You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat ve Dich vu ngan hang’ category.

GS ĐINH XUÂN TRÌNH PGS, TS ĐẶNG THỊ NHÀN

ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Tóm tắt: Khoảng cách về không gian, thời gian của thương mại quốc tế so với thương mại nội địa đã sản sinh ra một phương thức thanh toán quốc tế ưu việt, thuận tiện, an toàn và đảm bảo gắn trách nhiệm với quyền lợi của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thông qua vai trò quan trọng của các ngân hàng, đó là phương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credits). Khi sử dụng phương thức tín dụng chứng từ, khả năng người xuất khẩu có được thanh toán hay không là hoàn toàn phụ thuộc vào chứng từ giao hàng (Shipping Documents) được yêu cầu xuất trình. Vì vậy đòi hỏi nhà xuất khẩu phải tuân thủ một cách chặt chẽ những quy định về chứng từ xuất trình. Các ngân hàng chỉ trả tiền khi các chứng từ xuất trình của người xuất khẩu phù hợp với thư tín dụng (L/C), với các điều khoản có thể áp dụng được của Các tập quán và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP600 2007), phù hợp với Thực tiễn ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế về kiểm tra chứng từ theo UCP600 (ISBP745 2013).

Bài viết nhằm giới thiệu những điểm mới của quy tắcThực tiễn ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế về kiểm tra chứng từ theo UCP600 (ISBP745 2013) do Phòng thương mại quốc tế ICC vừa mới ban hành tháng 4.2013, đồng thời phân tích một số điểm bất cập của quy tắc này nhằm lưu ý các ngân hàng và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu khi áp dụng ISBP745.

1. Sự ra đời và những điểm mới của ISBP 745 2013

Các tập quán và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (The Uniform Customs and Practice for the Documentary Credits – viết tắt là UCP)do Phòng thương mại quốc tế (ICC) tại Paris ban hành năm 1933 và sửa đổi lần đầu tiên vào năm 1951. Nhìn chung, cứ 10 năm UCP lại được sửa đổi một lần cho phù hợp với sự phát triển và thay đổi hoạt động của các ngành thương mại, ngân hàng, tài chính, vận tải, giao nhận và bảo hiểm. UCP được ban hành nhằm thống nhất các quy định trong hoạt động thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia hoạt động này.

Đọc tiếp »

Advertisements
MATTHIEU MONTALBAN, Đại học Bordeaux
Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Những thực tiễn liên quan đến Bitcoin và blockchain (chuỗi khối hay công nghệ chuỗi khối) đang bắt đầu lan rộng. Đối với một số người, đó chỉ là một vật dụng mới lạ, hoặc là một trò bịp, đối với một số người khác đó là một cuộc cách mạng thực sự có thể làm biến đổi hệ thống tiền tệ và tài chính, hoặc thậm chí cả hệ thống kinh tế, một cách lâu dài. Trong bài viết này, chúng tôi điểm qua nguồn gốc, những tiềm năng và rủi ro liên quan đến các loại tiền kỹ thuật số và blockchain. Bài viết này sẽ tập trung vào các loại tiền kỹ thuật số như Bitcoin. Sau khi giới thiệu nền tảng triết học của các loại tiền kỹ thuật số, chúng tôi sẽ xem xét những nguyên nhân và lợi thế giải thích sự phát triển của Bitcoin và các loại tiền kỹ thuật số khác. Sau đó chúng tôi sẽ thảo luận về những hạn chế của chúng và những phê phán có thể có.

Nền tảng triết học của các loại tiền kỹ thuật số

Bitcoin là sản phẩm của một dự án chính trị và blockchain là công nghệ đã làm cho dự án này trở nên khả thi. Ít nhất là từ cuối những năm 1970 và từ bài viết của Friedrich Hayek về dự án phi quốc gia hóa tiền tệ[1] , thì một trong những điều ám ảnh của những người theo chủ nghĩa tự do triệt để (một tên gọi khác của những người theo chủ nghĩa tư bản vô chính phủ hoặc chủ nghĩa tự do cực đoan) là giải phóng việc tạo sinh tiền tệ khỏi ảnh hưởng của ngân hàng trung ương và Nhà nước. Theo họ, ảnh hưởng này chịu trách nhiệm về tình hình lạm phát và về những rủi ro quá mức của ngân hàng. Các nhà tự do cực đoan đã nảy sinh nhiều dự án trong đầu, được trường phái Áo truyền cảm hứng, như dự án free banking (các ngân hàng tư nhân cạnh tranh với nhau trong việc phát hành chính đồng tiền riêng của mình, mà không cần đến ngân hàng trung ương với vai trò người cho vay cuối cùng), sự quay trở lại với vàng, tiền tệ 100% (cấm các ngân hàng cho vay vượt mức tiền được kí gởi, một hệ thống được những người tự do cực đoan gọi là hệ thống tiền dự trữ theo tỷ lệ).

Đọc tiếp »

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu các thay đổi chủ yếu của cơ chế cho vay mới của TCTD đối với khách hàng theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN.

