You are currently browsing the tag archive for the ‘ngân hàng’ tag.

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu các thay đổi chủ yếu của cơ chế cho vay mới của TCTD đối với khách hàng theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN.

Ngày 30/12/2016, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Thông tư 39/2016/TT-NHNN có hiệu lực thi hành từ ngày 15/3/2017 và thay thế 08 văn bản sau đây: (i) Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng; (ii) Quyết định số 28/2002/QĐ-NHNN ngày 11/01/2002 về sửa đổi Điều 2 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN; (iii) Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN; (iv) Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005 về việc sửa đổi, bổ sung Khoản 6 Điều 1 của Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN; (v) Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; (vi) Thông tư số 05/2011/TT-NHNN ngày 10/3/2011 quy định về thu phí cho vay của tổ chức tín dụng, ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; (vii) Thông tư số 33/2011/TT-NHNN ngày 08/10/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2010/TT-NHNN và Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN; (viii) Thông tư số 08/2014/TT-NHNN ngày 17/3/2014 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế. Thông tư 39/2016/TT-NHNN được ban hành nhằm khắc phục các bất cập đã nảy sinh trong quá trình thực hiện Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN, thực hiện các quy định tại các luật liên quan như Bộ luật dân sự 2015, Luật các tổ chức tín dụng 2010; đồng thời tạo lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ cho hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TCTD) đối với khách hàng. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu các thay đổi chủ yếu của cơ chế cho vay mới của TCTD đối với khách hàng theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN.

1. Về chủ thể vay vốn

Đọc tiếp »

Advertisements

ThS. NGUYỄN NGỌC YẾN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Rủi ro thanh khoản là một trong những rủi ro đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng, bên cạnh những loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động… Xuất phát từ tính liên kết hệ thống một cách chặt chẽ, một ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản sẽ ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của các ngân hàng khác, và rộng hơn là đe dọa đến sự an toàn trong hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Do đó, quản trị rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại (NHTM) luôn là vấn đề được quan tâm đặc biệt bởi các cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động quản lý, giám sát. Những quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng và biện pháp hỗ trợ, bảo đảm thực thi những quy định này đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật từ khá sớm và ngày càng được hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam.

1. Quy định của pháp luật về quản lý rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Có thể nói, những quy định về quản lý rủi ro thanh khoản của các NHTM là nhóm quy định thường xuyên được cập nhật, thay đổi trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam. Văn bản hiện hành điều chỉnh đối với hoạt động quản lý rủi ro thanh khoản của NHTM có thể kể tới: Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Thông tư số 36/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 20/11/2014 quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thông tư số 06/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 25/05/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2014/TT-NHNN. Những quy định tại các văn bản này mặc dù còn có những khoảng cách nhất định so với thông lệ quốc tế, song đã phần nào đáp ứng được yêu cầu giám sát, quản lý của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và mục tiêu an toàn hoạt động của hệ thống NHTM. Một cách khái quát, pháp luật về quản lý rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam bao gồm những nội dung cơ bản như sau:

Đọc tiếp »

TS. ĐỖ HOÀI LINH VÀ ThS. KHÚC THẾ ANH

TRƯỜNG ĐH KINH TẾ QUỐC DÂN

Với sự phát triển của khoa học công nghệ, thương mại điện tử là một xu hướng tất yếu với các doanh nghiệp, trong đó có ngành Ngân hàng. Để tiếp cận và cung cấp dịch vụ theo yêu cầu ngày càng cao của khách hàng, các công cụ marketing cần phải thay đổi để tạo được tương tác tốt nhất. Digtital marketing – một xu hướng phát triển mới trong ngành Ngân hàng thế giới, những kinh nghiệm và bài học cho các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ được nghiên cứu trong bài viết.

1. Giới thiệu

Sự phát triển công nghệ thông tin với xu hướng bùng nổ của mạng xã hội trong đời sống dẫn đến các hoạt động marketing phải thay đổi theo hướng thích nghi với cuộc sống của một bộ phận dân cư, nhất là thế hệ đang trong giai đoạn trưởng thành thế hệ Y (Young generation – được sinh trong giai đoạn 1977 – 1994) và thế hệ trẻ (Z generation được sinh ra từ những năm 1995 trở đi); Phạm Hồng Hoa (2013) cho rằng, tiếp cận khách hàng qua các kênh trực tuyến như điện thoại di động, email, mạng xã hội… đang dần trở thành xu hướng phổ biến. Từ gần 10 năm trở lại đây, các giao dịch thông qua hệ thống máy tính điện tử trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng được đẩy mạnh, giúp ngân hàng và khách hàng tiết kiệm thời gian cũng như chi phí giao dịch kết hợp với lộ trình mở cửa nền kinh tế, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đang trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Những áp lực mà các ngân hàng trong nước phải đối mặt là việc quảng bá hình ảnh đến khách hàng cũng như lựa chọn thị trường mục tiêu đang dần bị lép vế trước những ngân hàng quốc tế như HSBC, CitiBank, ANZ… Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là các ngân hàng trong nước chưa chú trọng phát triển digital marketing – một trong những phương pháp tiếp thị trực tiếp đến người tiêu dùng thông qua những tiến bộ của công nghệ thông tin.

