You are currently browsing the tag archive for the ‘ngân sách’ tag.

ThS. PHẠM QUANG HUY

VỤ PHÁP CHẾ (BỘ TÀI CHÍNH)

Ngân sách kiểm soát chi là phương thức kiểm soát tài chính của chính quyền địa phương Hoa Kỳ dựa trên hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương. Trên cơ sở trình bày, phân tích khái niệm“ngân sách kiểm soát chi” của chính quyền địa phương Hoa Kỳ, trong bối cảnh Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã có hiệu lực, tác giả đưa ra một số kiến nghị về chính quyền địa phương tại Việt Nam.

Từ khóa: Ngân sách kiểm soát chi; Chính quyền địa phương; Ngân sách chính quyền địa phương

On the basis of presentation and analysis with respect to “a results-oriented budget system” of the United States local gov, the author comments and points out what will be apply to local government in Vietnam under Law on Local Government 2015.

Key words: a results-oriented budget system; local government budget.

Chính quyền địa phương Hoa Kỳ và ngân sách kiểm soát chi

Chính quyền địa phương Hoa Kỳ

Tại Hoa Kỳ, khái niệm chính phủ không chỉ bao gồm Chính phủ Liên bang tại Thủ đô Washington, D.C mà còn gồm cả các chính phủ của 50 bang và 30.000 chính quyền thành phố và các cộng đồng địa phương khác. Cụ thể: chính quyền của 3.031 hạt, 19.522 đô thị, 16.364 thị trấn và 37.203 các quận đặc biệt, và 12.884 quận trường học độc lập. Tính đến 2012, tổng cộng có 89.004 chính quyền địa phương, giảm so với số lượng 89.476 chính quyền địa phương năm 2007 (US CENSUS Bureau, www.census.gov). Chính quyền địa phương Hoa Kỳ có quyền tự trị lớn, ví dụ như trong trường hợp cơn siêu bão Katrina, nếu không có đề nghị của chính quyền bang, chính quyền liên bang không có thẩm quyền điều phối hoạt động cứu trợ (George W. Bush. 2010. Decision point. Washington D.C: Crown Publishers. 301).

Căn cứ quy định Hiến pháp Liên bang Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, “Hoa Kỳ sẽ đảm bảo cho mỗi Bang trong Liên bang này một thể chể chính quyền Cộng hòa” (Ellis Katz. 2003), các Bang có quyền tự do lập hiến. Trong những năm gần đây, các bang đã sử dụng quyền này để đổi mới các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của mình.

Trong quá trình tự cải cách để phù hợp với tình hình mới đặc biệt là giai đoạn thập niên 1990, chính quyền địa phương ở Hoa Kỳ đã tự chuyển mình một cách hữu hiệu sang mô hình chính quyền với tinh thần doanh nghiệp. Một ví dụ cực kỳ điển hình của mô hình này là ở ngân sách của chính quyền địa phương được linh hoạt chuyển từ năm trước (nếu còn dư) sang năm sau thay vì việc bị cắt giảm ngân sách do không chi hết ngân sách kỳ trước còn được gọi là “ngân sách kiểm soát chi” (Ted Gaebler, David Osborne. 1997). Chính vì sự linh hoạt của ngân sách như cách làm của một doanh nghiệp, chính quyền địa phương Hoa Kỳ đã hoạt động rất hiệu quả.

Trong thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX, chính quyền bang và chính quyền địa phương lấy thuế bất động sản là nguồn thu nhập chính. Khi nhu cầu của người dân đối với các dịch vụ công tăng lên, hầu hết các bang đã áp dụng các loại thuế doanh thu và thuế thu nhập. Cho đến những năm 1990, các khoản thuế doanh thu và thuế thu nhập chiếm hơn 70% thu nhập hàng năm của bang từ thuế. Từ sự cải cách hiệu quả chính quyền địa phương những năm 1990, Hoa Kỳ đã tiếp cận và thực hiện hiệu quả chính quyền điện tử trong thời gian từ những năm 2000 cho đến nay.

Ngân sách kiểm soát chi của chính quyền địa phương Hoa Kỳ

Đọc tiếp »

Advertisements

TS. VŨ THÀNH TỰ ANH

Chương trình Fulbright

(TBKTSG) – Trong 20 năm trở lại đây, chưa bao giờ bức tranh ngân sách xấu như bây giờ. Chi thường xuyên tăng nhanh bất thường, đặc biệt trong giai đoạn 2010-2012, khiến cho toàn bộ thu ngân sách hầu như chỉ vừa đủ cho chi thường xuyên.

Điều này cũng có nghĩa là để đầu tư phát triển buộc phải đi vay, và kết quả tất yếu là thâm hụt ngân sách triền miên, cả nợ chính phủ và nợ công đều đã vượt trần.

Thu ngân sách không đủ chi thường xuyên và trả nợ

Với sự năng nổ của ngành tài chính, tốc độ tăng thu ngân sách danh nghĩa của Việt Nam khá cao, trung bình 16% trong giai đoạn 2003-2015 (số liệu của 2014 và 2015 là ước tính), trong khi chỉ số giá tiêu dùng trung bình trong cùng giai đoạn chỉ là 8,8%. Thế nhưng ngay cả với tốc độ tăng nhanh như thế mà ngân sách hiện nay cũng không đủ để bù đắp chi thường xuyên và trả nợ.

Như minh họa trong hình 1, trong giai đoạn 2003-2011, chênh lệch giữa một bên là thu ngân sách (gồm cả viện trợ) và bên kia là chi thường xuyên và trả nợ (bao gồm cả nợ gốc và lãi) liên tục tăng. Thế nhưng trạng thái này thay đổi đột ngột từ năm 2012: từ mức thặng dư khá lớn là 112.000 tỉ đồng, thu ngân sách bị hụt so với chi thường xuyên và trả nợ tới 14.000 tỉ đồng. Xu hướng này vẫn đang tiếp tục và ước tính mức hụt của năm 2015 sẽ lên tới gần 100.000 tỉ đồng.