Ngày 30/12/2016, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Thông tư 39/2016/TT-NHNN có hiệu lực thi hành từ ngày 15/3/2017 và thay thế 08 văn bản sau đây: (i) Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng; (ii) Quyết định số 28/2002/QĐ-NHNN ngày 11/01/2002 về sửa đổi Điều 2 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN; (iii) Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN; (iv) Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005 về việc sửa đổi, bổ sung Khoản 6 Điều 1 của Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN; (v) Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; (vi) Thông tư số 05/2011/TT-NHNN ngày 10/3/2011 quy định về thu phí cho vay của tổ chức tín dụng, ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; (vii) Thông tư số 33/2011/TT-NHNN ngày 08/10/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2010/TT-NHNN và Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN; (viii) Thông tư số 08/2014/TT-NHNN ngày 17/3/2014 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế. Thông tư 39/2016/TT-NHNN được ban hành nhằm khắc phục các bất cập đã nảy sinh trong quá trình thực hiện Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN, thực hiện các quy định tại các luật liên quan như Bộ luật dân sự 2015, Luật các tổ chức tín dụng 2010; đồng thời tạo lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ cho hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TCTD) đối với khách hàng. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu các thay đổi chủ yếu của cơ chế cho vay mới của TCTD đối với khách hàng theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN.

1. Về chủ thể vay vốn

Đọc tiếp »

TS. ĐỖ HOÀI LINH VÀ ThS. KHÚC THẾ ANH

TRƯỜNG ĐH KINH TẾ QUỐC DÂN

Với sự phát triển của khoa học công nghệ, thương mại điện tử là một xu hướng tất yếu với các doanh nghiệp, trong đó có ngành Ngân hàng. Để tiếp cận và cung cấp dịch vụ theo yêu cầu ngày càng cao của khách hàng, các công cụ marketing cần phải thay đổi để tạo được tương tác tốt nhất. Digtital marketing – một xu hướng phát triển mới trong ngành Ngân hàng thế giới, những kinh nghiệm và bài học cho các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ được nghiên cứu trong bài viết.

1. Giới thiệu

Sự phát triển công nghệ thông tin với xu hướng bùng nổ của mạng xã hội trong đời sống dẫn đến các hoạt động marketing phải thay đổi theo hướng thích nghi với cuộc sống của một bộ phận dân cư, nhất là thế hệ đang trong giai đoạn trưởng thành thế hệ Y (Young generation – được sinh trong giai đoạn 1977 – 1994) và thế hệ trẻ (Z generation được sinh ra từ những năm 1995 trở đi); Phạm Hồng Hoa (2013) cho rằng, tiếp cận khách hàng qua các kênh trực tuyến như điện thoại di động, email, mạng xã hội… đang dần trở thành xu hướng phổ biến. Từ gần 10 năm trở lại đây, các giao dịch thông qua hệ thống máy tính điện tử trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng được đẩy mạnh, giúp ngân hàng và khách hàng tiết kiệm thời gian cũng như chi phí giao dịch kết hợp với lộ trình mở cửa nền kinh tế, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đang trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Những áp lực mà các ngân hàng trong nước phải đối mặt là việc quảng bá hình ảnh đến khách hàng cũng như lựa chọn thị trường mục tiêu đang dần bị lép vế trước những ngân hàng quốc tế như HSBC, CitiBank, ANZ… Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là các ngân hàng trong nước chưa chú trọng phát triển digital marketing – một trong những phương pháp tiếp thị trực tiếp đến người tiêu dùng thông qua những tiến bộ của công nghệ thông tin.

Khái niệm digital marketing và digital marketing trong lĩnh vực ngân hàng, xu hướng phát triển chung của tiếp thị số, từ đó bài viết đưa ra một số hàm ý đối với các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

2. Tổng quan nghiên cứu về digital marketing trong ngân hàng

2.1. Khái quát về digital marketing

Đọc tiếp »