Khái niệm digital marketing và digital marketing trong lĩnh vực ngân hàng, xu hướng phát triển chung của tiếp thị số, từ đó bài viết đưa ra một số hàm ý đối với các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

2. Tổng quan nghiên cứu về digital marketing trong ngân hàng

2.1. Khái quát về digital marketing

Đọc tiếp »

HỒNG PHÚC

(TBKTSG) – Cam kết hội nhập tài chính-ngân hàng theo TPP sẽ theo nguyên tắc “chọn bỏ”, “chỉ tiến, không lùi”. Giới kinh doanh tài chính giờ không nói đến chuyện lớn hay nhỏ nữa, họ chỉ nói tới chuyện nhanh hay chậm mà thôi.

TPP nói gì?

Nhìn chung, nội dung cam kết về ngành ngân hàng tài chính trong TPP gồm các điểm chính: mở rộng cam kết về mở cửa thị trường, trong đó lưu ý các tổ chức tài chính trong 12 nước được cung cấp và nhận dịch vụ xuyên biên giới; tăng cường minh bạch hóa; bảo hộ đầu tư với cơ chế giải quyết tranh chấp minh bạch, rõ ràng và có hiệu quả; không phân biệt quốc tịch nhân sự cấp cao; cho phép áp dụng các ngoại lệ và các quy định quản lý thận trọng; cam kết không chạy đua phá giá tiền tệ; thành lập Ủy ban Dịch vụ tài chính của khối TPP.

Diễn giải cụ thể hơn những điểm chính này, chúng tôi trao đổi với ông Cấn Văn Lực, chuyên gia nghiên cứu về ngân hàng. Ông cho biết, các quy định với ngành ngân hàng tài chính của WTO so với TPP về cơ bản không khác nhau nhiều, tuy nhiên yêu cầu của TPP buộc các tổ chức ngân hàng tài chính phải cởi mở hơn và có ba điểm nổi bật.

Thứ nhất, TPP cho phép 12 nước thành viên cung cấp các dịch vụ ngân hàng xuyên biên giới trong nội khối, tức khai thác chung khách hàng. Cá nhân, tổ chức tại Việt Nam có thể sử dụng dịch vụ của ngân hàng ở Mỹ hay ở bất kỳ ngân hàng nào trong 12 nước TPP mà ngân hàng đó không cần mở chi nhánh tại Việt Nam như trước. Trước đây WTO cho phép các ngân hàng mở chi nhánh 100% vốn nước ngoài tại thị trường nước thành viên chứ chưa cho phép cung cấp dịch vụ ngân hàng trực tiếp như TPP. Khi các ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ từ xa sang thị trường nước khác qua mobile banking và internet banking và các công cụ khác, cạnh tranh chắc chắn sẽ khốc liệt hơn trên quy mô lớn.

Đọc tiếp »

(TBKTSG Online) – “Lãi suất và thị trường là hai mấu chốt đang có vấn đề thực sự mà doanh nghiệp cần chú ý từ nay đến cuối năm và có thể cả năm sau”, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, hiện là thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, nhấn mạnh trong cuộc trả lời phỏng vấn TBKTSG.

Ông nói: “Dự báo mới nhất của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) làm tôi lo ngại. Họ không còn nói kinh tế thế giới tăng trưởng chậm hoặc phục hồi chậm như trước, mà dùng từ suy giảm dài hạn”.

TBKTSG: Có phải ý ông muốn đề cập đến giá hàng hóa cơ bản trên thị trường quốc tế vẫn đang đi xuống không?

