You are currently browsing the tag archive for the ‘tổ chức tín dụng’ tag.

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu các thay đổi chủ yếu của cơ chế cho vay mới của TCTD đối với khách hàng theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN.

Ngày 30/12/2016, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Thông tư 39/2016/TT-NHNN có hiệu lực thi hành từ ngày 15/3/2017 và thay thế 08 văn bản sau đây: (i) Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng; (ii) Quyết định số 28/2002/QĐ-NHNN ngày 11/01/2002 về sửa đổi Điều 2 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN; (iii) Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN; (iv) Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005 về việc sửa đổi, bổ sung Khoản 6 Điều 1 của Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN; (v) Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; (vi) Thông tư số 05/2011/TT-NHNN ngày 10/3/2011 quy định về thu phí cho vay của tổ chức tín dụng, ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; (vii) Thông tư số 33/2011/TT-NHNN ngày 08/10/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2010/TT-NHNN và Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN; (viii) Thông tư số 08/2014/TT-NHNN ngày 17/3/2014 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế. Thông tư 39/2016/TT-NHNN được ban hành nhằm khắc phục các bất cập đã nảy sinh trong quá trình thực hiện Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN, thực hiện các quy định tại các luật liên quan như Bộ luật dân sự 2015, Luật các tổ chức tín dụng 2010; đồng thời tạo lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ cho hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TCTD) đối với khách hàng. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu các thay đổi chủ yếu của cơ chế cho vay mới của TCTD đối với khách hàng theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN.

1. Về chủ thể vay vốn

Đọc tiếp »

Advertisements

TRƯƠNG THANH ĐỨC

LUẬT SƯ, TRỌNG TÀI VIÊN VIAC

(TBKTSG) Ngày 25-3-2015, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có Văn bản số 1821 về việc thoái vốn của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại các tổ chức tín dụng (TCTD) cổ phần. Văn bản này chủ yếu nhắc lại các quy định mà các DNNN và đơn vị có liên quan phải thực hiện khi chuyển nhượng cổ phần tại các tổ chức tín dụng. Bài viết của Luật sư Trương Thanh Đức(*) nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức chuyển nhượng vốn của DNNN tại các TCTD.

Việc thoái vốn của doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước (DNNN) tại các TCTD cổ phần đang được yêu cầu đẩy nhanh tiến độ. Đây là việc làm rất cần thiết, tuy nhiên, nghiêng về khả năng thực hiện theo cơ chế thị trường hay cơ chế hành chính là vấn đề đặt ra.

Yêu cầu thoái vốn bắt buộc

DNNN không được góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng (trừ những trường hợp đặc biệt theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) và nếu đã góp vốn, đầu tư, thì phải thoái hết số vốn đã đầu tư. Việc này đã được quy định tại khoản 1, điều 29 về “Đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp”, Nghị định số 71/2013 ngày 11-7-2013 của Chính phủ về Đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Vấn đề này cũng đã được nhắc lại trong Quyết định số 51/2014 của Thủ tướng Chính phủ, Thông báo số 85 ngày 11-3-2015 của Văn phòng Chính phủ và gần đây nhất là Công văn số 1821 ngày 25-3-2015 của NHNN.

Theo các văn bản trên, có hai trường hợp liên quan đến việc thoái vốn phải được NHNN xem xét chấp thuận theo quy định tại Luật các TCTD và Thông tư số 06/2010 ngày 26-2-2010 của Thống đốc NHNN.

Thứ nhất là trường hợp cổ đông lớn (sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên) của TCTD phải chuyển nhượng cổ phần. Thứ hai là cổ đông nhận chuyển nhượng cổ phần (dù sẽ hay không trở thành cổ đông lớn của TCTD).

Đối với trường hợp thứ nhất thì sẽ không có vướng mắc, do đơn thuần là thủ tục mang tính hình thức, vì việc chuyển nhượng là bắt buộc theo yêu cầu của Chính phủ. Vấn đề chỉ còn là bán thế nào, bán giá nào và bán cho ai? Điều này cũng đồng thời liên quan đến trường hợp thứ hai, đó là ai sẽ là người mua và nhất là ai sẽ trở thành cổ đông lớn của các ngân hàng cổ phần?

Thoái vốn thông qua thị trường

Đọc tiếp »

THANH THANH LAN

Nghiên cứu của nhóm chuyên gia tại Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy, ngân hàng nào có sở hữu tư nhân nhiều, các cổ đông lớn trực tiếp tham gia HĐQT thì khả năng sinh lời sẽ càng cao.

Nhận định trên vừa được đưa ra trong cuốn Kỷ yếu của Diễn đàn kinh tế mùa xuân diễn ra sáng nay (28/4). Đây là kết quả nghiên cứu của nhóm chuyên gia đứng đầu là Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn – Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Theo nhóm tác giả, khả năng sinh lời trên tổng tài sản (ROA) của các ngân hàng Việt Nam bị ảnh hưởng mạnh bởi mức độ tập trung sở hữu và có quan hệ cùng chiều.