ThS. NGUYỄN QUANG HƯƠNG TRÀ
   CỤC ĐĂNG KÝ QUỐC GIA GIAO DỊCH BẢO ĐẢM, BỘ TƯ PHÁP

          Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2017 có nhiều nội dung đổi mới, trong đó có phần nội dung về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Nhìn một cách tổng thể, nội dung phần bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã tiệm cận tốt hơn với thông lệ quốc tế và cơ bản giải quyết được những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng bảo đảm. Có thể nói, những tiếp cận mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có sự ảnh hưởng và tác động mang tính chất chi phối đến cơ chế điều chỉnh pháp luật và nhận thức pháp luật trong lĩnh vực giao dịch bảo đảm và đăng ký biện pháp bảo đảm.
          1. Bộ luật Dân sự năm 2015 lần đầu tiên ghi nhận và thể hiện được một số giá trị cốt lõi của lý thuyết vật quyền khi điều chỉnh quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong sự hài hòa hóa với lý thuyết trái quyền
          Bộ luật Dân sự năm 2005 tiếp cận biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dựa trên nền tảng của lý thuyết trái quyền. Thực tiễn cho thấy, cách tiếp cận quan hệ bảo đảm thuần túy theo lý thuyết trái quyền chưa thể giải quyết được triệt để những vướng mắc phát sinh trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm.
          Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, thì giao dịch bảo đảm (là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm được quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật này)
[1]chính là căn cứ để bên nhận bảo đảm thực thi quyền xử lý tài sản bảo đảm (Điều 336, Điều 355, Điều 721 Bộ luật Dân sự năm 2005). Đây chính là yếu tố trái quyền của quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Cách tiếp cận này luận giải được căn cứ (cơ sở) để bên nhận bảo đảm có quyền và thực thi quyền xử lý đối với tài sản bảo đảm đó chính là hợp đồng bảo đảm. Vì tài sản bảo đảm vốn dĩ không thuộc quyền sở hữu của bên nhận bảo đảm, do đó, việc thực thi quyền xử lý tài sản bảo đảm phải dựa trên thỏa thuận của các bên trong hợp đồng bảo đảm đã giao kết.[2]
          Tuy nhiên, điểm yếu của cách tiếp cận thuần túy trái quyền này là ở chỗ, quyền xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm chỉ được thực hiện thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm theo hợp đồng bảo đảm đã giao kết. Hay nói cách, quyền xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm được thực thi trong sự phụ thuộc vào ý chí của bên bảo đảm (chủ sở hữu tài sản). Bên nhận bảo đảm không có quyền “trực tiếp” mang tính chất “chi phối” và “ngay tức khắc” đối với tài sản bảo đảm. Trường hợp bên bảo đảm không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết thì bên nhận bảo đảm chỉ có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết (Điều 721 Bộ luật Dân sự năm 2005).

Đọc tiếp »

HỒNG PHÚC

(TBKTSG) – Cam kết hội nhập tài chính-ngân hàng theo TPP sẽ theo nguyên tắc “chọn bỏ”, “chỉ tiến, không lùi”. Giới kinh doanh tài chính giờ không nói đến chuyện lớn hay nhỏ nữa, họ chỉ nói tới chuyện nhanh hay chậm mà thôi.

TPP nói gì?

Nhìn chung, nội dung cam kết về ngành ngân hàng tài chính trong TPP gồm các điểm chính: mở rộng cam kết về mở cửa thị trường, trong đó lưu ý các tổ chức tài chính trong 12 nước được cung cấp và nhận dịch vụ xuyên biên giới; tăng cường minh bạch hóa; bảo hộ đầu tư với cơ chế giải quyết tranh chấp minh bạch, rõ ràng và có hiệu quả; không phân biệt quốc tịch nhân sự cấp cao; cho phép áp dụng các ngoại lệ và các quy định quản lý thận trọng; cam kết không chạy đua phá giá tiền tệ; thành lập Ủy ban Dịch vụ tài chính của khối TPP.

Diễn giải cụ thể hơn những điểm chính này, chúng tôi trao đổi với ông Cấn Văn Lực, chuyên gia nghiên cứu về ngân hàng. Ông cho biết, các quy định với ngành ngân hàng tài chính của WTO so với TPP về cơ bản không khác nhau nhiều, tuy nhiên yêu cầu của TPP buộc các tổ chức ngân hàng tài chính phải cởi mở hơn và có ba điểm nổi bật.

Thứ nhất, TPP cho phép 12 nước thành viên cung cấp các dịch vụ ngân hàng xuyên biên giới trong nội khối, tức khai thác chung khách hàng. Cá nhân, tổ chức tại Việt Nam có thể sử dụng dịch vụ của ngân hàng ở Mỹ hay ở bất kỳ ngân hàng nào trong 12 nước TPP mà ngân hàng đó không cần mở chi nhánh tại Việt Nam như trước. Trước đây WTO cho phép các ngân hàng mở chi nhánh 100% vốn nước ngoài tại thị trường nước thành viên chứ chưa cho phép cung cấp dịch vụ ngân hàng trực tiếp như TPP. Khi các ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ từ xa sang thị trường nước khác qua mobile banking và internet banking và các công cụ khác, cạnh tranh chắc chắn sẽ khốc liệt hơn trên quy mô lớn.

Đọc tiếp »

THS. NGUYỄN ĐỨC LONG

Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trong những năm qua, hoạt động cho vay tiêu dùng tại Việt Nam phát triển khá mạnh, với sự tham gia tích cực của nhiều tổ chức tín dụng (TCTD), đặc biệt là các công ty tài chính (CTTC). Dù còn ở mức khiêm tốn nhưng tổng dư nợ tín dụng tiêu dùng và tỷ trọng tín dụng tiêu dùng so với tổng tín dụng đối với nền kinh tế tăng mạnh trong những năm qua. Hoạt động cho vay tiêu dùng của các TCTD về cơ bản đã đáp ứng tốt nhu cầu của người dân, làm tăng khả năng tiếp cận tài chính, góp phần kích thích tiêu dùng từ đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Theo quy luật, khi kinh tế phát triển, tiêu dùng tăng thì hoạt động đi vay để phục vụ tiêu dùng của người dân cũng tăng phù hợp với xu thế chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa vào chi tiêu chính phủ và đầu tư sang dựa vào tiêu dùng tư nhân. Ở Việt Nam, hoạt động cho vay tiêu dùng có rất nhiều tiềm năng do kinh tế tăng trưởng tốt, dân số trẻ. Hệ thống ngân hàng ngày càng phát triển, đa dạng hóa hoạt động theo hướng hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế, theo đó, cho vay tiêu dùng trở thành một hoạt động cơ bản, trọng yếu để đáp ứng nhu cầu của người dân, đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, do phát triển chưa lâu, hoạt động cho vay tiêu dùng tại Việt Nam thời gian qua bộc lộ một số vấn đề cần phải được điều chỉnh, khắc phục nhất là vấn đề lãi suất cho vay cao của một số CTTC.