– Ông Lê Xuân Nghĩa: Đúng vậy. Trên thị trường quốc tế sáu tháng đầu năm giá hàng hóa cơ bản giảm 6%, nhất là nông sản. Doanh nghiệp Việt Nam cách đây hai năm đầu tư nhiều để chuẩn bị đón đầu các hiệp định thương mại tự do. Họ đầu tư công nghệ theo kiểu nửa hiện đại, nửa cổ điển. Thí dụ máy xén giấy, họ mua dao cắt, phần điều khiển của Mỹ, của châu Âu, phần còn lại họ mua của Trung Quốc vì rẻ. Đó là cách đầu tư “liệu cơm gắp mắm” của người Việt, cũng tốt. Nhưng đáng lo là tất cả những khoản đầu tư đó đều hướng đến xuất khẩu. Nếu năm nay là đáy của giá hàng hóa, thì năm sau giá có thể lên. Tuy nhiên theo dự báo của IMF, năm nay có thể chưa là đáy, năm sau giá vẫn nằm ngang như thế, thì nhiều doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu.

Đọc tiếp »

NGUYỄN QUANG HIỀN

Ngân hàng là công cụ quan trọng giúp Chính phủ điều hành nền kinh tế, huy động vốn cho các dự án, là trung tâm thanh toán và thực thi chính sách tiền tệ, nơi tập trung khối lượng tiền, ngoại tệ, các giấy tờ có giá và các tài sản quý. Do đó, tội phạm luôn xác định ngân hàng là mục tiêu, điểm đến để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Hiện nay, chưa có một khái niệm chính thống và cũng chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng. Do đó, việc nhận diện đúng tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng cũng như các tình tiết liên quan có ý nghĩa rất quan trọng về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

1. Thực trạng tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng

Tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam đang diễn ra rất phức tạp, với tính chất, quy mô, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt và có chiều hướng ngày càng gia tăng. Đối tượng phạm tội ngày càng đa dạng, bao gồm người Việt Nam và cả người nước ngoài, hoạt động trong quốc gia hoặc xuyên quốc gia với công nghệ cao. Người phạm tội thường che giấu hành vi phạm tội, tiêu huỷ chứng cứ, dùng nhiều thủ đoạn để đối phó với các cơ quan quản lý, cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời lợi dụng các mối quan hệ “phức tạp” để tác động, chạy tội, gây khó khăn cho hoạt động tiến hành tố tụng.

1.1. Phương thức, thủ đoạn phạm tội

Đọc tiếp »

ThS. NGUYỄN XUÂN BANG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT

Phòng ngừa rủi ro là nội dung cơ bản đảm bảo sự an toàn và hiệu quả trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại (NHTM) . Có nhiều biện pháp phòng ngừa rủi ro bằng biện pháp kinh tế, biện pháp công nghệ, biện pháp tâm lý – văn hóa, biện pháp chính sách – nghiệp vụ và biện pháp pháp luật. Trong các biện pháp đó, pháp luật được coi là biện pháp hiệu quả nhất. Bài viết bước đầu nêu ra một số vấn đề của của pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM, bao gồm: bản chất, vai trò và các yêu cầu của pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM.

1.Bản chất của pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại

Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật…”. Trong quản lý kinh tế nói chung, quản lý hoạt động ngân hàng nói riêng và đặc biệt là bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, điều chỉnh bằng pháp luật là vô cùng quan trọng. “Thực tế đã cho thấy rằng, trong bất cứ chế độ kinh tế nào cũng cần có sự điều tiết của nhà nước bằng pháp luật để giải quyết những vấn đề mà tự thân cơ chế kinh tế không thể giải quyết được”[1]. Thật vậy, trong hoạt động ngân hàng, các NHTM không thể tự mình giải quyết hàng loạt vấn đề như: phòng ngừa rủi ro, xử lý rủi ro, cạnh tranh không lành mạnh, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng v.v.. mà thông qua pháp luật, nhà nước sẽ thực hiện vai trò điều tiết nền kinh tế, duy trì trật tự kinh doanh và đảm bảo an toàn về pháp lý cho các chủ thể trong nền kinh tế nói chung và các NHTM nói riêng.

Đọc tiếp »