Khi thu ngân sách không đủ bù đắp cho chi thường xuyên và trả nợ thì hệ quả tất yếu là để có ngân sách cho đầu tư phát triển, Chính phủ buộc phải đi vay. Điều này có nghĩa là Chính phủ cứ đầu tư thêm đồng nào thì ngân sách sẽ thâm hụt thêm và nợ công sẽ tăng thêm đồng ấy.

Vì thế, Chính phủ hiện nay đang đứng trước tình thế tiến thoái lưỡng nan: Để duy trì tăng trưởng thì không thể không đầu tư, nhưng càng đầu tư thì ngân sách càng thâm hụt và nợ công càng tăng. Tình thế này càng trở nên nghiêm trọng khi ngân sách thâm hụt ở mức rất cao (trung bình 5,3%) trong một thời gian rất dài (từ năm 2000-2015), và khi mức nợ công (nếu tính đúng, tính đủ) đã vượt trần 65% từ lâu rồi. Nói tóm lại, tình trạng tài chính công hiện nay rất bấp bênh, vừa hết dư địa vừa chứa đựng nhiều bất trắc.

Chi thường xuyên tăng chóng mặt

Tại sao mức thiếu hụt của ngân sách so với chi thường xuyên và trả nợ ngày càng trở nên nghiêm trọng? Nguyên nhân chắc chắn không phải do thu ngân sách kém vì như đã chỉ ra ở trên, tốc độ tăng thu ngân sách của Việt Nam khá cao. Nguyên nhân cũng không hẳn đến từ việc trả nợ gốc và lãi, vì tốc độ tăng trả nợ danh nghĩa trong giai đoạn 2003-2015 là 15,8%, thấp hơn một chút so với tốc độ tăng thu ngân sách.
Nguyên nhân chính của tình trạng ngân sách hụt hơi là do chi thường xuyên danh nghĩa tăng với tốc độ chóng mặt, trung bình lên tới 19,6% trong giai đoạn 2003-2015. Với tốc độ tăng nhanh như thế này, tỷ lệ chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách (không kể chi trả lãi nợ vay) đã tăng từ 57,4% vào năm 2003 lên đến 80% theo ước tính lần đầu của ngân sách 2015 (hình 2).

Đáng lưu ý là cho đến năm 2011, tỷ lệ chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách vẫn chỉ là 52,3%, tức là thấp hơn đáng kể so với năm 2003. Thế nhưng chỉ trong vòng một năm, từ 2011-2012, tỷ lệ này tăng vọt lên 58,3% và vẫn tiếp tục tăng nhanh trong các năm sau đó.

Nếu nhìn vào hình 2, có thể có ý kiến cho rằng tỷ lệ chi thường xuyên thực ra tăng không quá cao, mà lý do có thể là các khoản chi chuyển nguồn đang được “tạm tính” trong thành phần của chi thường xuyên. Điều này hoàn toàn có thể, song cần nhớ hai điều. Thứ nhất, tỷ lệ chi thường xuyên giảm từ 57,4% năm 2003 xuống đáy 49,3% năm 2009, song tăng liên tục lên tới 60,4% năm 2013 (là năm gần nhất có quyết toán ngân sách). Thứ hai, tỷ lệ chi thường xuyên và chi đầu tư đã tăng liên tục từ mức 1,7 lần vào năm 2003 lên tới gần 3 lần vào năm 2013 và có thể lên tới 4 lần vào năm 2015.

Tựu trung lại, tất cả bằng chứng hiện nay đều cho thấy chi thường xuyên đang tăng rất nhanh trong năm năm trở lại đây, và đó là lý do chính khiến cho ngân sách hụt hơi và làm cho tình thế “tiến thoái lưỡng nan” của Chính phủ ngày càng trở nên trầm trọng.

Ngân sách quốc gia đang rơi vào tình cảnh khó khăn nghiêm trọng. Nghiêm trọng đến nỗi Bộ trưởng Bộ Tài chính phải thốt lên “mấy năm nay, điều hành ngân sách như kiểu đi trên dây. Năm 2016 tiếp tục đi trên dây. Cứ tình hình này kéo sang năm 2017, dây mà đứt thì chúng ta chết”, còn Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cảm thán rằng với vẻn vẹn 45.000 tỉ đồng ngân sách còn lại sau khi trừ đi chi thường xuyên thì “không biết phải làm gì, chưa nói đến phải trả nợ. Trả nợ xong gần như không có tiền để làm gì cả”.

Những cảnh báo như vậy là hết sức cần thiết, song cần thiết hơn là phải nhanh chóng thiết lập được kỷ luật ngân sách và cải thiện hiệu quả chi tiêu. Ngân sách quốc gia hiện nay đã hết dư địa, hoàn toàn không còn chỗ cho những dự án “ngàn tỉ” nằm đắp chiếu, hay cho hàng loạt tượng đài “vung tay quá trán,” và cho cả những dự án tiềm ẩn nhiều rủi ro như mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Nếu không chấm dứt tình trạng này, sự sụp đổ của nền tài khóa quốc gia là điều không thể tránh khỏi.

