You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat Kinh doanh bao hiem’ category.

NGÔ TRUNG DŨNG

(Phó Tổng thư ký HHBHVN)

Theo quy định mới tại Thông tư 194/2014/TT-BTC ngày 17/12/2014 sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 124/2012/TT-BTC và Thông tư 125/2012/TT-BTC, kể từ ngày 01/01/2016, các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) phi nhân thọ, doanh nghiệp chuyên kinh doanh bảo hiểm sức khỏe, chi nhánh nước ngoài phải sử dụng chuyên gia tính toán dự phòng nghiệp vụ và khả năng thanh toán (actuary), với những tiêu chuẩn cao hơn so với quy định trước đây tại Thông tư 124.

Cụ thể, Thông tư 194 quy định tiêu chuẩn chuyên gia tính toán dự phòng và khả năng thanh toán như sau: a) Là thành viên (fellow) của Hội các nhà tính toán bảo hiểm đang là thành viên chính thức của Hội các nhà tính toán bảo hiểm quốc tế; hoặc b) Có tối thiểu năm (05) năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ (đối với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh nước ngoài) hoặc trong lĩnh vực bảo hiểm sức khỏe (đối với doanh nghiệp chuyên kinh doanh bảo hiểm sức khỏe), và có tối thiểu 02 chứng chỉ tính toán được cấp bởi một trong các Hội sau: Hội các nhà tính toán bảo hiểm Vương quốc Anh, Hội các nhà tính toán bảo hiểm Scotland, Hội các nhà tính toán bảo hiểm Hoa Kỳ, Hội các nhà tính toán bảo hiểm Úc, Hội các nhà tính toán bảo hiểm Ca-na-đa;c) Không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh có liên quan đến nhiệm vụ của mình;d) Chưa vi phạm quy tắc đạo đức hành nghề tính toán bảo hiểm (đối với trường hợp chuyên gia tính dự phòng và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, chi nhánh nước ngoài là thành viên của Hội các nhà tính toán bảo hiểm đang là thành viên chính thức của Hội các nhà tính toán bảo hiểm quốc tế).

Nhiều DNBH phi nhân thọ sẽ gặp khó khăn để đáp ứng được các tiêu chuẩn này, khi thời hạn 01/01/2016 đang đến gần. Để có có cái nhìn tổng quan hơn về nghề nghiệp actuary, các tiêu chuẩn về actuary được là thành viên (fellow) các Hội actuary, chúng ta hãy cùng tìm hiểu về nghề actuary, các yêu cầu tiêu chuẩn về bằng cấp, kinh nghiệm, nội dung và các cơ sở đào tạo uy tín để trở thành actuary như quy định của TT194.

Đọc tiếp »

PHÙNG ĐẮC LỘC

Tổng Thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

I. Những đóng góp của các Doanh nghiệp Bảo hiểm trong 20 năm qua

1. Số lượng Doanh nghiệp Bảo hiểm (DNBH) tăng nhanh từ 1 DNBH năm 1993, đến nay đã có 29 DNBH Phi nhân thọ, 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm (BH), 16 DNBH Nhân thọ, 12 doanh nghiệp Môi giới BH vừa hợp tác, vừa cạnh tranh cung cấp sản phẩm BH và chất lượng phục vụ.

2. Số lượng sản phẩm BH ngày càng đa dạng, phong phú đáp ứng cơ bản nhu cầu về BH của nền kinh tế xã hội và người dân. Từ 20 sản phẩm BH Phi nhân thọ năm 1993 đến nay đã có hơn 800 sản phẩm BH Phi nhân thọ đăng ký và báo cáo Bộ Tài chính (BTC), hơn 350 sản phẩm BH được BTC phê duyệt, 3 sản phẩm BH bắt buộc được BTC ban hành, 4 sản phẩm BH thí điểm được BTC ban hành.

3. Doanh thu phí BH có tốc độ tăng cao. Từ doanh thu 700 tỷ đồng năm 1993, đến năm 2013 doanh thu phí bảo hiểm Phi nhân thọ ước đạt 25.000 tỷ đồng (tăng trưởng khoảng 10%), Nhân thọ ước đạt 21.000 tỷ đồng (tăng trưởng khoảng 15%). Doanh thu Môi giới BH chiếm 18% phí bảo hiểm gốc Phi nhân thọ. Tốc độ tăng trưởng bình quân bảo hiểm Phi nhân thọ và Nhân thọ xấp xỉ 20%/năm.

4. Bồi thường và trả tiền BH tăng, đảm bảo an toàn tài chính, khắc phục hậu quả của thiên tai, tai nạn, sự cố bất ngờ xảy ra. Năm 2013, các DNBH Phi nhân thọ ước giải quyết bồi thường 10.000 tỷ đồng và dự phòng bồi thường cho các tổn thất đã xảy ra 5.000 tỷ đồng, DNBH Nhân thọ ước trả tiền BH 8.400 tỷ đồng trong đó 1.500 tỷ đồng bảo tức tích lũy. Bình quân hàng năm các DNBH Phi nhân thọ giải quyết bồi thường 65% doanh thu phí BH (bao gồm dự phòng bồi thường), DNBH Nhân thọ trả tiền BH 40% doanh thu phí BH bao gồm trả cho sự kiện BH, đáo hạn hợp đồng, bảo tức tích lũy và chấm dứt hợp đồng trước hạn.