MINH ĐỨC

Một tuần sau sự kiện Ngân hàng Nhà nước tuyên bố mua lại bắt buộc toàn bộ vốn cổ phần của Ngân hàng Xây dựng (VNCB) với giá 0 đồng/cổ phần, thị trường vẫn chưa thể định hình một hướng nhìn thống nhất.
Lần đầu tiên Việt Nam mới có trường hợp xử lý như vậy. Một tiền lệ đặc biệt! Cũng vì là lần đầu tiên, nên càng cần có nhiều phân tích, soi chiếu để đúc kết về một bài học kinh nghiệm, một luật chơi trong kinh doanh, cũng như một ứng xử của nhà quản lý.
Nói không quá, có thể xem đây là một “bước tiến hóa đặc biệt” trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.
Một tiền lệ chưa rõ ràng
Thế nhưng, cho đến nay, ngoài thông cáo vẻn vẹn trong một trang giấy của Ngân hàng Nhà nước, không có thêm những thông tin công bố chính thống cần thiết để nhìn nhận một cách đầy đủ về tiền lệ này.
Diễn biến phiên họp đại hội đồng cổ đông bất thường của VNCB cũng không được thông tin trên báo chí, dù đây là một ngân hàng đại chúng, có trên 500 cổ đông.
Nhưng những điều đó không giới hạn các góc nhìn. Với các cổ đông của VNCB, đây là tiền lệ khắc nghiệt. Với người ngoài cuộc, một số quan điểm xem là một tiền lệ chưa rõ ràng.
VnEconomy đã tham vấn quan điểm 6 lãnh đạo cao cấp ở các ngân hàng thương mại. Đó là 6 góc nhìn bước đầu khác nhau. Nói là bước đầu, bởi lần đầu tiên có tình huống xử lý như vậy, mà lại thiếu các thông tin nội tại cần thiết để định hình.
3/6 lãnh đạo nói trên đều có ý rằng, họ chưa kịp định hình và chưa nghiên cứu sự kiện này. Nhưng có một số điểm còn băn khoăn.

Đọc tiếp »

HUỲNH HOA

Nick Leeson, thủ phạm làm sụp đổ Ngân hàng Barings, giờ đây là một diễn giả được mời mọc ở Anh; anh ta thường đến nói chuyện với các nhà doanh nghiệp về quản trị rủi ro trong ngành tài chính-ngân hàng. Ảnh: Nottingham Post

Nick Leeson và sự phá sản của Ngân hàng Barings

Nicholas “Nick” William Leeson sinh năm 1967, là nhân viên môi giới chứng khoán phái sinh của Ngân hàng Đầu tư Barings tại Singapore. Những hoạt động đầu cơ chứng khoán của Nick đã dẫn tới khoản thua lỗ hơn 1,4 tỉ đô la Mỹ và “xóa sổ” luôn ngân hàng này năm 1995.
Nick Leeson tham gia Ngân hàng Barings năm 1989 và ba năm sau anh ta được bổ nhiệm làm giám đốc bộ phận kinh doanh chứng khoán phái sinh tại Sàn Giao dịch tiền tệ quốc tế Singapore (SIMEX). Trước khi sang Singapore, Nick đã bị Ủy ban Chứng khoán Anh Quốc từ chối cấp giấy phép hành nghề môi giới vì phát hiện gian lận trong hồ sơ xin hành nghề của anh ta.

Đọc tiếp »

THS. NGUYỄN VĂN THỌ (Vietcombank)

Ths. NGUYỄN NGỌC LINH (Baovietbank)

Luattaichinh: Cách xử lý nợ xấu này, tuy về mặt thực tiễn rất đáng tham khảo, nhưng về ý nghĩa quản trị vốn, thì nó không khác so với mô hình VAMC là bao nhiêu. Tiền thật bao giờ về đến ngân hàng, vẫn luôn là một câu hỏi.

Sau đây là toàn văn nội dung bài viết:

Thời gian qua, hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Vấn đề trọng tâm hiện nay là xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại, bởi nó làm tắc nghẽn dòng tín dụng trong nền kinh tế Việt Nam. Xử lý nợ xấu là bước đi quan trọng trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và có ảnh hưởng không nhỏ đến điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng. Có nhiều biện pháp để TCTD xử lý nợ xấu, tuy nhiên, chuyển nợ thành vốn góp được coi là một trong những biện pháp nhanh chóng, hiệu quả và mang lại lợi ích cho cả người vay và người nợ.

1. Khái niệm nội dung xử lý nợ xấu bằng biện pháp chuyển nợ thành vốn góp

1.1. Khái niệm chuyển nợ thành vốn góp

Chuyển nợ thành vốn góp là việc chủ nợ hoặc tổ chức thay vì thu hồi tiền nợ đã cho doanh nghiệp vay, họ sẽ lấy khoản nợ phải thu đó để “mua” chính cổ phần của doanh nghiệp hoặc một đối tác quan tâm mua lại chính khoản nợ đó từ chủ nợ với giá tương đương hoặc theo thỏa thuận. Khi đó, chủ nợ hoặc người mua nợ sẽ trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp, đầu tư thêm vốn để tái cơ cấu lại toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp từ tổ chức nhân sự đến hoạt động kinh doanh và định hướng phát triển…

1.2. Ưu điểm của biện pháp chuyển nợ thành vốn góp

  – Đối với TCTD: Việc áp dụng biện pháp này sẽ giúp ngân hàng sớm thoát khỏi nợ xấu, “làm đẹp” bản báo cáo tài chính, đồng thời giúp ngân hàng tăng nguồn vốn do vốn vay chuyển thành khoản đầu tư tài chính của ngân hàng.