Đọc tiếp »

PGS, TS. PHẠM THỊ GIANG THU  &ThS. NGUYỄN NGỌC YẾN

Vấn đề quản lý thị trường vàng đang thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội, không chỉ ở góc độ bảo đảm ổn định nền kinh tế vĩ mô, bảo đảm nguồn dự trữ ngoại hối của nhà nước, bảo đảm cán cân thương mại quốc tế… mà nó còn liên quan đến việc bảo đảm quyền sở hữu một loại tài sản có giá trị được cất trữ trong dân cư. Do đó, thị trường vàng được quản lý một cách hiệu quả là yêu cầu bức thiết đặt ra cho Nhà nước, trong đó bước đầu tiên là phải xác định một cách chính xác cơ quan Nhà nước nào được giao trách nhiệm chính trong hoạt động quản lý thị trường đặc thù này. Ở Việt Nam hiện nay, quản lý thị trường vàng được giao cho Ngân hàng Nhà nước thống nhất thực hiện. Bài viết sẽ tập trung làm rõ những cơ sở pháp lý cũng như thực tiễn cho Ngân hàng Nhà nước quản lý thị trường vàng, dựa vào đó đánh giá hiệu quả hoạt động này của Ngân hàng Nhà nước trong thực tế.

1. Ngân hàng Nhà nước quản lý thị trường vàng – trách nhiệm và sứ mệnh

Quản lý và kiểm soát thị trường vàng là vấn đề có tính lịch sử, bắt nguồn từ tư tưởng quản lý nền kinh tế theo chế độ bản vị vàng truyền thống, ngay cả khi các quốc gia sử dụng tiền giấy bất khả hoán. Để đảm bảo một cách tốt nhất cho giá trị nội tệ và tránh cú sốc kinh tế từ trong và ngoài nước, cũng như đảm bảo quyền lợi cho những chủ thể tham gia, quản lý, kiểm soát thị trường vàng là điều các quốc gia quan tâm. Tùy theo vai trò của vàng trong lãnh thổ mỗi quốc gia, vấn đề quản lý thị trường vàng sẽ được trao cho những cơ quan chuyên trách khác nhau thực hiện. Không quốc gia nào phủ nhận vai trò tiền tệ của vàng trong nền kinh tế, đặc biệt là chức năng cất trữ giá trị và chức năng tiền tệ quốc tế. Nếu đồng tiền khác nhau thường bị kiểm soát bởi quốc gia phát hành ra nó, giá trị chịu sự tác động trực tiếp bởi tăng trưởng hay suy thoái của kinh tế quốc gia, thì vàng là công cụ trao đổi, nhưng không chịu sự ảnh hưởng hay kiểm soát của bất kỳ nền kinh tế cụ thể nào. Mặt khác, vàng còn được coi là công cụ đầu tư, công cụ tích trữ có khả năng cao chống lại lạm phát và bất ổn xã hội, cũng như phương tiện dự trữ ngoại hối quan trọng của hầu hết các quốc gia. Do đó, các quốc gia đều coi chính sách và biện pháp quản lý thị trường vàng như một bộ phận cấu thành của chính sách quản lý kinh tế vĩ mô. Vì thế, vai trò quản lý quan trọng thuộc về Ngân hàng trung ương.

Đọc tiếp »

LS. TÔN THẤT HỒ NGHỊ

(TBKTSG Online) – Vụ án Huyền Như (đang được xử phúc thẩm) là vụ án có nhiều tranh cãi pháp lý về tội danh và trách nhiệm dân sự.

Bên cạnh bị cáo Huỳnh Thị Huyền Như còn có các bị cáo Lương Thị Việt Yên, Hồ Hải Sỹ, Lê Thị Ngọc Lợi (cán bộ, nhân viên phòng giao dịch Võ Văn Tần, Vietinbank chi nhánh Nhà Bè) bị truy tố, đưa ra xét xử về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, với bản án sơ thẩm từ bốn đến bảy năm tù.

Các bị cáo này bị phạt vì hành vi mở tài khoản cho khách hàng mà không có mặt của khách hàng để ký chữ ký mẫu, từ đó tạo điều kiện để Huyền Như làm hồ sơ giả với chữ ký giả chiếm đoạt 50 tỉ đồng của khách hàng.

Nhằm làm rõ hành vi phạm tội của các bị cáo này, trên cơ sở đó xác định tội danh và quyết định mức hình phạt theo đúng luật định, bài viết này phân tích vấn đề mấu chốt trong vụ án, liên quan đến tiền gửi thanh toán.