5. Đối tượng tham gia BH ngày càng đông đảo. Đến nay lực lượng khách hàng tham gia BH bao gồm: hơn 500.000 cơ sở sản xuất kinh doanh (kể cả công ty thành viên, chi nhánh), 100.000 đơn vị hành chính sự nghiệp (kể cả bệnh viện, trường học), 20 triệu người BH thân thể toàn diện, 20 triệu học sinh, 7,5 triệu chủ xe máy và 1,5 triệu chủ xe ô tô, 5 triệu  hợp đồng BH Nhân thọ, 5 triệu hợp đồng BH bổ sung cho BH Nhân thọ.

Đọc tiếp »

HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM

Năm 2014, cùng với sự khởi sắc của nền kinh tế Việt Nam, thị trường bảo hiểm tiếp tục tăng trưởng tích cực.

Tính đến 31/12/2014, 61 doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) hoạt động tại Việt Nam, trong đó gồm 29 DNBH phi nhân thọ, 1 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài tại Việt Nam, 17 DNBH nhân thọ, 12 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm (DNMGBH) và 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm (DNTBH).

Năm 2014, Bộ Tài chính đã cấp phép thành lập và hoạt động cho 01 DNBH nhân thọ là Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ BIDV MetLife và 01 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài là chi nhánh Công ty Bảo hiểm Bảo lãnh Seoul tại Hà Nội (SGI). Ngoài các DNBH, có 25 Văn phòng đại diện (VPĐD) của DNBH, DNMGBH nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

Theo số liệu mới cập nhật, tổng doanh thu phí toàn thị trường năm 2014 ước đạt 54.718 tỷ đồng, tăng 14,89% so với năm 2013. Doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 27.391 tỷ đồng, tăng 12,45% so với năm 2013; doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt 27.327 tỷ đồng, tăng 17,44% so với năm 2013.

Tổng số tiền thực bồi thường và trả tiền bảo hiểm của các DNBH năm 2014 ước đạt 19.752 tỷ đồng. Trong đó, các DNBH nhân thọ ước đạt 8.976 tỷ đồng, các DNBH phi nhân thọ ước đạt 10.776 tỷ đồng.

Tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế của các DNBH năm 2014 ước đạt 131.679 tỷ đồng, tăng 15,83% so với năm 2013. Trong đó, các doanh nghiệp nhân thọ đạt khoảng 103.276 tỷ đồng, tăng 18,52% so với cùng kỳ năm 2013; các doanh nghiệp phi nhân thọ đạt khoảng 28.403 tỷ đồng, tăng 7% so với năm 2013.

Tổng tài sản toàn thị trường năm 2014 ước đạt 153.884 tỷ đồng (tăng 14,99% so với năm 2013). Trong đó, các DNBH phi nhân thọ có tổng tài sản ước đạt 39.500 tỷ đồng (tăng 6% so với năm 2013), các DNBH nhân thọ có tổng tài sản ước đạt 114.384 tỷ đồng (tăng 18,46% so với năm 2013).

Tổng nguồn vốn chủ sở hữu toàn thị trường năm 2014 ước đạt 40.893 tỷ đồng (tăng 11,17% so với năm 2013). Các DNBH phi nhân thọ có tổng vốn chủ sở hữu ước đạt 17.730 tỷ đồng, tăng 2% so với năm 2013, các DNBH nhân thọ có tổng vốn chủ sở hữu ước đạt 23.163 tỷ đồng, tăng 19,38% so với năm 2013.

Tổng dự phòng nghiệp vụ của các DNBH năm 2014 ước đạt 93.987 tỷ đồng, tăng 18,53% so với năm 2013. Trong đó, dự phòng nghiệp vụ các doanh nghiệp nhân thọ năm 2014 ước đạt 81.287 tỷ đồng, tăng 20,96% so với năm 2013, các doanh nghiệp phi nhân thọ ước đạt 12.700 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2013.

Tổng số phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới năm 2014 ước đạt 6.410 tỷ đồng, tăng 20,7%. Tổng doanh thu hoa hồng môi giới bảo hiểm năm 20148 ước đạt 482 tỷ đồng, tăng 7,8% so với thực hiện năm 2013.

Đọc tiếp »

PHÙNG ĐẮC LỘC

Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

Trục lợi bảo hiểm bao gồm các hành vi mang tính cố ý của các tổ chức, cá nhân nhằm thu lợi bất chính từ Quỹ bảo hiểm đóng góp của người tham gia bảo hiểm thông qua việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm.

I. Sự cần thiết phải phòng chống và xử lý trục lợi bảo hiểm

Trục lợi bảo hiểm bao gồm các hành vi mang tính cố ý của các tổ chức, cá nhân nhằm thu lợi bất chính từ Quỹ bảo hiểm đóng góp của người tham gia bảo hiểm thông qua việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm.

            1. Trục lợi bảo hiểm diễn ra trong tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm (được quy định tại Luật KDBH) bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển, bảo hiểm cháy nổ và mọi rủi ro đặc biệt, bảo hiểm tài sản kỹ thuật, bảo hiểm tàu và TNDS chủ tàu, bảo hiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểm nông nghiệp.

            2. Trục lợi bảo hiểm diễn ra tại tất cả các doanh nghiệp bảo hiểm đang được phép hoạt động tại Việt Nam kể cả doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần của Việt Nam trong đó có doanh nghiệp bảo hiểm vốn nhà nước chiếm chi phối.