  – Đối với doanh nghiệp: Việc chuyển nợ thành vốn góp sẽ ngay lập tức giúp doanh nghiệp bỏ áp lực trả nợ cho ngân hàng, có điều kiện khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh từ nguồn cấp vốn của các TCTD hoặc các nguồn vốn đầu tư khác.

  – Đối với nền kinh tế: Việc xử lý nợ xấu theo biện pháp chuyển nợ thành vốn góp sẽ giảm thiểu được những tác động tiêu cực như: doanh nghiệp bị phá sản, người lao động mất việc làm… Biện pháp này không chỉ giúp các TCTD sớm thu hồi được nợ xấu, vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội phục hồi và phát triển.

1.3. Đối tượng áp dụng

Biện pháp chuyển nợ thành vốn góp cổ phần tỏ rõ hiệu quả trong việc xử lý khoản nợ của các doanh nghiệp gặp khó khăn tạm thời trong hoạt động kinh doanh, có đủ thực lực để khôi phục lại hoạt động sản xuất kinh doanh nếu có nguồn vốn hỗ trợ. Các doanh nghiệp này phải có thương hiệu trên thị trường, có hệ thống nhà xưởng, dây chuyền máy móc thiết bị sản xuất kinh doanh, lãnh đạo doanh nghiệp có tâm huyết và thực sự muốn vực dậy doanh nghiệp…

2. Thực trạng hoạt động chuyển nợ thành vốn góp tại Việt Nam

Đọc tiếp »

HẢI AN

(Tài chính) Phòng chống "rửa tiền" là vấn đề làm đau đầu các nhà chức trách các nước. Mỗi năm bọn tội phạm tiến hành “rửa” từ 1.000-1.500 tỷ USD trên toàn thế giới.

    Vòng quay “rửa tiền” trên thế giới

Mỗi năm bọn tội phạm tiến hành “rửa” từ 1.000-1.500 tỷ USD trên toàn thế giới. Nguồn: Internet

“Rửa tiền" và các tác hại

Thuật ngữ "rửa tiền" lần đầu tiên xuất hiện trên báo chí Mỹ là vào năm 1973 trong vụ bê bối tài chính Watergate nổi tiếng nước Mỹ. Năm năm sau đó thuật ngữ "rửa tiền" chính thức được sử dụng trong một số văn bản pháp lý của tòa án Mỹ. Thuật ngữ này trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần đây bởi tính phổ biến và ảnh hưởng của chúng. Tổ chức chống "rửa tiền" quốc tế (Finance Action Task Force) đã định nghĩa hoạt động của "rửa tiền" là:

• Việc giúp đỡ đối tượng phạm pháp lẩn tránh sự trừng phạt của pháp luật;

• Việc cố ý che giấu nguồn gốc, bản chất, việc cất giấu, di chuyển hay chuyển quyền sở hữu tài sản phạm pháp;

• Việc cố ý mua, sở hữu hay sử dụng tài sản phạm pháp.

Như vậy, hiểu một cách khái quát thì "rửa tiền" là toàn bộ các hoạt động được tiến hành một cách cố ý nhằm hợp pháp hóa tiền và tài sản có nguồn gốc từ tội phạm.

Việc "rửa tiền" thành công sẽ giúp cho các hoạt động phạm tội có thể sinh lợi, để những kẻ tội phạm có thể "hưởng thụ" các thành quả thu được từ các hoạt động tội phạm. Vì vậy, chừng nào một nước còn được coi là nơi ẩn náu an toàn cho hoạt động "rửa tiền" thì khi đó còn có nhiều khả năng nước đó có sức lôi cuốn tội phạm và thúc đẩy tham nhũng.

Tai tiếng về một nơi ẩn náu an toàn cho "rửa tiền" và tài trợ cho khủng bố cũng đã có thể gây ra những hậu quả bất lợi đáng kể cho sự phát triển của một đất nước. Các tổ chức tài chính nước ngoài có thể quyết định hạn chế các giao dịch của mình với những tổ chức là nơi ẩn náu an toàn cho "rửa tiền"; buộc những giao dịch như vậy phải qua sự kiểm soát gắt gao hơn, khiến cho chúng thêm tốn kém hoặc chấm dứt hoàn toàn các mối quan hệ giao dịch hay vay mượn. Ngay cả các doanh nghiệp hợp pháp lẫn những doanh nghiệp là nơi ẩn náu an toàn cho "rửa tiền" cũng có thể bị giảm khả năng tiếp cận các thị trường thế giới hoặc phải tiếp cận với chi phí cao hơn do phải chịu sự kiểm soát gắt gao hơn về quyền sở hữu, các hệ thống tổ chức và kiểm soát.