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài gòn online, 1/4/2016, 08:30 (GMT+7)

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Năm 2014, Kiểm toán Nhà nước đã tiến hành kiểm toán tại 190 đầu mối[1] và kiểm toán Báo cáo quyết toán NSNN năm 2013 tại Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Căn cứ Điều 58 Luật Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán Nhà nước trân trọng công bố một số nội dung chủ yếu từ kết quả kiểm toán năm 2014 như sau:

A. KẾT QUẢ KIỂM TOÁN QUYẾT TOÁN NSNN NĂM 2013

Năm 2013, kinh tế trong nước tiếp tục gặp nhiều khó khăn, song với sự chỉ đạo quyết liệt của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương và sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân nên những khó khăn đang từng bước được khắc phục, nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực; thu ngân sách vượt 1,5% dự toán, trong đó một số khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN như thu từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu từ khu vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngoài quốc doanh có xu hướng tăng; các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã triển khai phân bổ và giao kế hoạch vốn đầu tư năm 2013 cho các đơn vị cơ bản theo đúng Nghị quyết của Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; việc sử dụng nguồn tăng bội chi, giảm chi NSTW và dự phòng ngân sách cơ bản phù hợp quy định; tổng chi chuyển nguồn và chuyển nguồn của những nhiệm vụ chậm triển khai đều giảm cả về số tuyệt đối và tương đối so với năm 2012, tình trạng sử dụng kinh phí NSNN chưa phù hợp với tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước tại các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã dần được khắc phục[2], các đơn vị đã triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, tuân thủ Luật NSNN, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Phòng, Chống tham nhũng…, song qua kết quả kiểm toán, bên cạnh những mặt chuyển biến tích cực vẫn còn nổi lên một số vấn đề:

Đọc tiếp »

HOÀNG KHANG

(TBKTSG Online) – Nhà đấy nghèo, có lẽ là nhất xóm, vì có tên trong danh sách cứu đói của chính quyền địa phương, và vì láng giềng vẫn cứ phải thường xuyên giúp đỡ lúc thì lon gạo, lúc lại rổ khoai, do thu nhập của gia đình này hàng tháng chỉ đủ ăn trong một tuần.

Chương trình xóa đói giảm nghèo nào nhà đấy cũng được tham gia, được cấp vốn hay mượn vốn, nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo vì những đồng vốn ít ỏi ấy chẳng phải được dùng để làm ăn, mà chỉ tiêu tán hết.

Nhưng, ở nhà thì thôi, chứ mỗi lần ra phố, con cái nhà đấy lại “vận hàng hiệu” đúng kiểu, từ quần áo, giày dép đến giỏ xách. Họ chỉ tự biết với nhau rằng hàng hiệu này được mua từ những đồng tiền cứu đói.

Chuyện đó khó lòng xảy ra trong thực tế nhưng nhìn một cách nào đó, cách Sơn La đòi chi 1.400 tỉ đồng gây xôn xao dư luận mấy ngày qua cũng không khác bao nhiêu.

Con số 1.400 tỉ đồng mà chính quyền tỉnh Sơn La dự định dùng để xây cụm tượng đài Bác Hồ và những công trình liên quan thật sự gây “choáng” cho cộng đồng cả nước suốt ba ngày qua. Với nhiều thành phố lớn trên cả nước,con số 1.400 tỉ đồng này đã là vấn đề phải “nâng lên đặt xuống” nhiều lần, cân nhắc giữa đồng vốn và hiệu quả, thế mà một địa phương chạy ăn từng bữa như Sơn La lại có thể dễ dàng thông qua.

Như đã đăng tải trên báo chí, Hội đồng Nhân dân tỉnh Sơn La đã ra nghị quyết 127/NQ-HĐND ngày 8-7-2015, thông qua chủ trương đầu tư cho cụm tượng đài này với tổng vốn đầu tư lên đến 1.400 tỉ đồng. Dự án này bao gồm nhóm tượng đài Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc, quảng trường có sức chứa 20.000 người, đền thờ Bác Hồ, đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ, bảo tàng tổng hợp, khu nhà điều hành, đón tiếp…, tất cả đều là các công trình phi kinh tế.

Đọc tiếp »

Chương I

PHÂN BỔ VÀ GIAO DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2015

Điều 1. Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi đối với ngân sách địa phương

1. Năm 2015 tiếp tục thực hiện ổn định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định năm 2011; ổn định số bổ sung cân đối (nếu có) từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương theo mức đã được Quốc hội quyết định năm 2014 và bổ sung cho ngân sách địa phương để thực hiện cải cách tiền lương đến mức lương cơ sở 1.150.000 đồng/tháng và được Thủ tướng Chính phủ giao cho từng địa phương tại Quyết định số 2138/QĐ-TTg ngày 28/11/2014. Tiếp tục thực hiện thuế bảo vệ môi trường đối với hàng hóa sản xuất trong nước là khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; thuế bảo vệ môi trường từ hoạt động xuất nhập khẩu do cơ quan hải quan thu là khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%; tiền xử phạt vi phạm hành chính theo Luật xử lý vi phạm hành chính là khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%; riêng khoản thu từ tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa là khoản thu phân chia điều tiết về ngân sách trung ương 70%, ngân sách địa phương 30%.

2. Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia nguồn thu giữa các cấp ngân sách địa phương và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới thực hiện ổn định theo đúng Nghị quyết Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân đối với ngân sách địa phương trong thời kỳ ổn định ngân sách. Đồng thời, ngân sách cấp tỉnh bổ sung cân đối để thực hiện cải cách tiền lương theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp.

3. Thực hiện cơ chế dùng nguồn thu tiền sử dụng đất trong cân đối ngân sách địa phương để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, đồng thời các địa phương cần sử dụng tối thiểu 10% tổng số thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất để thực hiện công tác đo đạc, đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và đăng ký biến động, chỉnh lý hồ sơ địa chính.