            3. Trục lợi bảo hiểm ngày càng phổ biến, lây lan nhanh, tuyên truyền học tập lẫn nhau để trục lợi bảo hiểm. Một tai nạn xảy ra hoặc một người đau ốm thương tật nằm viện chưa mua bảo hiểm có thể được những người khác (gara sửa chữa ô tô, bác sĩ điều trị…) hướng dẫn cho cách hợp thức hóa để được bảo hiểm hoặc đã mua bảo hiểm thì hướng dẫn cho cách được bồi thường nhiều tiền hơn trên cơ sở hai bên cùng có lợi. Có những cơ quan hoặc thôn xóm có đến gần một nửa số người được điều trị cùng một thời gian, cùng một bệnh lý, tại cùng một cơ sở điều trị (do thân quen) để nhận tiền bảo hiểm thậm chí vẫn chấm công đi làm để hưởng lương.

            4. Trục lợi bảo hiểm ngày càng phức tạp từ việc lấy tiền thanh toán điều trị (thuốc chữa bệnh và viện phí) đến việc khai tăng khai khống thiệt hại (gara sửa chữa ô tô, hóa đơn mua và sửa chữa tài sản bị thiệt hại, tiếp theo là dựng hiện trường giả, tai nạn giả hoặc mua bảo hiểm sau khi tai nạn xảy ra khai báo lâu ngày xảy ra tai nạn để hợp thức hóa hồ sơ yêu cầu bồi thường. Thậm chí còn tự hủy hoại tài sản để đòi bồi thường (phá hủy thêm tài sản sau tai nạn, đốt cháy ô tô ra cho lao xuỗng sông xuống vực, gây chập điện làm cháy nổ kho tàng tài sản).

            5. Trục lợi bảo hiểm ngày càng tinh vi khiến cho bộ phận giải quyết bồi thường khó có thể phát hiện ra được. Bộ hồ sơ yêu cầu bồi thường với các hóa đơn chứng từ thể hiện rất hoàn hảo: Mua bảo hiểm lắp biển số của xe bị tai nạn vào xe cùng chủng loại không bị tai nạn chụp ảnh lưu giữ sau đó đòi bồi thường, gây tai nạn đâm va giữa ô tô và con bò (ô tô hư hỏng nặng nhưng con bò không bị sao), gây cháy tại các kho độc lập xa nhà xưởng chữa hàng tồn kho ế đọng không bán được vào ban đêm ông chủ không có mặt tại hiện trường cháy….

            6. Trục lợi bảo hiểm ngày càng có đông đảo lực lượng tham gia. Từ người mua bảo hiểm đến các đại lý nhân viên bảo hiểm, các cơ quan tổ chức cá nhân có thẩm quyền (như chính quyền địa phương nơi xảy ra tai nạn, cơ quan công an, cơ quan giám định, trường học, bệnh viện, gara sửa chữa, hiệu thuốc) xác nhận thời gian, địa điểm, nguyên nhân, mức độ thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm hoặc cung cấp các hồ sơ, chứng từ, tài liệu “ hợp lý hợp lệ” để đòi tiền bảo hiểm thậm chí có sự câu kết ăn chia trong số tiền trục lợi.

            7. Hậu quả của trục lợi bảo hiểm là kẻ trục lợi đã ăn cắp một cách công khai số tiền bồi thường (bảo hiểm tài sản), trả tiền bảo hiểm (bảo hiểm nhân thọ, sức khỏe và tai nạn con người) lấy từ Quỹ bảo hiểm đóng góp từ phí bảo hiểm của các tổ chức cá nhân tham gia bảo hiểm (không phải là tiền của DNBH người có vài trò trung gian trong huy động quỹ và phân phối quỹ bảo hiểm). Hậu quả trực tiếp sẽ làm cho doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh thua lỗ phải ngừng triển khai sản phẩm bảo hiểm (điều 40 Thông tư 124/2012/BTC).

Đọc tiếp »

PHÙNG ĐẮC LỘC

Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

Quản trị doanh nghiệp bảo hiểm là việc lựa chọn, ra quyết định, triển khai thực hiện, tổ chức kiểm tra giám sát, thu thập phân tích thông tin để điều chỉnh các giải pháp mang tính ngắn hạn, trung hạn, dài hạn nhằm mục tiêu phát triển doanh nghiệp, tăng trưởng an toàn, hiệu quả trên cơ sở khai thác và huy động triệt để nguồn nhân lực của doanh nghiệp (vốn, công nghệ, nhân lực…) trong bối cảnh cạnh tranh trong ngành và tác động từ yếu tố bên ngoài (kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, pháp luật, môi trường kinh doanh…).

1.  Môi trường bên ngoài tác động vào doanh nghiệp bảo hiểm

Các doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng được kế hoạch kinh doanh hàng năm và chiến lược kinh doanh trung và dài hạn. Kế hoạch và chiến lược kinh doanh được xây dựng trên cơ sở khai thác hết tiềm năng của doanh nghiệp (sẵn có và có thể huy động thêm) nhưng phải thực sự khách quan khi lường hết được tác động từ bên ngoài:

-Yếu tố kinh tế: tăng trưởng GDP, xuất khẩu, nhập khẩu, CPI, FDI, ODA, tín dụng, chứng khoán, bất động sản, tình hình tài chính của các doanh nghiệp có nhu cầu bảo hiểm.