Ở các nước đang phát triển, lĩnh vực tài chính mới được tư nhân hóa và chính phủ vẫn trong quá trình xây dựng luật lệ quản lý nên họ dễ trở thành mục tiêu và phải gánh chịu tác động nặng nề của hoạt động rửa tiền thời toàn cầu hóa.

"Rửa tiền" và tài trợ cho khủng bố có thể gây nguy hại theo nhiều cách cho sự lành mạnh của khu vực tài chính của một đất nước cũng như cho sự ổn định của từng tổ chức tài chính. Những hậu quả tai hại đó được coi là rủi ro đối với uy tín, nghiệp vụ, pháp lý và rủi ro tập trung đều có mối quan hệ qua lại với nhau. Mỗi rủi ro đều gây ra những chi phí cụ thể: Mất đi hoạt động kinh doanh sinh lợi; Những vấn đề về tính thanh khoản do việc rút tiền gây ra; Giảm giá trị cổ phiếu của các tổ chức tài chính…

Bên cạnh đó, những kẻ "rửa tiền" khét tiếng là những kẻ biết sử dụng “các công ty bình phong”- là những doanh nghiệp có vẻ bề ngoài hợp pháp và tham gia vào hoạt động kinh doanh hợp pháp nhưng trên thực tế lại do bọn tội phạm kiểm soát.

Những công ty bình phong này hòa trộn các quỹ phi pháp với các quỹ hợp pháp để che giấu những khoản tiền bất chính. Khả năng tiếp cận của các công ty bình phong tới những quỹ phi pháp cho phép chúng bao cấp các sản phẩm và dịch vụ của công ty, thậm chí với giá thấp hơn giá thị trường. Do vậy, các doanh nghiệp hợp pháp sẽ khó cạnh tranh với những công ty bình phong khi mục tiêu duy nhất của chúng là bảo toàn và bảo vệ những khoản tiền bất hợp pháp chứ không phải để tạo một ra bất cứ khoản lợi nhuận nào.

Điều này cũng làm tăng sự bất ổn định tiềm tàng về khía cạnh tiền tệ và kinh tế do sự phân bổ sai lệch các nguồn lực bắt nguồn từ tình trạng méo mó giả tạo của giá tài sản và hàng hóa. Nó cũng tạo ra một cơ chế cho trốn thuế, từ đó làm cạn kiệt nguồn thu của đất nước.

Hậu quả kinh tế của các hành vi “rửa tiền” có thể nghiêm trọng hơn. Trong những năm 90 của thế kỷ trước nhiều ngân hàng ở các nước vùng Baltic đã sụp đổ vì khách hàng lo lắng đến rút hết tiền do nghe tin đồn lan rộng về những khoản tiền bẩn rất lớn gửi vào ngân hàng.

Vòng quay "rửa tiền"

Đọc tiếp »

Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Bảo Hiểm

Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường trong các phân ngành dịch vụ bảo hiểm sau:

  • Bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm y tế);
  • Bảo hiểm phi nhân thọ;
  • Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;
  • Trung gian bảo hiểm (môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm);
  • Các dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường).

Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có thể thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam theo những hình thức nào?

Theo cam kết trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm, các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài được quyền hiện diện ở Việt Nam dưới các hình thức:

  1. Văn phòng đại diện (tuy nhiên các văn phòng đại diện không được phép kinh doanh sinh lời trực tiếp);
  2. Liên doanh với đối tác Việt Nam;
  3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (với những hạn chế về loại dịch vụ được phép cung cấp theo lộ trình);
  4. Chi nhánh (với điều kiện mở sau 11/1/2012 và chi nhánh chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ).

Hộp 1 – Hạn chế về loại dịch vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài được phép cung cấp
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc, bao gồm:
– Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba;
– Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt;
– Bảo hiểm các công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường.
Cũng theo cam kết thì tất cả các hạn chế này phải được bãi bỏ từ ngày 1/1/2008.

Tỷ lệ góp vốn tối đa dưới hình thức mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam là bao nhiêu?