Đối với nguồn vốn của Quỹ phát triển đất được ngân sách nhà nước phân bổ, bố trí vào dự toán ngân sách địa phương, được cấp khi bắt đầu thành lập, bổ sung định kỳ hàng năm; huy động từ các nguồn vốn khác, gồm: Vốn viện trợ, tài trợ, hỗ trợ hoặc ủy thác quản lý của các tổ chức quốc tế, tổ chức và cá nhân trong nước và ngoài nước theo chương trình hoặc dự án viện trợ, tài trợ, ủy thác theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định mức vốn ngân sách nhà nước cấp cho Quỹ phát triển đất khi thành lập, mức trích bổ sung cho Quỹ phát triển đất cụ thể hàng năm cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Riêng đối với tiền sử dụng đất của Bộ Quốc phòng 4.306 tỷ đồng năm 2015 phát sinh và đã giao dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, điều tiết ngân sách trung ương 100% theo Nghị quyết số 79/2014/QH13 ngày 14/11/2014 Quốc hội khóa XIII về phân bổ ngân sách trung ương năm 2015.

4. Thực hiện Nghị quyết số 68/2006/QH11 ngày 31/10/2006 của Quốc hội, nguồn thu xổ số kiến thiết không đưa vào cân đối thu, chi ngân sách địa phương, được quản lý qua ngân sách nhà nước. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tăng cường theo dõi, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động kinh doanh của các Công ty xổ số kiến thiết, đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về kinh doanh xổ số và các biện pháp kiểm soát thị trường của Bộ Tài chính; đồng thời, căn cứ khả năng thu xổ số kiến thiết năm 2014 và năm 2015, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phân bổ nguồn thu này để đầu tư các công trình thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế và phúc lợi xã hội của địa phương theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.

Điều 2. Phân bổ và giao dự toán thu ngân sách

Đọc tiếp »

Luattaichinh

Giá dầu thế giới đang giảm mạnh kéo theo những quan ngại về thâm hụt ngân sách của Việt Nam trong tài khóa 2015. Trong khi giá dầu bình quân ngày 11/12/2014 chỉ khoảng 55 USD/thùng thì Bộ Tài chính đã dự báo trung bình 100 USD/thùng khi xây dựng dự toán ngân sách 2015

http://vneconomy.vn/thoi-su/kich-ban-nao-cho-viet-nam-khi-gia-dau-giam-chong-mat-20141211091334675.htm

Đã đến lúc Chính phủ cần xây dựng Báo cáo về rủi ro tài khóa khi đệ trình Quốc hội về dự thảo ngân sách hàng năm. Điều đó sẽ giúp Quốc hội quyết nghị ngân sách đúng đắn hơn và việc điều hành của Chính phủ cũng có nhiều thuận lợi.

——————————————

Báo cáo về Rủi ro tài khoá

Đọc tiếp »

Lập dự toán thấp để được thưởng vì vượt thu cao

Nhà báo Việt Lâm:Đúng là nhà nghèo thì phải đi vay mượn. Nhưng nếu nhà nghèo mà vung tay quá trán thì rất đáng lo. Nhiều ĐBQH đã lên tiếng lo ngại về tình trạng kỷ cương ngân sách lỏng lẻo. Tôi xin trích lời phát biểu của ĐB Trần Du Lịch: “Tôi không thấy ở đâu sử dụng ngân sách tùy tiện như ở nước mình, có lần tôi đi thăm một nước vào cuối tháng 12 họ không mời được cơm vì ngân sách chưa có, còn nước ta thì ăn nhậu vô tội vạ, thậm chí quyết toán được hết”. Tại sao lại có tình trạng này, thưa ông?

Ts Vũ Đình Ánh: Là người làm trong lĩnh vực tài chính gần hai chục năm và quan sát cả cấp TƯ lẫn địa phương, tôi rất chia sẻ với lo ngại của ĐB Trần Du Lịch về kỷ luật ngân sách. Không những kỷ luật chi mà cả kỷ luật thu ngân sách của chúng ta đều có vấn đề.

Chúng ta thường xuyên kêu ca về nạn thất thu ngân sách, trốn lậu thuế. Nhưng vấn đề ở chỗ người ta thường xây dựng một dự toán thu ngân sách ở địa phương rất thấp để họ có thể vượt dự toán thu đó. Nhờ khoản vượt thu này mà họ được thưởng. Nói cách khác, họ cố tình kéo dự toán thu thấp hơn khả năng đạt được. Thêm vào đó, những địa phương này còn có dư địa rất lớn để đạt được dự toán cho năm sau. Dư địa này là khoản thất thu ngân sách và trốn lậu thuế mà các địa phương này chỉ cần tăng cường kỷ luật thì sẽ thu được rất cao.

Tình trạng bất cập này tạo ra một hiện tượng thú vị. Đó là, thu ngân sách nhà nước chưa bao giờ là không vượt dự toán, thậm chí có những năm vượt dự toán trên 30%. Thậm chí nếu bắt những nơi này vượt dự toán cả 50%, họ vẫn làm được và vẫn còn dư địa để năm sau tiếp tục vượt thu ngân sách. Rõ ràng kỷ luật thu ngân sách của chúng ta có vấn đề. Không chỉ về trình độ năng lực mà vấn đề là chúng ta tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người nghiêm túc và không nghiêm túc nộp ngân sách nhà nước.ăn nhậu, nợ công, ngân sách nhà nước

Điều đáng kinh ngạc là nếu giả định vượt thu ngân sách so với dự toán là thành tích, nỗ lực của các đơn vị thực thi, hay còn gọi là đơn vị hành thu theo thuật ngữ chuyên môn, thì tại sao chi ngân sách cũng vượt dự toán rất nhiều? Bất kể thu ngân sách có vượt vài chục phần trăm so với dự toán nhưng rốt cuộc thâm hụt ngân sách vẫn cứ đều đặn 4,8-5% GDP mỗi năm. Nghĩa là chi ngân sách cũng phải vượt dự toán vài chục phần trăm thì mới cho ra chênh lệch thu chi như vậy.

Đọc tiếp »

TRẦN VŨ HẢI

Hiệu quả ngân sách cần được hiểu là những kết quả đích thực mà ngân sách nhà nước đạt được sau khi thực hiện được xem xét trong mối tương quan với nguồn lực đã sử dụng.