Để có thể thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt 50 tỉ đồng của Dương Thị Nguyệt và Nguyễn Thị Bé Năm, các bị cáo phải hội đủ hai điều kiện. Điều kiện cần là trong tài khoản của Dương Thị Nguyệt và Nguyễn Thị Bé Năm có 50 tỉ đồng và có lệnh chi giả do Huyền Như làm. Điều kiện đủ: Có sai sót nghiệp vụ trong việc thực hiện lệnh chi tiền.

Chúng ta cần xác định ai chỉ đạo, ai thực hiện lệnh chi, chuyển 50 tỉ đồng từ tài khoản Dương Thị Nguyệt và Nguyễn Thị Bé Năm sang tài khoản Trần Thị Tố Quyên để từ đó Quyên và Huyền Như chiếm đoạt.

Tiền chuyển từ Tố Quyên đi cho các cá nhân, tổ chức có nguồn gốc bất hợp pháp cần phải được thu hồi.

Bắt đầu từ giải đáp tài khoản thanh toán là gì?

Đọc tiếp »

Trần Vũ Hải

Nghị định 68/2014/NĐ-CP ngày 9/7/2014 sửa đổi, bổ sung Nghị định 45/2007/NĐ-CP đúng duy nhất một nội dung, đó là định nghĩa bổ sung về một loại bảo hiểm phi nhân thọ là bảo hiểm bảo lãnh. Theo đó, bảo hiểm bảo lãnh là hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo đó doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chấp nhận rủi ro của người được bảo lãnh, trên cơ sở người được bảo lãnh đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.

Đọc tiếp »

THS. NGUYỄN VĂN THỌ (Vietcombank)

Ths. NGUYỄN NGỌC LINH (Baovietbank)

Luattaichinh: Cách xử lý nợ xấu này, tuy về mặt thực tiễn rất đáng tham khảo, nhưng về ý nghĩa quản trị vốn, thì nó không khác so với mô hình VAMC là bao nhiêu. Tiền thật bao giờ về đến ngân hàng, vẫn luôn là một câu hỏi.

Sau đây là toàn văn nội dung bài viết:

Thời gian qua, hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Vấn đề trọng tâm hiện nay là xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại, bởi nó làm tắc nghẽn dòng tín dụng trong nền kinh tế Việt Nam. Xử lý nợ xấu là bước đi quan trọng trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và có ảnh hưởng không nhỏ đến điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng. Có nhiều biện pháp để TCTD xử lý nợ xấu, tuy nhiên, chuyển nợ thành vốn góp được coi là một trong những biện pháp nhanh chóng, hiệu quả và mang lại lợi ích cho cả người vay và người nợ.

1. Khái niệm nội dung xử lý nợ xấu bằng biện pháp chuyển nợ thành vốn góp

1.1. Khái niệm chuyển nợ thành vốn góp

Chuyển nợ thành vốn góp là việc chủ nợ hoặc tổ chức thay vì thu hồi tiền nợ đã cho doanh nghiệp vay, họ sẽ lấy khoản nợ phải thu đó để “mua” chính cổ phần của doanh nghiệp hoặc một đối tác quan tâm mua lại chính khoản nợ đó từ chủ nợ với giá tương đương hoặc theo thỏa thuận. Khi đó, chủ nợ hoặc người mua nợ sẽ trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp, đầu tư thêm vốn để tái cơ cấu lại toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp từ tổ chức nhân sự đến hoạt động kinh doanh và định hướng phát triển…

1.2. Ưu điểm của biện pháp chuyển nợ thành vốn góp

  – Đối với TCTD: Việc áp dụng biện pháp này sẽ giúp ngân hàng sớm thoát khỏi nợ xấu, “làm đẹp” bản báo cáo tài chính, đồng thời giúp ngân hàng tăng nguồn vốn do vốn vay chuyển thành khoản đầu tư tài chính của ngân hàng.

  – Đối với doanh nghiệp: Việc chuyển nợ thành vốn góp sẽ ngay lập tức giúp doanh nghiệp bỏ áp lực trả nợ cho ngân hàng, có điều kiện khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh từ nguồn cấp vốn của các TCTD hoặc các nguồn vốn đầu tư khác.

  – Đối với nền kinh tế: Việc xử lý nợ xấu theo biện pháp chuyển nợ thành vốn góp sẽ giảm thiểu được những tác động tiêu cực như: doanh nghiệp bị phá sản, người lao động mất việc làm… Biện pháp này không chỉ giúp các TCTD sớm thu hồi được nợ xấu, vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội phục hồi và phát triển.