-Yếu tố chính trị: những chủ trương, chính sách, nghị quyết, giải pháp mới của Đảng, Nhà nước, Chính phủ tác động đến nền kinh tế nói chung, ngành bảo hiểm nói riêng có thể là cơ hội hoặc thách thức như kiềm chế lạm phát, thắt chặt tín dụng, quản lý chặt chẽ đầu tư công hay kích cầu nhà ở xã hội 30.000 tỷ đồng, phát triển khai thác hải sản, phát triển bảo hiểm hưu trí tự nguyện,…

-Yếu tố pháp luật: các văn bản pháp luật mới ban hành và có hiệu lực tác động đến bảo hiểm như Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Đầu tư công, Luật Phòng chống thiên tai, Luật Bảo vệ môi trường,… Các cơ chế chính sách, thủ tục mới ban hành như chính sách thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân,… Các văn bản hướng dẫn hoạt động kinh doanh như chế độ kế toán, tiêu chí đánh giá xếp hạng doanh nghiệp bảo hiểm, sửa đổi bổ sung Thông tư 124, Thông tư 125, bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, bảo hiểm tàu thuyền và thuyền viên khai thác hải sản, bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bán bảo hiểm qua ngân hàng,…

-Yếu tố xã hội: thu nhập, cách sử dụng tiền, thái độ với rủi ro và bảo hiểm của các tầng lớp dân cư, vùng miền.

Đọc tiếp »

TRẦN VŨ HẢI

ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

1. Quan niệm về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm và sự ảnh hưởng đến nội dung pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này

a) Quan niệm về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm

Hầu hết các công trình nghiên cứu hiện nay đều định nghĩa hoạt động kinh doanh bảo hiểm (KDBH) chính là việc doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) cung ứng sản phẩm bảo hiểm thông qua giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm (HĐBH). Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia nhận định: Bên cạnh hoạt động KDBH thì hoạt động đầu tư của DNBH là hết sức quan trọng, có mối liên hệ mật thiết và hỗ trợ cho hoạt động KDBH, thậm chí đầu tư còn được coi là một chức năng cơ bản của DNBH[1].

Mặc dù phần lớn các tác giả đều nhấn mạnh đến hoạt động đầu tư của DNBH, nhưng thực tế vẫn xem hoạt động KDBH và hoạt động đầu tư là hai lĩnh vực kinh doanh riêng biệt. Tuy nhiên theo người viết thì quan niệm như vậy là chưa chính xác vì những lý do cơ bản sau đây:

Thứ nhất, DNBH luôn có sẵn một lượng vốn đáng kể từ phí bảo hiểm và có quyền sử dụng nguồn vốn này để đầu tư.

Trong lĩnh vực KDBH, doanh thu từ phí bảo hiểm thường phát sinh trước chi phí bồi thường và được tích lũy dưới hình thức dự phòng nghiệp vụ. Do vậy, với nguồn dự phòng nghiệp vụ có sẵn, cộng với vốn chủ sở hữu, DNBH có thể thực hiện các hoạt động đầu tư trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh toán cho các HĐBH khi phát sinh sự kiện bảo hiểm. Do đó, hoạt động đầu tư từ nguồn dự phòng luôn gắn kết với nghiệp vụ bảo hiểm và là một phần không thể thiếu trong hoạt động KDBH. Việc sử dụng nguồn dự phòng phí bảo hiểm để đầu tư của DNBH về bản chất cũng tương tự như việc các tổ chức tín dụng có quyền sử dụng nguồn vốn huy động để cấp tín dụng, trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh toán cho những người gửi tiền theo quy định của pháp luật.

Quyền đầu tư từ nguồn dự phòng phí của DNBH luôn được pháp luật các quốc gia công nhận. Điều này được giải thích bởi hai lý do cơ bản: một mặt, DNBH là một chủ thể kinh doanh, do vậy có quyền sử dụng những nguồn lực sẵn có để tạo ra lợi nhuận cho các cổ đông/thành viên góp vốn, từ đó đóng góp của cải vật chất cho xã hội thông qua nguồn thu thuế; mặt khác, hoạt động đầu tư sẽ góp phần làm tăng khả năng của DNBH để đảm bảo chi trả cho các nghĩa vụ tài chính phát sinh từ HĐBH theo thỏa thuận với người tham gia bảo hiểm.

Đọc tiếp »

Trần Vũ Hải

Nghị định 68/2014/NĐ-CP ngày 9/7/2014 sửa đổi, bổ sung Nghị định 45/2007/NĐ-CP đúng duy nhất một nội dung, đó là định nghĩa bổ sung về một loại bảo hiểm phi nhân thọ là bảo hiểm bảo lãnh. Theo đó, bảo hiểm bảo lãnh là hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo đó doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chấp nhận rủi ro của người được bảo lãnh, trên cơ sở người được bảo lãnh đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.

Đọc tiếp »

Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Bảo Hiểm

Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường trong các phân ngành dịch vụ bảo hiểm sau:

  • Bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm y tế);
  • Bảo hiểm phi nhân thọ;
  • Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;
  • Trung gian bảo hiểm (môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm);
  • Các dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường).

Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có thể thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam theo những hình thức nào?

Theo cam kết trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm, các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài được quyền hiện diện ở Việt Nam dưới các hình thức:

  1. Văn phòng đại diện (tuy nhiên các văn phòng đại diện không được phép kinh doanh sinh lời trực tiếp);
  2. Liên doanh với đối tác Việt Nam;
  3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (với những hạn chế về loại dịch vụ được phép cung cấp theo lộ trình);
  4. Chi nhánh (với điều kiện mở sau 11/1/2012 và chi nhánh chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ).