Theo TS. Bùi Đại Dũng, hiệu quả của việc chi tiêu ngân sách phải được phản ánh trong mối quan hệ giữa khối lượng nguồn lực mà nó sử dụng và các kết quả đầu ra tổng thể cho cả xã hội trong một khoảng thời gian thích hợp. Có thể sử dụng chỉ số phát triển con người (HDI) do Tổ chức Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) xây dựng để đánh giá hiệu quả chi tiêu ngân sách bằng cách xác định tỷ lệ giữa mức tăng HDI so với tổng chi ngân sách trong một giai đoạn nhất định. (TS. Bùi Đại Dũng, Hiệu quả chi tiêu ngân sách dưới tác động của vấn đề nhóm lợi ích ở một số nước trên thế giới, NXB Chính trị quốc gia, 2007).

Tuy nhiên, cách thức tiếp cận này chỉ đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế xã hội mà chưa đánh giá được những yếu tố về mặt chính trị và sự tuân thủ pháp luật của hoạt động ngân sách nhà nước cũng như sẽ gặp khó khăn khi đánh giá hiệu quả ngân sách trong ngắn hạn.

Đọc tiếp »

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Công bố ngày 25/7/2014

Năm 2013, Kiểm toán Nhà nước đã tổ chức kiểm toán tại 150 đầu mối[1] và kiểm toán Báo cáo quyết toán NSNN năm 2012 tại Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT.

Thực hiện quy định tại khoản 8, Điều 15, khoản 3, Điều 55 Luật Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán Nhà nước đã lập Báo cáo kết quả kiểm toán năm 2013 để gửi đến từng Đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa 13 và các cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

Căn cứ Điều 58, Luật Kiểm toán nhà nước, khoản 2, Điều 11, Nghị định số 91/2008/NĐ-CP ngày 18/8/2008 của Chính phủ về công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước trân trọng công bố tóm tắt kết quả kiểm toán năm 2013 như sau:

A. KẾT QUẢ KIỂM TOÁN QUYẾT TOÁN NSNN NĂM 2012

– Tổng thu NSNN 1.058.140 tỷ đồng, vượt 1,9% dự toán.

– Tổng chi NSNN 1.170.924 tỷ đồng, vượt 8,3% dự toán, trong đó: Chi đầu tư phát triển 268.812 tỷ đồng, bằng 31,1% tổng chi NSNN, vượt 49,3% (88.812 tỷ đồng) dự toán; chi thường xuyên 603.372 tỷ đồng, vượt 0,3% (2.072 tỷ đồng) dự toán; chi trả nợ, viện trợ 105.838 tỷ đồng, vượt 5,8% (5.838 tỷ đồng) dự toán.

– Tăng trưởng kinh tế năm 2012 đạt 5,3%; bội chi NSNN được giữ ở mức 4,75% GDP, thấp hơn 0,05% mức Quốc hội cho phép (4,8%); dư nợ Chính phủ bằng 38,9% GDP, dư nợ nước ngoài của quốc gia bằng 37,4% GDP[2]; dư nợ công 1.642.916 tỷ đồng, bằng 55,7% GDP (năm 2011 bằng 54,9% GDP)[3].

Qua kiểm toán cho thấy trong quản lý điều hành ngân sách việc sử dụng các khoản tăng thu, dư dự toán và dự phòng ngân sách cơ bản phù hợp quy định; tổng chi chuyển nguồn và chuyển nguồn của những nhiệm vụ chậm triển khai đều giảm so với năm 2011, sử dụng kinh phí NSNN tại các bộ, cơ quan trung ương đi vào nề nếp hơn, phù hợp với tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước[4]; các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; các đơn vị được kiểm toán cơ bản đã tuân thủ quy định của Luật NSNN, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Phòng, Chống tham nhũng… Song, còn một số thiếu sót, hạn chế:

1. Lập và giao dự toán

Đọc tiếp »

TS. BÙI TIẾN DŨNG

Bộ Khoa học và Công nghệ

Nguồn ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH&CN) nói chung còn khiêm tốn so với các lĩnh vực khác, mặc dù gần đây nhiều quy định đang được đổi mới song vẫn chưa hiển thị rõ nét. Bài viết đề cập một số đổi mới cơ chế tài chính hiện hành của các đơn vị sự nghiệp (KH&CN) công lập và đề xuất một số gợi ý nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính hiện nay.

Cơ chế tài chính những năm gần đây

Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các bộ ngành, địa phương trình Thủ tướng Chính phủ một số đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN nói chung và cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN nói riêng. Không có cơ chế tài chính chỉ riêng cho các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập.

Thứ nhất, Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH&CN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 28/9/2004 có nội dung “Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN”. Đây là nội dung thứ 3 trong 6 nhóm nội dung và giải pháp chủ yếu trong Đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN. Những giải pháp chính trong đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN gồm: Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho KH&CN; Đổi mới chính sách đầu tư và cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước (NSNN); Hoàn thiện cơ chế sử dụng nguồn tài chính tạo động lực cho KH&CN; Một số cơ chế được ban hành theo hướng đổi mới trong thời gian qua…

Để quản lý các dự án KH&CN, ngày 20/8/2004 Liên bộ Bộ Tài chính, Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN, hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án KH&CN được NSNN hỗ trợ và có thu hồi kinh phí. Thông tư 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN quy định NSNN hỗ trợ tối đa 30% tổng mức kinh phí đầu tư mới cần thiết để thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm, các dự án chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học từ nước ngoài; Đồng thời, tối đa không quá 24 tháng sau khi dự án kết thúc, các dự án phải nộp trả NSNN số kinh phí thu hồi từ 60 – 100% mức kinh phí NSNN đã hỗ trợ thực hiện các dự án; Kinh phí thu hồi chủ yếu từ nguồn thu bán các sản phẩm là kết quả thực hiện của dự án. Sau một thời gian thực hiện, những quy định tại Thông tư nói trên đã bộc lộ một số điểm bất cập, cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế.