1.3. Đối tượng áp dụng

Biện pháp chuyển nợ thành vốn góp cổ phần tỏ rõ hiệu quả trong việc xử lý khoản nợ của các doanh nghiệp gặp khó khăn tạm thời trong hoạt động kinh doanh, có đủ thực lực để khôi phục lại hoạt động sản xuất kinh doanh nếu có nguồn vốn hỗ trợ. Các doanh nghiệp này phải có thương hiệu trên thị trường, có hệ thống nhà xưởng, dây chuyền máy móc thiết bị sản xuất kinh doanh, lãnh đạo doanh nghiệp có tâm huyết và thực sự muốn vực dậy doanh nghiệp…

2. Thực trạng hoạt động chuyển nợ thành vốn góp tại Việt Nam

Đọc tiếp »

Việc cho phép dùng nhà ở hình thành trong tương lai để thế chấp vay vốn tại các tổ chức tín dụng (TCTD) sẽ tạo điều kiện cho người dân tiếp cận được nguồn vốn để mua nhà, ổn định chỗ ở. Tuy nhiên, việc thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro nếu không có khung khổ pháp lý đồng bộ. Trong thời gian qua, hoạt động này đã phát sinh nhiều vấn đề do thiếu cơ chế hướng dẫn. Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và đảm bảo an toàn, giảm thiểu rủi ro trong thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai, ngày 25/4/2014, Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Xây dựng đã ký ban hành Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-NHNN-BXD-BTP-BTNMT (Thông tư 01) hướng dẫn thủ tục thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai theo quy định tại Nghị định số 71/2010/NĐ-CP (Nghị định 71) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/6/2014, bao gồm những nội dung cơ bản sau đây.

1. Về phạm vi điều chỉnh của Thông tư 01

Phạm vi điều chỉnh của Thông tư 01 phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 61 Nghị định 71 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. Theo đó, Thông tư 01 hướng dẫn thủ tục thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai bao gồm: (i) thủ tục thế chấp, (ii) thủ tục công chứng hợp đồng thế chấp và (iii) thủ tục đăng ký thế chấp của tổ chức, cá nhân để vay vốn mua chính nhà ở đó hoặc mua nhà ở khác của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (BĐS) trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại TCTD theo quy định tại Khoản 2 Điều 61 của Nghị định 71.

Thông tư 01 không điều chỉnh đối với việc thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai của hộ gia đình, cá nhân được xây dựng trên khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình để vay vốn tại các TCTD.

Như vậy, theo quy định tại Thông tư, tổ chức, cá nhân chỉ được thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai quy định tại Khoản 2 Điều 61 của Nghị định 71 để vay vốn mua chính nhà ở đó hoặc mua nhà ở khác của doanh nghiệp kinh doanh BĐS trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở. Quy định này là phù hợp nhằm đảm bảo nguồn vốn vay được sử dụng tập trung, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển thị trường BĐS và tạo điều kiện cho người dân có cơ hội được sở hữu nhà ở.

2. Về khái niệm nhà ở hình thành trong tương lai

Đọc tiếp »

HẢI AN

(Tài chính) Phòng chống "rửa tiền" là vấn đề làm đau đầu các nhà chức trách các nước. Mỗi năm bọn tội phạm tiến hành “rửa” từ 1.000-1.500 tỷ USD trên toàn thế giới.

    Vòng quay “rửa tiền” trên thế giới

Mỗi năm bọn tội phạm tiến hành “rửa” từ 1.000-1.500 tỷ USD trên toàn thế giới. Nguồn: Internet

“Rửa tiền" và các tác hại

Thuật ngữ "rửa tiền" lần đầu tiên xuất hiện trên báo chí Mỹ là vào năm 1973 trong vụ bê bối tài chính Watergate nổi tiếng nước Mỹ. Năm năm sau đó thuật ngữ "rửa tiền" chính thức được sử dụng trong một số văn bản pháp lý của tòa án Mỹ. Thuật ngữ này trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần đây bởi tính phổ biến và ảnh hưởng của chúng. Tổ chức chống "rửa tiền" quốc tế (Finance Action Task Force) đã định nghĩa hoạt động của "rửa tiền" là:

• Việc giúp đỡ đối tượng phạm pháp lẩn tránh sự trừng phạt của pháp luật;

• Việc cố ý che giấu nguồn gốc, bản chất, việc cất giấu, di chuyển hay chuyển quyền sở hữu tài sản phạm pháp;

• Việc cố ý mua, sở hữu hay sử dụng tài sản phạm pháp.

Như vậy, hiểu một cách khái quát thì "rửa tiền" là toàn bộ các hoạt động được tiến hành một cách cố ý nhằm hợp pháp hóa tiền và tài sản có nguồn gốc từ tội phạm.

Việc "rửa tiền" thành công sẽ giúp cho các hoạt động phạm tội có thể sinh lợi, để những kẻ tội phạm có thể "hưởng thụ" các thành quả thu được từ các hoạt động tội phạm. Vì vậy, chừng nào một nước còn được coi là nơi ẩn náu an toàn cho hoạt động "rửa tiền" thì khi đó còn có nhiều khả năng nước đó có sức lôi cuốn tội phạm và thúc đẩy tham nhũng.

Tai tiếng về một nơi ẩn náu an toàn cho "rửa tiền" và tài trợ cho khủng bố cũng đã có thể gây ra những hậu quả bất lợi đáng kể cho sự phát triển của một đất nước. Các tổ chức tài chính nước ngoài có thể quyết định hạn chế các giao dịch của mình với những tổ chức là nơi ẩn náu an toàn cho "rửa tiền"; buộc những giao dịch như vậy phải qua sự kiểm soát gắt gao hơn, khiến cho chúng thêm tốn kém hoặc chấm dứt hoàn toàn các mối quan hệ giao dịch hay vay mượn. Ngay cả các doanh nghiệp hợp pháp lẫn những doanh nghiệp là nơi ẩn náu an toàn cho "rửa tiền" cũng có thể bị giảm khả năng tiếp cận các thị trường thế giới hoặc phải tiếp cận với chi phí cao hơn do phải chịu sự kiểm soát gắt gao hơn về quyền sở hữu, các hệ thống tổ chức và kiểm soát.

