khoản nợ xấu của ngân hàng tăng vọt trong thời gian gần đây. Để phòng ngừa và góp phần làm giảm bớt các rủi ro, nợ xấu của ngân hàng, tác giả tập trung trình bày 04 vấn đề cơ bản khi thẩm định hồ sơ pháp lý của giao dịch bảo đảm bằng biện pháp thế chấp tài sản.
Vấn đề thứ nhất: Thẩm định về nhân thân của người tham gia ký kết hợp đồng thế chấp tài sản.
TRẦN SĨ CHƯƠNG
Ngân hàng được xem là một ngành huyết mạch trong nền kinh tế của một quốc gia. Do đó, hiển nhiên bất cứ sai lầm nào trong hệ thống ngân hàng đều sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự suy thoái kinh tế.
Theo báo cáo của các ngân hàng tại Việt Nam mức doanh thu lợi nhuận đạt được hằng năm vẫn đạt con số kỷ lục, nhưng thực tế thì thời gian gần đây, việc giải thể và sáp nhập hàng loạt các ngân hàng cho thấy hệ thống tài chính ngân hàng của chúng ta đang thực sự "có vấn đề". Điều này không chỉ thể hiện qua thực tế còn quá nhiều ngân hàng yếu kém dẫn đến tình trạng nợ xấu tràn lan, mà quan trọng hơn nữa, đó là dấu hiệu của một sai lầm vô cùng nghiêm trọng xuất hiện khá lâu và có thể đưa đến hậu quả là sụp đổ toàn diện hệ thống ngân hàng của cả một đất nước. Bởi bắt nguồn từ chính sự nhập nhằng giữa hoạt động ngân hàng thương mại (NHTM) và ngân hàng đầu tư (NHĐT), nên hệ thống ngân hàng phải chấp nhận mức độ rủi ro quá cao, dễ bị ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh tế hoặc những biến động trong cũng như ngoài nước.
Chúng ta cần nhận thức được sự khác biệt giữa hai hệ thống ngân hàng này để làm rõ vấn đề. Thông thường, NHTM là một phần quan trọng của cột sống kinh tế. Bởi đây là nơi đa số người dân ký gửi thu nhập thường xuyên cũng như tiền gửi tiết kiệm của họ. Với tâm lý của người lao động thích "ăn chắc mặc bền" cho nên kỳ vọng ưu tiên chính là sự an toàn của đồng tiền ký gửi, cộng thêm một khoản lãi suất khiêm tốn để đồng tiền của họ không bị mất giá nhiều do lạm phát.
THANH HIỀN (vneconomy.vn)
Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính đã ban hành một loạt chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế. Mục đích là phối hợp để tạo ra tác động cộng hưởng tích cực. Thế nhưng, chưa có một báo cáo cụ thể nào về việc phối hợp trên đã tích cực đến đâu.
Hội thảo khoa học “Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều tiết kinh tế vĩ mô” do Viện Chiến lược và Chính sách tài chính cùng Viện Chiến lược Ngân hàng tổ chức diễn ra sáng 11/5 chỉ cung cấp một phần trong rất nhiều đáp án đang còn bỏ ngỏ cho câu hỏi trên.
Ông Đào Minh Tú, Chánh Văn phòng Ngân hàng Nhà nước nhận định việc một số ý kiến cho rằng hai chính sách thiếu đồng bộ “quay lưng vào nhau” là chưa phản ánh chính xác tình hình. Mặc dù vẫn còn một số điểm chưa nhịp nhàng, nhưng về cơ bản hai chính sách đã phối hợp khá chặt chẽ thời gian qua.
Ông Tú cho rằng Việt Nam có cơ sở rất thuận lợi để đồng bộ hóa hai chính sách khi Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính đều là cơ quan trực thuộc Chính phủ, do Chính phủ điều hành.
Cụ thể, chính sách tài khóa và tiền tệ thời gian qua đã cùng song hành trong mục tiêu ngăn chặn đà suy thoái theo chỉ đạo chung. Tuy nhiên, vị đại diện cơ quan điều hành chính sách tiền tệ thừa nhận rằng liều lượng và mức độ sử dụng vẫn chưa đủ để tạo ra sức mạnh kết hợp tổng thể. Điều này thể hiện rõ qua quá trình thực thi.
Đơn cử như, trong khi lãi suất giảm để hỗ trợ doanh nghiệp thì cùng lúc giá xăng, điện lại tăng; hay khi tín dụng được nới rộng thì những chính sách tài khóa lại chưa theo kịp để phát triển đầu tư… Những tác động nhiều chiều như vậy khiến doanh nghiệp rất khó xoay trở.
I. TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ XÃ HỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN BẢO HIỂM
Năm 2011 nền kinh tế xã hội Việt Nam gặp nhiều khó khăn do lạm phát cao và ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng vẫn đảm bảo tăng trưởng GDP 5,89%, trong đó nông lâm ngư nghiệp tăng 4%, công nghiệp và xây dựng tăng 5,53%, dịch vụ tăng 6,99%. Đầu tư toàn xã hội 877,9 nghìn tỉ đồng tăng 5,7% bằng 34,6% GDP, thu ngân sách 674,5 nghìn tỉ đồng tăng 20,6%, dư nợ tín dụng tăng 12%, xuất khẩu đạt 96,3 tỉ USD tăng 33,3%, nhập khẩu đạt 105,8 tỉ đồng tăng 24,7%, FDI đạt 11 tỉ USD. Đó là điều kiện thuận lợi để tăng nhu cầu bảo hiểm tác động tới sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Song những khó khăn thách thức tác động tới ngành bảo hiểm không nhỏ. Chỉ số giá cả tăng 18,13% trong đó giá cả hàng tiêu dùng thiết yếu có nhóm tăng từ 50% đến 100% ảnh hưởng đời sống xã hội làm giảm số tiền tiết kiệm trong dân cư, giảm khả năng tham gia bảo hiểm hoặc duy trì hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đối với người trước đây có thu nhập trung bình trở xuống, làm tăng chi phí bồi thường của bảo hiểm phi nhân thọ. Năm 2011 Nghị quyết của Chính phủ thực hiện thắt chặt tín dụng, thắt chặt chi tiêu và đầu tư công đã giảm nhu cầu bảo hiểm tài sản, xây dựng lắp đặt và tài sản mới mua.
Khả năng chuyển giao rủi ro là nhân tố quyết định trong sự phát triển kinh tế của một xã hội và khung pháp lý mà các nhà chức trách thiết lập nên chính là nền tảng quan trọng cho sự phát triển của bảo hiểm. Ông Ludger Arnoldussen từ Munich Re cho rằng sự kết nối chặt chẽ giữa quản lý rủi ro và các yêu cầu về vốn sẽ đảm bảo cho các DNBH đủ khả năng chi trả ngay cả khi xảy ra tổn thất cực lớn, từ đó củng cố lòng tin của các chủ hợp đồng, một điều hết sức cần thiết ở thị trường bảo hiểm Châu Á đang phát triển và nổi bật – nơi mà người dân chỉ bỏ tiền ra mua bảo hiểm nếu họ chắc chắn rằng DNBH đó có đủ khả năng trả tiền bồi thường bảo hiểm.
Mặc dù ngành bảo hiểm Châu Á bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ những năm 1990, sự phát triển đó không trải đều trên khắp khu vực và trên khắp các quốc gia. Trong khi phí bảo hiểm được điều chỉnh theo tỉ lệ lạm phát ở Nhật Bản là không thay đổi trong 10 năm qua thì mức phí ở Indonesia và Ấn Độ đã tăng gấp đôi, dù là từ một mức thấp hơn khá nhiều, và đến năm 2010, phí bảo hiểm ở Trung Quốc đã tăng gấp 6 lần so với năm 2000 trên cơ sở đã điều chỉnh theo tỉ lệ lạm phát.
Phòng nghiên cứu kinh tế của Munich Re ước tính rằng Trung Quốc sẽ trở thành nước có doanh thu phí bảo hiểm cao thứ 3 thế giới vào năm 2015. Không chỉ có phí bảo hiểm mà cả mức độ thâm nhập của bảo hiểm và mật độ người dân có bảo hiểm cũng tăng lên từng năm, mặc dù mật độ người dân có bảo hiểm vẫn còn ở mức thấp. Đây là một điểm rất quan trọng đặc biệt là với khu vực có nguy cơ cao về thảm họa thiên nhiên. Chuyển giao rủi ro có thể đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nền kinh tế và việc đánh giá rủi ro cũng góp phần giúp định giá được rủi ro từ đó đem lại lợi ích cho tổng thể nền kinh tế.
Sự tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm tại các khu vực này là tùy thuộc vào mức tăng mạnh các tài sản hữu hình và mức tăng thu nhập đang ngày càng được lan rộng. Vì vậy, sự tăng trưởng của thị trường bảo hiểm gắn liền với sự thịnh vượng mà sự thịnh vượng đó có thể bị đe dọa bởi những sự kiện thảm họa thiên nhiên nghiêm trọng. Các giải pháp chuyển giao rủi ro liên quan đến những thảm họa thiên nhiên có thể rất hiệu quả nhưng chưa được sử dụng đúng mức để đảm bảo cho sự phát triển bền vững.