Đọc tiếp »

Tuy mức độ khác nhau song đề nghị tăng tự chủ cho địa phương trong thu chi ngân sách là điểm chung ở tham luận của nhiều thành phố lớn tại hội thảo về phân cấp ngân sách và cơ chế tài chính đặc thù của một số địa phương diễn ra trong hai ngày 18 và 19/2 tại Tp.HCM, do Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội tổ chức.

Được chắp bút bởi TS. Lê Văn Hoạt, Phó chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội, bản tham luận đến từ Thủ đô mang đến khá nhiều thông tin đáng chú ý.
Theo đó, liên tiếp hai năm 2012 – 2013, Hà Nội thu ngân sách nhà nước chỉ đạt bằng dự toán giao (năm 2013 thu 163.000 tỷ đồng, bằng 100,9% dự toán), cân đối ngân sách địa phương gặp nhiều khó khăn, chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư của Thủ đô.
Giống như nhiều địa phương khác, thu ngân sách của Hà Nội còn chưa bền vững, phụ thuộc khá nhiều vào các khoản thu từ đất với bình quân 11.000 tỷ đồng/năm, chiếm khoảng 22%-25% thu ngân sách địa phương.
Việc thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách được ông Hoạt đánh giá là chưa có bước đột phá. Điều này thể hiện rất rõ qua tổng vốn đầu tư xã hội có xu hướng tăng chậm dần khi 2013 chỉ đạt 260,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12%, thấp hơn kế hoạch là 15-16,5% và cùng kỳ năm 2012 là 13,21%.
Không là ngoại lệ, số lượng doanh nghiệp bị phá sản, giải thể hoặc tạm ngừng kinh doanh ở Thủ đô cũng tăng đột biến trong 2 năm gần đây với khoảng 22.600 doanh nghiệp, chiếm 14% doanh nghiệp đăng ký kinh doanh.
Tình hình nợ công diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng, bản tham luận nêu lo lắng của tác giả.

Đọc tiếp »

TS. VŨ SỸ CƯỜNG

Phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền là nội dung cốt lõi trong phân cấp quản lý của Nhà nước và đang trở thành chủ đề được quan tâm trong cải cách hoạt động của khu vực công tại nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, vấn đề này đã được thực hiện từ nhiều năm nay và quy định cụ thể trong Luật Ngân sách nhà nước (NSNN), các văn bản dưới luật. Bài viết đánh giá khái quát tình hình thực hiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước trong những năm gần đây và đưa ra một số gợi ý cải cách trong giai đoạn sắp tới.

Thực trạng phân cấp ngân sách ở Việt Nam

Tỷ lệ thu ngân sách địa phương (NSĐP) trong tổng NSNN tăng mạnh kể từ sau khi áp dụng Luật NSNN 2002. Nếu không tính thu NSNN từ dầu thô thì thu NSĐP chiếm trung bình hơn 44% tổng thu NSNN ở Việt Nam giai đoạn 2004-2008.

Tỷ lệ bổ sung từ ngân sách trung ương (NSTW) cho địa phương có xu hướng giảm mạnh, chỉ còn 34,1% cho giai đoạn 2005-2010. So sánh với các nước trên thế giới cho thấy tỷ lệ thu NSĐP trong GDP của Việt Nam đạt 9,9% trong giai đoạn này, cao hơn mức trung bình của các nước đang phát triển. Tỷ lệ chuyển giao ngân sách từ Trung ương cho địa phương của Việt Nam cũng cao hơn mức trung bình của nhóm các nước đang chuyển đổi Đông Âu và Liên Xô (cũ), song thấp hơn mức trung bình của các nước đang phát triển.

Đọc tiếp »

PGS,TS. ĐẶNG VĂN THANH

Chủ tịch Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA)

 

Chủ trương sửa đổi và bổ sung Luật Ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2002 đã được đưa vào chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh của Quốc hội từ khóa XII và sẽ tiếp tục trong chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh của Quốc hội khóa XIII. Luật NSNN có tác động đến toàn bộ nền kinh tế – xã hội, nên việc sửa đổi cần phải được đặt ra một cách nghiêm túc, căn bản đạt cho được mục tiêu và chủ định của việc tăng cường quản lý ngân quỹ nhà nước. Những quy định về kế toán phải tương xứng với vai trò của nó trong nhiệm vụ kiểm kê, đo lường và công khai, minh bạch công tác quản lý NSNN, quản lý nền tài chính quốc gia.Quản lý và kế toán ngân quỹ nhà nước: yêu cầu luật hóa và phương hướng đổi mới

Luật NSNN năm 2002 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 16/12/2002 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004. Qua hơn bảy năm thực hiện, Luật đã góp phần phát triển và huy động mạnh mẽ tiềm năng đất nước, đảm bảo tăng tiềm lực và quy mô NSNN. Luật đã góp phần tăng quyền chủ động, trách nhiệm của địa phương và các Bộ, ngành trong việc quản lý tài chính – ngân sách được phân cấp. Việc thực thi luật trong đời sống thực tế đã góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý ngân sách, phù hợp với tiến trình cải cách hành chính nhà nước; xây dựng nền tài chính lành mạnh, công khai, tăng cường kỷ cương, kỷ luật, thực hiện chế độ trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách. NSNN đã chủ động đáp ứng các yêu cầu mới đặt ra trong quá trình tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Điều thấy rõ nhất là quy mô ngân sách cứ năm năm sau lại gấp hai lần số thu năm năm trước.