Hộp 1 – Hạn chế về loại dịch vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài được phép cung cấp
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc, bao gồm:
– Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba;
– Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt;
– Bảo hiểm các công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường.
Cũng theo cam kết thì tất cả các hạn chế này phải được bãi bỏ từ ngày 1/1/2008.

Tỷ lệ góp vốn tối đa dưới hình thức mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam là bao nhiêu?

Đọc tiếp »

HỒNG ANH

Hợp đồng bảo hiểm là một trong những chế định và nội dung quan trọng của Luật Kinh doanh bảo hiểm. Các quy định liên quan đến Hợp đồng bảo hiểm được quy định trong Bộ Luật dân sự 33/2005/QH11 năm 2005 (BLDS) và Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10, Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi số 61/2010/QH12 năm 2010 (Luật KDBH) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trên thực tế, trong thời gian vừa qua các quy định liên quan đến thực hiện hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) trong các quy định của pháp luật đã bộc lộ khá nhiều bất cập, vướng mắc gây khó khăn cho doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) trong quá trình thực hiện, áp dụng pháp luật.

1. Quy định về xử lý hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp có gian dối

Các quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 đã có sự mâu thuẫn trong cách xử lý đối với trường hợp cung cấp thông tin sai sự thật, tuy nhiên nội dung này vẫn chưa được sửa đổi trong Luật sửa đổi Luật KDBH năm 2010.

Cụ thể, tại Khoản 2 Điều 19 Luật KDBH về trách nhiệm cung cấp thông tin quy định: "Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây: a) Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường…". Tại khoản 3 Điều 19 cũng quy định: "Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật".

Việc cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm về bản chất là hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng. Như vậy, tại Điều 19 này có thể nhận thấy việc “cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết Hợp đồng” chỉ dẫn đến hậu quả pháp lý là bên kia có thể đơn phương đình chỉ hợp đồng là chưa phù hợp với các quy định của BLDS cũng như các nguyên tắc trong giao kết Hợp đồng, ngoài ra chưa phù hợp với các quy định khác trong chính Luật KDBH. Cụ thể, tại Điều 22 của Luật KDBH lại quy định về các trường hợp HĐBH vô hiệu, trong đó có trường hợp: “Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệm bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết Hợp đồng bảo hiểm”, và “Việc xử lý hợp đồng bảo hiểm được thực hiện theo quy định của Bộ Luật Dân sự và các quy định của pháp luật có liên quan”. Theo quy định của BLDS, giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập, khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận… và bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Như vậy, cùng một vấn đề đã có hai cách xử lý khác nhau cùng được quy định trong Luật KDBH.

Về mặt lý luận, nếu có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng thì hợp đồng đó phải vô hiệu vì đã không tuân thủ nguyên tắc trung thực khi giao kết. BLDS năm 2005 quy định, nếu một bên bị lừa dối thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu (Điều 132 Bộ Luật dân sự năm 2005). Vì vậy, việc cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm không thể dẫn đến hành vi đình chỉ thực hiện hợp đồng.(*)

Đọc tiếp »

NGÔ TRUNG DŨNG

PHÓ TỔNG THƯ KÝ HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM

Vài nét về Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

Hiệp hội các nước Đông Nam Á ( ASEAN) được thành lập từ năm 1967, hiện tại bao gồm 10 nước: Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Hiệp hội ASEAN dựa trên 03 trụ cột chính: an ninh chính trị; kinh tế; văn hóa xã hội. Kinh nghiệm thực tế từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997/1998, cộng thêm sự nổi lên của các nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ đã khiến các nước ASEAN quyết tâm tạo ra một cộng đồng hợp tác kinh tế mạnh mẽ, gắn kết hơn. Hội nghị thượng đỉnh Hiệp hội ASEAN năm 1997 tại Kualar Lumpur, Malaysia đã ra Tuyên bố về Tầm nhìn ASEAN 2020 với ý tưởng biến ASEAN thành một khu vực phát triển ổn định, hội nhập và cạnh tranh, thiết lập một cộng đồng kinh tế khu vực vào năm 2020. Vào năm 2003, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Bali đã quyết đinh đẩy nhanh quá trình hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN (Asean Economic Community- AEC), thay vì thời hạn 2020, các nước quyết định hình thành AEC vào cuối năm 2015. Năm 2007 thông qua Kế hoạch AEC 2007 đặt ra các thời hạn rõ ràng cụ thể cho các nước thành viên ASEAN thực hiện để hình thành AEC, với mục đích hợp nhất các quốc gia thành viên thành một cộng đồng kinh tế chung vào ngày 31/12/2015. Không giống như EU, ASEAN không tạo lập các tổ chức quản lý trung ương như Ủy ban Liên minh châu Âu EU hay Ngân hàng Trung ương châu Âu mà sẽ tập trung vào việc xóa bỏ các rào cản kinh doanh, thương mại.

Đọc tiếp »

ThS.NGUYỄN VIỆT HẢI

Trưởng ban Nhân thọ – Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

Thị trường bảo hiểm nhân thọ ước đạt hơn 21,1 ngàn tỉ đồng tổng doanh thu phí, tăng trưởng trên 15% trong năm 2013, được đánh giá là sự kiện nổi bật nhất khi của hoạt động bảo hiểm nhân thọ trong bối cảnh hoạt động kinh tế chung của đất nước gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, theo đánh giá của chúng tôi, sự ra đời của nhiều chính sách quan trọng, tích cực, hỗ trợ sự phát triển lâu dài của hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ mới là điểm nổi bật nhất của thị trường bảo hiểm nhân thọ trong năm 2013.