Đọc tiếp »

Luật gia TRẦN VŨ HẢI

Hôm nay, bên cạnh những diễn biến Biển Đông, chương trình thời sự VTV1 có nói đến ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch nước trong việc giải quyết vụ đại án Huỳnh Thị Huyền Như ở giai đoạn phúc thẩm.
Về vụ án này, mình đã từng có ý kiến ở nhiều buổi giảng cho các học viên.
Với những bằng chứng có được đến thời điểm này, theo mình thì việc xử Huỳnh Thị Huyền Như là đúng người, đúng tội. Nhưng hậu quả dân sự thì không đúng.
Đối với những hợp đồng tiền gửi của khách hàng đã được Vietinbank xác nhận, thì khoản tiền đó là thuộc sở hữu của Vietinbank. Về bản chất quan hệ pháp luật dân sự, khách hàng cho ngân hàng vay tiền thông qua hợp đồng tiền gửi, và theo quy định của Bộ luật Dân sự thì người vay là chủ sở hữu của tài sản vay. Do đó, Huỳnh Thị Huyền Như đã lừa đảo Viettinbank khi chiếm đoạt những khoản tiền đó chứ không phải là lừa đảo khách hàng của Vietinbank. "Tài khoản" chỉ là khái niệm về công cụ ghi chép nhằm xác nhận trách nhiệm của Vietinbank đối với người gửi tiền, chứ nó không phải là tài sản.

Đọc tiếp »

Sở hữu chéo, đầu tư chéo có ở hầu hết các hệ thống tài chính trên thế giới với quy mô, mức độ phức tạp và biện pháp quản lý, kiểm soát khác nhau. Nói một cách đơn giản nhất thì sở hữu chéo là việc một số chủ thể sở hữu cổ phần, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp ở từ hai ngân hàng trở lên hoặc sở hữu cổ phần lẫn nhau. Đến nay, vấn đề sở hữu chéo giữa các ngân hàng thu hút sự quan tâm đáng kể bởi nhiều lý do: Thứ nhất, sở hữu chéo có thể gây cản trở đến năng lực cạnh tranh và vì vậy tác động không nhỏ đến sự phân bổ quyền sở hữu tài sản; Thứ hai, sở hữu chéo trong nhiều trường hợp có liên quan rất lớn đến những người sáng lập chính của ngân hàng mà vì nhiều lý do không thể đảm bảo quản trị ngân hàng hiệu quả.

Trong những năm 1990, hệ thống ngân hàng của Ý đã có những thay đổi sâu sắc cả về khuôn khổ pháp lý lẫn cơ cấu, tổ chức và đó là một trong những nhân tố góp phần gỡ bỏ đáng kể những rào cản về gia nhập thị trường, tự do mở chi nhánh ngân hàng, xác định lại cơ cấu sở hữu và diễn ra hàng loạt các hoạt động hợp nhất, sáp nhập. Trong giai đoạn này, các học giả đa phần tập trung nghiên cứu những ảnh hưởng của cuộc cải cách đến quá trình củng cố hệ thống ngân hàng mà ít chú ý đến sự hình thành hết sức phức tạp của sở hữu chéo gắn liền với các tập đoàn ngân hàng lớn của Ý.

1. Tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Ý:

Đọc tiếp »

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN

Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

(TBKTSG) – Nhìn từ thực trạng vi phạm các quy định trong lĩnh vực ngân hàng để thấy dẫu có cả một “rừng luật” thì cũng chẳng có ý nghĩa gì nếu xã hội không có tinh thần thượng tôn pháp luật.

Sao có thể làm ngơ?

Điều 55 của Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) 2010 quy định một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một TCTD, đồng thời cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó cũng không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một TCTD. Thế nhưng, trên thực tế có một số cổ đông là cá nhân, và trong nhiều trường hợp khác khi tính cả những người có liên quan đến cá nhân đó, đã và đang nắm giữ số cổ phần vượt quá tỷ lệ sở hữu quy định này. Điều chúng ta thắc mắc là tại sao luật pháp đã quy định khá rõ ràng rồi nhưng không thấy ai bị xử lý gì cả, kể cả một ý kiến chính thức từ cơ quan chức năng, trực tiếp ở đây là Ngân hàng Nhà nước (NHNN), về vấn đề này cũng chưa có.
Có người cho rằng, dù biết sai phạm(?!) nhưng do luật pháp của Việt Nam còn nhiều khiếm khuyết nên không thể xử lý được mà cần phải chờ để hoàn thiện các khiếm khuyết đó. Rõ ràng tâm lý chờ đợi có một hệ thống luật pháp hoàn bị rồi mới hành động là không thể chấp nhận được vì nó sẽ làm cho các quy định của luật pháp trở nên vô nghĩa. Việc viện lý do luật pháp có nhiều lỗ hổng hoặc không đủ chỉ là sự biện minh cho hành vi cố tình né tránh trách nhiệm hoặc làm ngơ trước một trở lực nào đó mà người có trách nhiệm thực thi luật pháp không dám đối mặt.