Luật NSNN năm 2002 đã bảo đảm các nguyên tắc cơ bản:

Đọc tiếp »

Luật gia Trần Vũ Hải

ĐH Luật Hà Nội

1. Góp ý về Điều 59 dự thảo

Điều 59 quy định ở khoản 1 như sau: “Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác được Nhà nước thống nhất quản lý, sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật”.

Ở điều khoản này, việc quan trọng là cần nói rõ ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính công khác do nhà nước quản lý được sử dụng vào mục đích gì. Rõ ràng, tài chính công không có mục đích nào khác hơn là phục vụ nhân dân và phấn đấu tăng cường phúc lợi xã hội, vì hầu hết các nguồn tài chính công là do nhân dân đóng góp và trao đổi tài nguyên quốc gia thuộc sở hữu toàn dân. Không phải quỹ nào cũng nhất thiết phải có sự đóng góp của nhà nước do đó nhà nước không đương nhiên có quyền quản lý mà cần được sự ủy quyền của các chủ thể đóng góp. Việc quản lý đúng pháp luật là đương nhiên, có lẽ không cần phải nhấn mạnh ở đây.

Vì vậy đề nghị khoản 1 Điều 59 nên quy định như sau:

Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác được Nhà nước quản lý với tư cách là đại diện chủ sở hữu, được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, vì lợi ích của nhân dân và đảm bảo ngày càng tăng cường phúc lợi xã hội.

2. Góp ý Điều 75 dự thảo

Điều 75 (sửa đổi, bổ sung Điều 84) quy định tại khoản 4 về quyền hạn của Quốc hội như sau: “Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định nguyên tắc phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán và phân bổ ngân sách trung ương; phê chuẩn quyết toán ngân sách trung ương; xem xét báo cáo tổng hợp dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước”

– Xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới là hướng đến chính sách tiền tệ độc lập do ngân hàng trung ương quyết định. Do vậy, cùng với đề nghị cần nghiêm túc xem xét việc quy định trong Hiến pháp về địa vị Ngân hàng Nhà nước là cơ quan độc lập chịu trách nhiệm trước Quốc hội về điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, hạn chế tình trạng Chính phủ vừa điều hành chính sách tiền tệ cùng với chính sách tài khóa như hiện nay. Do vậy, để đảm bảo tính độc lập của ngân hàng trung ương, Quốc hội không nên là người quyết định chính sách tiền tệ mà có lẽ nên phê chuẩn chính sách tiền tệ, thậm chí có thể trao quyền này cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội để việc thực hiện chính sách tiền tệ được linh hoạt.

– Việt Nam trong thời gian qua đã kiểm soát không thật tốt an toàn nợ quốc gia. Thời gian qua, Việt Nam chưa nhất quán áp dụng các chuẩn mực quốc tế về an toàn nợ công nên Quốc hội rất thiếu cơ sở khoa học để đánh giá và quyết định. Do đó, cần quy định về việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong quyết định giới hạn nợ quốc gia và nợ công. Theo định nghĩa về nợ công của quốc tế thì nợ chính phủ cũng chính là nợ công, nên việc tách nợ chính phủ ra khỏi nội hàm nợ công như trong dự thảo là không hợp lý.

– Nên sửa cụm từ “các thứ thuế” thành “các loại thuế” sẽ hợp với văn phong hiện đại.

Như vậy, khoản 4 Điều 75 dự thảo nên sửa là:

Quyết định chính sách tài chính, phê chuẩn chính sách tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các loại thuế; quyết định nguyên tắc phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia và nợ công theo tiêu chuẩn chung của quốc tế; quyết định dự toán và phân bổ ngân sách trung ương; phê chuẩn quyết toán ngân sách trung ương; xem xét báo cáo tổng hợp dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước.

3. Góp ý Điều 101 dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 112)

Hiện nay dự thảo về Điều 101 không đề cập đến trách nhiệm thực hiện quyết định về ngân sách của Quốc hội. Đây là một thiếu sót lớn vì thực hiện quyết định ngân sách của Quốc hội là nền tảng, điều kiện để thực hiện rất nhiều nhiệm vụ và quyền hành của Chính phủ, do đó cần bổ sung thêm cụm từ:

“thực hiện quyết định của Quốc hội về ngân sách trung ương và phân bổ ngân sách địa phương”

4. Đề nghị bổ sung một phần về tài chính nhà nước

Hầu hết trong Hiến pháp các quốc gia đều có dành một phần cho nội dung này. Vấn đề về tài chính nhà nước rất quan trọng nhằm đảm bảo thực thi hiệu quả các chức năng của nhà nước. Những nguyên tắc như nguyên tắc thu thuế theo luật định, nguyên tắc quyết định và phân bổ ngân sách, nguyên tắc quản lý quỹ ngân sách cần được nghiên cứu bổ sung thì mới đảm bảo tính toàn diện, bao quát của Hiến pháp.