1. Bảo hiểm hưu trí tự nguyện:

Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 115/2013/TT-BTC Hướng dẫn bảo hiểm hưu trí và quỹ hưu trí tự nguyện, có hiệu lực kể từ 15/10/2013, gồm 3 chương và 30 điều. Nội dung của Thông tư 115 ngoài các quy định chung, thông tư nêu rõ Quy định cụ thể về sản phẩm bảo hiểm hưu trí; thiết lập và quản lý quỹ hưu trí tự nguyện; tài khoản bảo hiểm hưu trí; trách nhiệm công bố thông tin của doanh nghiệp bảo hiểm; khả năng thanh toán, dự phòng nghiệp vụ; đại lý bảo hiểm, hoa hồng bảo hiểm và phân phối bảo hiểm; tổ chức thực hiện.

Đọc tiếp »

QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 130/2006/NĐ-CP NGÀY 08/11/2006 VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 46/2012/NĐ-CP NGÀY 22/5/2012 QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM CHÁY, NỔ BẮT BUỘC

———-

Căn cứ Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 4 tháng 4 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy;

Căn cứ Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 8 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc;

Căn cứ Nghị định số 46/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006 quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc;

Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an;

Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006 và Nghị định số 46/2012/NĐ-CP ngày 22/5/2012 quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc.

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này hướng dẫn việc thực hiện chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc đối với tài sản của cơ sở phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc; trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc trích lập kinh phí cho các hoạt động phòng cháy, chữa cháy (sau đây viết tắt là PCCC) và cơ chế quản lý cấp phát, thanh toán, quyết toán nguồn kinh phí này; trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ quy định tại Phụ lục 1 Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy (sau đây gọi là Nghị định số 35/2003/NĐ-CP), Khoản 7 Điều 1 Nghị định số 46/2012/NĐ-CP ngày 22/5/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy và Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006 quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc (sau đây gọi là Nghị định số 46/2012/NĐ-CP), doanh nghiệp bảo hiểm được phép kinh doanh bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc và cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đọc tiếp »

Lược thuật Hội thảo “Đánh giá thực trạng và giải pháp phòng chống trục lợi trong bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm con người” (là 2 loại hình bảo hiểm được nhận định phát sinh nhiều trường hợp trục lợi bảo hiểm nhất) do Cục QLGSBH và Hiệp hội bảo hiểm Việt nam phối hợp tổ chức ngày 17/8/2012

Trục lợi bảo hiểm là hành vi luôn tồn tại song hành với sự ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm. Trên thế giới, ở các nước ngành bảo hiểm có trình độ phát triển cao, trục lợi bảo hiểm cũng luôn là vấn đề lớn, gây thiệt hại cho xã hội và doanh nghiệp bảo hiểm. Ở Việt nam, hành vi trục lợi bảo hiểm diễn biến ngày càng phức tạp và gây những thiệt hại không nhỏ cho xã hội và cộng đồng các doanh nghiệp bảo hiểm. Vấn đề này đã được các doanh nghiệp bảo hiểm đề cập và thảo luận tại nhiều hội nghị, hội thảo. Tất cả các doanh nghiệp bảo hiểm đều nhìn nhận tính chất nghiêm trọng của vấn đề và mong muốn toàn ngành bảo hiểm, từ góc độ cơ quan quản lý, hiệp hội bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm chung tay để từng bước hạn chế được vấn nạn này.

Trục lợi bảo hiểm và thực trạng hiện nay ở Việt Nam

            Trục lợi bảo hiểm là bất kỳ hành vi lừa dối nào nhằm kiếm lợi bất hợp pháp của các chủ thể tham gia vào quan hệ kinh doanh bảo hiểm. Trục lợi bảo hiểm rất đa dạng, dưới nhiều hình thức. Ngành bảo hiểm trên thế giới thông thường chia hành vi trục lợi làm 2 dạng : “Trục lợi cứng” (Hard Fraud) và “Trục lợi mềm”(Soft Fraud).

            “Trục lợi cứng” là hành vi khi một người cố tình lập hồ sơ khiếu nại cho một vụ tổn thất không có thật; hoặc cố tình khởi tạo một vụ tổn thất, tự phá hủy tài sản để đòi bồi thường bảo hiểm (ví dụ cố ý dàn dựng đâm va ô tô, tự đốt cháy tài sản …). “Trục lợi mềm”, hay còn được gọi là “trục lợi cơ hội” (opportunistic fraud), là hành vi người được bảo hiểm khai tăng khiếu nại hợp pháp của họ. Trục lợi “mềm” cũng có thể phát sinh khi bắt đầu mua một hợp đồng bảo hiểm mới, người tham gia bảo hiểm kê khai không trung thực các tình trạng hiện tại hoặc trước đây của đối tượng bảo hiểm nhằm mục đích hưởng lợi bất hợp pháp (như được hưởng một mức phí bảo hiểm rẻ hơn).