Ở các nước đang phát triển, lĩnh vực tài chính mới được tư nhân hóa và chính phủ vẫn trong quá trình xây dựng luật lệ quản lý nên họ dễ trở thành mục tiêu và phải gánh chịu tác động nặng nề của hoạt động rửa tiền thời toàn cầu hóa.

"Rửa tiền" và tài trợ cho khủng bố có thể gây nguy hại theo nhiều cách cho sự lành mạnh của khu vực tài chính của một đất nước cũng như cho sự ổn định của từng tổ chức tài chính. Những hậu quả tai hại đó được coi là rủi ro đối với uy tín, nghiệp vụ, pháp lý và rủi ro tập trung đều có mối quan hệ qua lại với nhau. Mỗi rủi ro đều gây ra những chi phí cụ thể: Mất đi hoạt động kinh doanh sinh lợi; Những vấn đề về tính thanh khoản do việc rút tiền gây ra; Giảm giá trị cổ phiếu của các tổ chức tài chính…

Bên cạnh đó, những kẻ "rửa tiền" khét tiếng là những kẻ biết sử dụng “các công ty bình phong”- là những doanh nghiệp có vẻ bề ngoài hợp pháp và tham gia vào hoạt động kinh doanh hợp pháp nhưng trên thực tế lại do bọn tội phạm kiểm soát.

Những công ty bình phong này hòa trộn các quỹ phi pháp với các quỹ hợp pháp để che giấu những khoản tiền bất chính. Khả năng tiếp cận của các công ty bình phong tới những quỹ phi pháp cho phép chúng bao cấp các sản phẩm và dịch vụ của công ty, thậm chí với giá thấp hơn giá thị trường. Do vậy, các doanh nghiệp hợp pháp sẽ khó cạnh tranh với những công ty bình phong khi mục tiêu duy nhất của chúng là bảo toàn và bảo vệ những khoản tiền bất hợp pháp chứ không phải để tạo một ra bất cứ khoản lợi nhuận nào.

Điều này cũng làm tăng sự bất ổn định tiềm tàng về khía cạnh tiền tệ và kinh tế do sự phân bổ sai lệch các nguồn lực bắt nguồn từ tình trạng méo mó giả tạo của giá tài sản và hàng hóa. Nó cũng tạo ra một cơ chế cho trốn thuế, từ đó làm cạn kiệt nguồn thu của đất nước.

Hậu quả kinh tế của các hành vi “rửa tiền” có thể nghiêm trọng hơn. Trong những năm 90 của thế kỷ trước nhiều ngân hàng ở các nước vùng Baltic đã sụp đổ vì khách hàng lo lắng đến rút hết tiền do nghe tin đồn lan rộng về những khoản tiền bẩn rất lớn gửi vào ngân hàng.

Vòng quay "rửa tiền"

Đọc tiếp »

Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Bảo Hiểm

Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường trong các phân ngành dịch vụ bảo hiểm sau:

  • Bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm y tế);
  • Bảo hiểm phi nhân thọ;
  • Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;
  • Trung gian bảo hiểm (môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm);
  • Các dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường).

Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có thể thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam theo những hình thức nào?

Theo cam kết trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm, các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài được quyền hiện diện ở Việt Nam dưới các hình thức:

  1. Văn phòng đại diện (tuy nhiên các văn phòng đại diện không được phép kinh doanh sinh lời trực tiếp);
  2. Liên doanh với đối tác Việt Nam;
  3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (với những hạn chế về loại dịch vụ được phép cung cấp theo lộ trình);
  4. Chi nhánh (với điều kiện mở sau 11/1/2012 và chi nhánh chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ).

Hộp 1 – Hạn chế về loại dịch vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài được phép cung cấp
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc, bao gồm:
– Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba;
– Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt;
– Bảo hiểm các công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường.
Cũng theo cam kết thì tất cả các hạn chế này phải được bãi bỏ từ ngày 1/1/2008.

Tỷ lệ góp vốn tối đa dưới hình thức mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam là bao nhiêu?

Đọc tiếp »

TS. TÔ ÁNH DƯƠNG

Viện Kinh tế Việt Nam

1. Kinh nghiệm quản lý thị trường vàng của Trung Quốc

Tại Trung Quốc, hoạt động kinh doanh vàng được thống nhất quản lý bởi đầu mối duy nhất là Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (People’s Bank of China – PBOC – Ngân hàng Trung ương của Trung Quốc). Trong giai đoạn từ năm 1949 đến 2001, Trung Quốc thực hiện kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng, PBOC đóng vai trò độc quyền thị trường vàng trong nước. Tuy nhiên, cùng với việc tự do hóa thị trường tài chính, Trung Quốc đã có những bước tiến mạnh mẽ trong việc tự do hoá từng bước thị trường vàng. Về cơ bản, kế hoạch tự do hoá thị trường vàng của Trung Quốc cũng bao gồm 3 giai đoạn như nhiều nước khác, đó là:

(i) Giai đoạn 1: Xoá bỏ chế độ độc quyền kinh doanh vàng và cơ chế kiểm soát giá, đồng thời thành lập Sở giao dịch vàng Thượng Hải;

(ii) Giai đoạn 2:Từng bước xoá bỏ cơ chế cấp phép đối với hoạt động sản xuất, bán buôn và bán lẻ vàng, bước đầu là đối với hoạt động bán lẻ, sau đó cho phép cá nhân được tham gia giao dịch vàng miếng;

(iii) Giai đoạn 3: Xoá bỏ từng bước chế độ quản lý xuất nhập khẩu vàng. Trên cơ sở các bước nêu trên, PBOC đã ban hành các quy định theo hướng nới lỏng quản lý hoạt động kinh doanh vàng.

Dưới đây là những mốc quan trọng trong tiến trình tự do hoá thị trường vàng của Trung Quốc.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Sáu 2018
H B T N S B C
« Th4    
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,859,820 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Cơ hội cải thiện triển vọng ngắn hạn 22/06/2018
    (TBKTSG Online) - Thị trường dần hồi phục khi các mã vốn hóa lớn và cổ phiếu ngân hàng lần lượt tăng điểm, tạo triển vọng cho sự cải thiện của chỉ số trong ngắn hạn.
  • Yếu điểm bộc lộ trong thử thách 22/06/2018
    (TBKTSG) - Đồng đô la Mỹ đang mạnh lên so với hầu hết các ngoại tệ chủ chốt. Các nước như Trung Quốc và Nga bắt đầu bán ra trái phiếu chính phủ Mỹ. Thị trường chứng khoán thế giới đỏ rực và giá hàng hóa, năng lượng, nguyên liệu đầu vào lao dốc. Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung leo thang... […]
  • Khối ngoại mua ròng trở lại 21/06/2018
    (TBKTSG Online) - Thị trường tiếp tục chứng kiến một phiên giảm điểm khi các mã vốn hóa lớn và nhóm ngân hàng bị bán mạnh.
  • Hồi phục đáng kể 20/06/2018
    (TBKTSG Online) - Phiên sáng chứng kiến nhiều biến động, thị trường hồi phục và tăng điểm vào cuối phiên. Sự hồi phục ở nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn PLX, VRE, VJC, BVH, GAS, HPG… cũng như các cổ phiếu ngân hàng VCB, BID, CTG, VPB, HDB, TPB… là động lực giúp thị trường bứt phá. Ngược lại, VHM, PNJ, HDB, ROS… tiếp tục giảm điểm. […]
  • Chi trả cổ tức: cân đối để hài hòa lợi ích 20/06/2018
    (TBKTSG) - Việc quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức bao nhiêu là bài toán không hề đơn giản cho doanh nghiệp khi phải đảm bảo hài hòa lợi ích của nhiều bên.
  • Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) muốn thay đổi phương án bán vốn nhà nước 19/06/2018
    (TBKTSG Online) - Nhiều kế hoạch trong tiến trình tiếp tục cổ phần hóa (CPH) của Công ty TNHH MTV lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) đang phải thay đổi.
  • Tâm lý bán tháo lan rộng, VN-Index mất hơn 25 điểm 19/06/2018
    (TBKTSG Online) - Nối tiếp đà bán tháo từ phiên trước đó, lực cung dồn dập đổ vào thị trường. Mặc dù lực cầu bắt đáy cũng xuất hiện, song sắc đỏ vẫn phủ kín bảng điện tử, khiến chỉ số mất hơn 25 điểm.
  • Góc nhìn khác trong phân tích nợ xấu và chi phí dự phòng 19/06/2018
    (TBKTSG) - Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh doanh, chất lượng tín dụng là vấn đề được các nhà đầu tư vào cổ phiếu ngân hàng quan tâm nhất vào mỗi mùa báo cáo tài chính (BCTC). Tỷ lệ nợ xấu cao hay thấp, tăng hay giảm, dự phòng rủi ro nhiều hay ít đều có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, tức là ảnh hưởng đến cổ tức và giá cổ phiếu. […]
  • Sẽ không còn quẹt thẻ - phải chuẩn bị từ giờ 19/06/2018
    (TBKTSG) - Tuần trước các báo đưa tin du khách Trung Quốc cà thẻ qua máy POS bất hợp pháp, kết nối trực tiếp với ngân hàng bên Trung Quốc không thông qua hệ thống chi trả của Việt Nam, gây thất thu thuế. Thật ra hiện tượng này có quy mô lớn hơn nhiều, không nhất thiết là thẻ tín dụng, liên quan đến nhiều vấn đề và đã là nỗi lo của các nước láng giềng, các hệ […]
  • Vn-Index mất mốc 1.000 điểm trước áp lực bán mạnh 18/06/2018
    (TBKTSG Online) - Áp lực bán mạnh ở các cổ phiếu vốn hóa lớn, nhóm cổ phiếu ngân hàng, chứng khoán đã khiến chỉ số mất gần 30 điểm trong phiên hôm nay.
Advertisements