© luattaichinh.wordpress.com

TS LÊ ĐÌNH THĂNG

Kiểm toán ngân sách địa phương là nhiệm vụ quan trọng hàng năm mà Kiểm toán Nhà nước (KTNN) phải đảm nhận. Việc kiểm toán ngân sách địa phương không chỉ giúp chính quyền địa phương các cấp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách, tăng cường quản lý và giám sát ngân sách mà còn giúp cho các cơ quan trung ương nắm bắt được thực trạng quản lý ngân sách tại các địa phương, hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách. Kiểm toán ngân sách địa phương còn giúp cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội có thông tin tin cậy phục vụ giám sát ngân sách, hoạch định ngân sách năm và chính sách ngân sách. Những năm qua việc kiểm toán ngân sách địa phương chủ yếu do KTNN khu vực đảm nhận và tập trung nhiều vào kiểm toán quyết toán ngân sách. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đề cập đến việc kiểm toán chuyên đề trong kiểm toán ngân sách địa phương.
1. Những năm qua, kể từ khi KTNN được thành lập, nhiệm vụ kiểm toán ngân sách địa phương luôn được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Trước đây, khi các KTNN khu vực chưa đủ năng lực, chuyên ngành kiểm toán ngân sách cùng với các KTNN khu vực đảm nhận kiểm toán ngân sách địa phương hàng năm. Cùng với sự lớn mạnh của KTNN, các KTNN khu vực được thành lập và đảm nhận kiểm toán ngân sách các địa phương. Cho đến nay, với mạng lưới KTNN khu vực rộng khắp đã đảm nhận toàn bộ việc kiểm toán ngân sách địa phương. Ngoài ra, các KTNN khu vực còn thực hiện kiểm toán một số đơn vị theo sự phân công của Tổng KTNN. Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, kể từ khi thành lập đến nay, các cuộc kiểm toán ngân sách địa phương đều thực hiện mang tính truyền thống, chủ yếu thực hiện kiểm toán quyết toán ngân sách địa phương là chính. Các cuộc kiểm toán ngân sách địa phương được thực hiện qua kiểm toán quyết toán ngân sách địa phương nhưng trên thực tế có sự lồng ghép giữa kiểm toán báo cáo tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp, kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp mà thực chất là kiểm toán thuế và kiểm toán báo cáo quyết vốn đầu tư công trình hoàn thành. Quyết toán ngân sách địa phương chưa được kiểm toán với tư cách là báo cáo tài chính độc lập cần phải được kiểm toán một cách độc lập.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Sáu 2018
H B T N S B C
« Th4    
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,859,419 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Khối ngoại mua ròng trở lại 21/06/2018
    (TBKTSG Online) - Thị trường tiếp tục chứng kiến một phiên giảm điểm khi các mã vốn hóa lớn và nhóm ngân hàng bị bán mạnh.
  • Hồi phục đáng kể 20/06/2018
    (TBKTSG Online) - Phiên sáng chứng kiến nhiều biến động, thị trường hồi phục và tăng điểm vào cuối phiên. Sự hồi phục ở nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn PLX, VRE, VJC, BVH, GAS, HPG… cũng như các cổ phiếu ngân hàng VCB, BID, CTG, VPB, HDB, TPB… là động lực giúp thị trường bứt phá. Ngược lại, VHM, PNJ, HDB, ROS… tiếp tục giảm điểm. […]
  • Chi trả cổ tức: cân đối để hài hòa lợi ích 20/06/2018
    (TBKTSG) - Việc quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức bao nhiêu là bài toán không hề đơn giản cho doanh nghiệp khi phải đảm bảo hài hòa lợi ích của nhiều bên.
  • Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) muốn thay đổi phương án bán vốn nhà nước 19/06/2018
    (TBKTSG Online) - Nhiều kế hoạch trong tiến trình tiếp tục cổ phần hóa (CPH) của Công ty TNHH MTV lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) đang phải thay đổi.
  • Tâm lý bán tháo lan rộng, VN-Index mất hơn 25 điểm 19/06/2018
    (TBKTSG Online) - Nối tiếp đà bán tháo từ phiên trước đó, lực cung dồn dập đổ vào thị trường. Mặc dù lực cầu bắt đáy cũng xuất hiện, song sắc đỏ vẫn phủ kín bảng điện tử, khiến chỉ số mất hơn 25 điểm.
  • Góc nhìn khác trong phân tích nợ xấu và chi phí dự phòng 19/06/2018
    (TBKTSG) - Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh doanh, chất lượng tín dụng là vấn đề được các nhà đầu tư vào cổ phiếu ngân hàng quan tâm nhất vào mỗi mùa báo cáo tài chính (BCTC). Tỷ lệ nợ xấu cao hay thấp, tăng hay giảm, dự phòng rủi ro nhiều hay ít đều có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, tức là ảnh hưởng đến cổ tức và giá cổ phiếu. […]
  • Sẽ không còn quẹt thẻ - phải chuẩn bị từ giờ 19/06/2018
    (TBKTSG) - Tuần trước các báo đưa tin du khách Trung Quốc cà thẻ qua máy POS bất hợp pháp, kết nối trực tiếp với ngân hàng bên Trung Quốc không thông qua hệ thống chi trả của Việt Nam, gây thất thu thuế. Thật ra hiện tượng này có quy mô lớn hơn nhiều, không nhất thiết là thẻ tín dụng, liên quan đến nhiều vấn đề và đã là nỗi lo của các nước láng giềng, các hệ […]
  • Vn-Index mất mốc 1.000 điểm trước áp lực bán mạnh 18/06/2018
    (TBKTSG Online) - Áp lực bán mạnh ở các cổ phiếu vốn hóa lớn, nhóm cổ phiếu ngân hàng, chứng khoán đã khiến chỉ số mất gần 30 điểm trong phiên hôm nay.
  • KIDO Foods dự kiến chuyển sàn HOSE năm nay nhằm cải thiện thanh khoản 18/06/2018
    (TBKTSG Online) - Công ty cổ phần Thực phẩm Đông lạnh KIDO - KIDO Foods (Mã: KDF) dự kiến chuyển sang niêm yết sàn HOSE vào cuối năm nay.
  • Tắc nghẽn vốn? 18/06/2018
    (TBKTSG) - Có lẽ lần đầu tiên trong nhiều năm qua, hiệu ứng chèn lấn vốn từ khu vực công đã phần nào bị hạn chế. Với việc giải ngân vốn đầu tư công không như mong muốn, Chính phủ không có động lực tăng huy động vốn qua thị trường trái phiếu bằng mọi giá, do đó các ngân hàng càng dồi dào thanh khoản, không chỉ nhờ vào lượng tiền gửi của Kho bạc Nhà nước (KBNN […]
Advertisements