            Tổng hợp ý kiến của đại diện các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và nhân thọ tại Hội thảo “Đánh giá thực trạng và giải pháp phòng chống trục lợi trong bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm con người” (là 2 loại hình bảo hiểm được nhận định phát sinh nhiều trường hợp trục lợi bảo hiểm nhất) do Cục QLGSBH và Hiệp hội bảo hiểm Việt nam phối hợp tổ chức ngày 17/8/2012, có thể nhận thấy hành vi trục lợi, cả trục lợi “cứng’ và trục lợi “mềm”, đã xuất hiện, ngày càng trở nên phổ biến và nghiêm trọng ở Việt Nam. Đa số trục lợi bảo hiểm là trục lợi “mềm” (trục lợi cơ hội), tuy nhiên cũng đã xuất hiện nhiều trường hợp trục lợi cứng như cố tình đốt cháy tài sản, xe cộ, giả mất cắp xe, ngụy tạo hồ sơ điều trị y tế khống…(*). Hiện tại chưa có một nghiên cứu đầy đủ về trục lợi bảo hiểm, tuy nhiên theo khảo sát của Bộ tài chính tại 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ (PNT) lớn nhất Việt Nam năm 2010 cho thấy trục lợi bảo hiểm (bị phát hiện và từ chối bồi thường) lên tới trên 10%  số tiền bồi thường của doanh nghiệp (Thiệt hại do trục lợi không bị phát hiện và đã giải quyết bồi thường được nhận định cao hơn nhiều so với tỷ lệ này).

Tại sao trục lợi bảo hiểm ngày càng trở nên khó kiểm soát ở Việt Nam?

            Chúng ta thừa nhận trục lợi bảo hiểm là một vấn đề tồn tại song hành cùng ngành bảo hiểm ở mọi nước, không riêng ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo chúng tôi có một số yếu tố nổi bật dưới đây khiến trục lợi bảo hiểm ở Việt Nam ngày càng trở nên khó hạn chế và kiểm soát so với các thị trường bảo hiểm phát triển (tất nhiên những yếu tố này cũng tồn tại ở các thị trường bảo hiểm phát triển khác, nhưng ở Việt Nam chúng biểu hiện rõ rệt và có tính đặc trưng cao hơn).  Đó là:

Đọc tiếp »

DƯƠNG THỊ NHI

Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo bảo hiểm (Bộ Tài chính)

Trên thực tế, chỉ đạo hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bội (KSNB) có thể là Hội đồng Quản trị (HĐQT), có thể là ban giám đốc, nên hoạt động kiểm soát chưa hoàn toàn độc lập. Bài viết này nói về thực trạng hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp (DN) bảo hiểm, cũng như gợi mở hướng cải thiện hoạt động này.

Chưa đồng bộ và chưa quy chuẩn
Từ năm 2007, tại Điều 15 Nghị định số 45/2007/NĐ-CP quy định chi tiết về Luật Kinh doanh bảo hiểm đã có quy định về kiểm tra, KSNB. Năm 2012, cụ thể hóa các quy định về kiểm tra, KSNB tại Nghị định 45, Điều 36 Thông tư số 124/2012/TT-BTC đã hướng dẫn chi tiết về hoạt động kiểm tra, KSNB của DN bảo hiểm. Theo đó, DN bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài phải xây dựng, ban hành quy trình nghiệp vụ và tổ chức kiểm tra, KSNB.
Quy trình kiểm tra, KSNB phải được cấp có thẩm quyền quy định tại Điều lệ tổ chức và hoạt động (đối với DN bảo hiểm) hoặc Quy chế tổ chức và hoạt động (đối với chi nhánh nước ngoài) ban hành bằng văn bản và phải cho phép kiểm tra chéo giữa các cá nhân, các bộ phận cùng tham gia một quy trình nghiệp vụ; phải thông báo quy trình kiểm tra, KSNB đến tất cả người lao động của DN để người lao động nhận thức được tầm quan trọng và tham gia một cách có hiệu quả vào hoạt động kiểm tra, KSNB; người điều hành các bộ phận, đơn vị nghiệp vụ, các cá nhân có liên quan phải thường xuyên xem xét, đánh giá về tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm tra, KSNB; mọi khiếm khuyết của hệ thống này phải được báo cáo kịp thời với cấp quản lý trực tiếp; những khiếm khuyết lớn có thể gây tổn thất hoặc nguy cơ rủi ro phải được báo cáo ngay tổng giám đốc (giám đốc), chủ tịch HĐQT (chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch công ty), ban kiểm soát; trưởng các bộ phận của DN bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài báo cáo, đánh giá về kết quả kiểm tra, KSNB tại bộ phận do mình phụ trách hoặc trong phạm vi nhiệm vụ được giao; đề xuất biện pháp xử lý đối với những tồn tại, bất cập (nếu có) gửi lãnh đạo cấp quản lý trực tiếp theo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của lãnh đạo cấp quản lý trực tiếp.

Đọc tiếp »

Đã có không ít định chế tài chính thất bại với mô hình bancassurance như ING, Standard Life. Mô hình ngân hàng kết hợp bảo hiểm – Bancassurance không ưu việt như từng được tung hô.