Vì sao cần phải thượng tôn pháp luật?

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Một 2018
H B T N S B C
« Th12    
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,810,493 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • VPBank 2017: Lợi nhuận cao nhờ chiến lược linh hoạt và quản trị rủi ro tốt 23/01/2018
    Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) vừa công bố báo cáo tài chính năm 2017 với kết quả nổi bật ở tất cả các chỉ số quan trọng, đây là kết quả của chiến lược tập trung vào phân khúc bán lẻ của Ngân hàng.
  • HOSE tạm ngưng giao dịch chứng khoán vì sự cố kỹ thuật 23/01/2018
    (TBKTSG Online) - Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE) đã có thông cáo báo chí việc tạm ngừng giao dịch chứng khoán trong ngày hôm nay, 23-1-2018.
  • Chứng khoán đầu tuần bùng nổ 22/01/2018
    (TBKTSG Online) - Phiên giao dịch đầu tuần dù có một sự cố trên sàn HOSE nhưng không ảnh hưởng nhiếu đến hệ thống. Kết thúc ngày giao dịch, hai sàn đều tăng điểm nhờ các cổ phiếu vốn hóa lớn.
  • Chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục được nới lỏng 22/01/2018
    (TBKTSG) - Nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới định hướng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn là lạm phát. Lạm phát cơ bản của Việt Nam hiện ở mức khá thấp nhưng việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN những năm gần đây lại căn cứ chủ yếu vào diễn biến của lạm phát toàn phần. […]
  • Hạ lãi suất không đơn giản 21/01/2018
    (TBKTSG) - Bước sang năm mới, Thủ tướng đã đặt nhiệm vụ cho ngành ngân hàng phấn đấu giảm tiếp lãi suất cho vay để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Bối cảnh của yêu cầu này có lẽ là tăng trưởng tín dụng hợp lý, lạm phát được kiểm soát khá tốt, tỷ giá ổn định, nợ xấu được tăng cường xử lý nhờ Nghị quyết tái cơ cấu các tổ chức tín dụng (TCTD) và xử lý nợ xấu của Qu […]
  • Bộ Tài chính muốn đánh thuế chuyển nhượng vốn 2% 20/01/2018
    (TBKTSG) - Theo dự thảo luật sửa đổi, bổ sung sáu luật thuế vừa được Bộ Tài chính đưa ra lấy ý kiến, thuế nhà thầu đối với hoạt động chuyển nhượng vốn được đề xuất là 2% trên giá trị thương vụ, thay vì 1% như đề xuất đã từng bị phản ứng trước đó cũng như thay cho quy định 20% trên chênh lệch giá như hiện hành. Theo những người trong ngành, quy định như vậy d […]
  • Dòng tiền sẽ chảy vào nhóm chứng khoán, ngân hàng 20/01/2018
    (TBKTSG Online) - Dòng tiền trong tuần sau dự kiến sẽ "linh hoạt" tham gia vào các công ty có kết quả kinh doanh vượt kỳ vọng của thị trường, trong đó nhóm chứng khoán, ngân hàng được chờ đợi nhiều nhất.
  • Sắc xanh cuối tuần 19/01/2018
    (TBKTSG Online) - Phiên giao dịch cuối tuần nhiều loại cổ phiếu tăng giá khép lại một ngày giao dịch với sắc xanh chủ đạo. Đây là phiên thứ 2 liên tiếp hai sàn đều tăng điểm.
  • Chuyển động thoái vốn ngân hàng 19/01/2018
    (TBKTSG) - Thông tin mới nhất từ một thành viên HĐQT Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương (SaigonBank): sau một thời gian dài cân nhắc, cuối cùng cổ đông lớn của SaigonBank là Thành ủy TPHCM đã quyết định chính thức sẽ thoái toàn bộ vốn góp tại đây.
  • Đô la chảy vào chứng khoán 19/01/2018
    (TBKTSG) - Dự trữ ngoại hối của Việt Nam lần đầu tiên đạt con số 54,5 tỉ đô la Mỹ vào tuần trước theo công bố của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Đáng nói hơn là tốc độ gia tăng của quỹ dự trữ ngoại hối khi chỉ trong hai tuần cơ quan quản lý mua vào 2,5 tỉ đô la Mỹ. Các ngân hàng cho biết cung ngoại tệ đang dồi dào, không chỉ từ nguồn đầu tư trực tiếp nước ngo […]