Có nhiều lý do để ngân hàng và đơn vị bảo hiểm tham gia bancassurance, mô hình bán các sản phẩm bảo hiểm thông qua mạng lưới của ngân hàng. Đối với ngân hàng, trong bối cảnh cạnh tran

h lãi suất khiến cho lợi nhuận bị sụt giảm, việc bán bảo hiểm (hưởng hoa hồng) giúp mang lại nguồn thu ổn định và ít rủi ro, trong khi không đòi hỏi vốn đầu tư lớn (ngân hàng có thể tận dụng chi nhánh và nhân lực sẵn có). Đối với đơn vị bảo hiểm, khi bán sản phẩm thông qua ngân hàng, họ không cần phải phát triển mạng lưới và thương hiệu, từ đó giúp tiết giảm chi phí, hạ giá thành để nâng cao tính cạnh tranh. Thông qua mối liên kết, cả ngân hàng lẫn đơn vị bảo hiểm sẽ có cơ hội cung cấp nhiều sản phẩm tài chính hơn nhằm giữ chân khách hàng tốt hơn.

Đó là lý do ở Việt Nam có nhiều ngân hàng mở công ty bảo hiểm riêng. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) có ABIC, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam có BIC, Ngân hàng Công Thương Việt Nam có Bảo hiểm Bảo Ngân… Ngược lại, Bảo Việt, tập đoàn bảo hiểm hàng đầu Việt Nam, cũng lập nên ngân hàng riêng là Baoviet Bank nhằm hướng tới hoàn thiện mô hình “siêu thị tài chính Bảo Việt.”

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 5-2014

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Bảy 2015
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 6    
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,286,938 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Quỹ GEM đầu tư 20 triệu đô la Mỹ vào Hoàng Quân 03/07/2015
    (TBKTSG Online) - Quỹ đầu tư Global Emerging Market (GEM) sẽ đầu tư 20 triệu đô la Mỹ, tương đương gần 440 tỉ đồng vào Công ty cổ phẩn Tư vấn – Thương mại – Dịch vụ Địa ốc Hoàng Quân (HQC) thông qua việc đầu tư vào cổ phiếu HQC trong thời gian 30 tháng kể từ ngày ký hợp đồng, ngày 1-7-2015. […]
  • Nới room: tham khảo cam kết WTO 03/07/2015
    (TBKTSG) - Kể từ cuối tuần trước khi Nghị định 60 về mở room được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành, giới đầu tư và các doanh nghiệp đều ngóng trông Thông tư hướng dẫn thi hành nghị định của Bộ Tài chính.
  • Cổ phiếu ngân hàng bùng nổ 02/07/2015
    (TBKTSG Online) - Thị trường có một phiên giao dịch sôi động trong hôm nay. Đà tăng cả hai sàn nới dần theo thời gian giao dịch của phiên và gần như không có nhiều điều chỉnh lớn trong hôm nay.
  • BIDV cho ngư dân vay ưu đãi 1.000 tỉ đồng 01/07/2015
    (TBKTSG Online) - Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa công bố gói tín dụng ưu đãi trị giá 1.000 tỉ đồng cho khách hàng cá nhân, hộ gia đình ngư dân nhằm giúp họ đóng tàu và bám biển.
  • UBCK bắt đầu nhận hồ sơ xin nới room của cty chứng khoán 01/07/2015
    (TBKTSG Online) - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ nhận hồ sơ và thẩm định ngay cho các công ty chứng khoán có nhu cầu tăng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (mở room). Theo quy định tại Nghị định 60/2015/NĐ-CP thì công ty chứng khoán được mở room đến 100%.
  • Chứng khoán ngày cuối tháng: khối ngoại “độc diễn” 30/06/2015
    (TBKTSG Online) - Thị trường phiên hôm nay thật sự là sân khấu độc diễn của khối ngoại khi hầu hết những điểm sáng nhất trên thị trường đều có liên quan nhiều đến giao dịch của khối này.
  • Ngân hàng Xây dựng khởi động lại sau chuyển đổi 30/06/2015
    (TBKTSG Online) -  Sau khi được Ngân hàng Nhà nước chính thức mua lại với giá 0 đồng từ đầu tháng 3-2015, Ngân hàng Xây dựng đang có những động thái quay trở lại thị trường, với việc thay đổi nhận diện thương hiệu và đưa ra các chương trình khuyến mãi để thu hút tiền gửi cũng như tập trung vào mảng cho vay cá nhân. […]
  • IPO Cảng Sài Gòn: bán xong toàn bộ 35,7 triệu cổ phần 30/06/2015
    (TBKTSG Online) - Hơn 35,7 triệu cổ phần của Công ty TNHH MTV Cảng Sài Gòn đã được bán hết ngay trong phiên đấu giá lần đầu ra công chúng (IPO) diễn ra sáng nay 30-6. Với số cổ phần bán được cảng Sài Gòn đã thu về hơn 411 tỉ đồng.
  • Sacombank chính thức công bố đề án sáp nhập 29/06/2015
    (TBKTSG Online) - Tỷ lệ chuyển đổi cổ phiếu giữa Ngân hàng Phương Nam (Southernbank) và Sacombank đã được công bố ở mức 1: 0,75; tức một cổ phiếu Southernbank sẽ được chuyển đổi thành 0,75 cổ phiếu Sacombank.
  • Chứng khoán phân hóa mạnh 29/06/2015
    (TBKTSG Online) – Thị trường chứng khoán khởi đầu tuần mới với những diễn biến khá trái chiều tại các nhóm cổ phiếu. Hai chỉ số cũng có sự phân hóa khi VN-Index tăng tốt, lên mức 591,75 điểm (+1,72%) trong khi HNX-Index lại gần như “đứng im” tại tham chiếu 85,48 điểm. Diễn biến trong phiên theo hướng tích cực dần theo thời gian giao dịch. […]
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 172 other followers