"Điều này hoàn toàn có thể giải thích được khi 5 cổ đông lớn nhất là những người tham gia Hội đồng quản trị (HĐQT), mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành sẽ không còn. Do vậy, HĐQT có quyền ảnh hưởng lớn đến các quyết định kinh doanh, đảm bảo theo đuổi mục tiêu tăng lợi nhuận", nhóm chuyên gia cho biết.

Đọc tiếp »

Chấm dứt nghiệp vụ giữ hộ và kinh doanh vàng của ngân hàng thương mại sẽ giúp dập tắt mọi nguy cơ đe dọa an toàn hệ thống, theo ý kiến các chuyên gia.

Đại học kinh tế TP HCM sáng nay công bố báo cáo thường niên mang tên "Triển vọng kinh tế 2014". Trong đó, Tiến sĩ Trần Ngọc Thơ, Trưởng Khoa Tài chính, cho rằng nghiệp vụ giữ vàng hộ dù được đưa ra ngoài bảng cân đối tài sản của ngân hàng thương mại, nhưng bản chất của vấn đề vẫn không thay đổi. Vàng vẫn được huy động và được ghi chép dưới khoản mục nào đó và kvang-mieng-1367040462-500x0-JP-5880-8502hi đưa ra ngoại bảng, càng khó kiểm soát hơn. Theo ông Thơ, Ngân hàng Nhà nước đã nỗ lực thực hiện chủ trương cấm chuyển đổi vốn vàng huy động sang tiền đồng, nhưng lại cho phép ngân hàng kinh doanh vàng, nên bản chất vấn đề không thay đổi. "Quy định chuyển đổi vàng sang tiền đồng là việc bán khống tài sản không thuộc về mình. Còn cho phép ngân hàng đầu tư vàng giống như hình thức dùng vốn huy động để mua vàng thật với quá nhiều rủi ro phía trước", ông Thơ phân tích.

Đọc tiếp »

NHÓM NGHIÊN CỨU HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN:

PGS.TS. Đào Hùng, TS.Nguyễn Thạc Hoát, TS. Nguyễn Trọng Nghĩa,

ThS. Nguyễn Thế Vinh, ThS. Nguyễn Việt Anh

Việt Nam bước vào giai đoạn 2011-2012 trong bối cảnh nền kinh tế trong nước đối mặt với nhiều thách thức to lớn. Lạm phát của thế giới có xu hướng tăng lên, trong đó giá dầu thô, giá nguyên vật liệu cơ (bản đầu vào của sản xuất), giá lương thực, và thực phẩm trên thế giới tăng cao.Trong khi đó, vào năm 2011, giá cả trong nước tăng cao, áp lực lạm phát ngày càng tăng lên do nhiều nguyên nhân nội tại của nền kinh tế tích lũy từ trước đến nay và chính sách nới lỏng tiền tệ để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng trong thời gian 2008-2010, làm tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta.

Nghị quyết Hội nghị T.Ư 3 (khóa XI) tháng 10-2011 đã xác định giai đoạn 2011-2015, ưu tiên hàng đầu của kinh tế Việt Nam là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đi đôi với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.

Cùng với sự điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô, Chính phủ đã đổi mới quan điểm, điều chỉnh mục tiêu chính sách tiền tệ thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội về phát triển kinh tế xã hội, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, thể hiện rõ trong các nghị quyết của Chính phủ 2011-2012[1].

NHNN đã ban hành các văn bản chỉ đạo[2] triển khai thực hiện CSTT, điều hành nhất quán, kiên định theo các định hướng mục tiêu của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và nhiệm vụ đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng(TCTD).

Về CSTT giai đoạn trước năm 2010 đã được đề cập trong nhiều công trình, dự án nghiên cứu cụ thể.Vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu của CSTT trong năm 2011 và 2012.Những số liệu liên quan đến thời kỳ trước được sử dụng để phân tích, so sánh để làm rõ hơn CSTT 2011-2012.

I. ĐỊNH HƯỚNG MỤC TIÊU VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 2011-2012

Đọc tiếp »

Sở hữu chéo, đầu tư chéo có ở hầu hết các hệ thống tài chính trên thế giới với quy mô, mức độ phức tạp và biện pháp quản lý, kiểm soát khác nhau. Nói một cách đơn giản nhất thì sở hữu chéo là việc một số chủ thể sở hữu cổ phần, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp ở từ hai ngân hàng trở lên hoặc sở hữu cổ phần lẫn nhau. Đến nay, vấn đề sở hữu chéo giữa các ngân hàng thu hút sự quan tâm đáng kể bởi nhiều lý do: Thứ nhất, sở hữu chéo có thể gây cản trở đến năng lực cạnh tranh và vì vậy tác động không nhỏ đến sự phân bổ quyền sở hữu tài sản; Thứ hai, sở hữu chéo trong nhiều trường hợp có liên quan rất lớn đến những người sáng lập chính của ngân hàng mà vì nhiều lý do không thể đảm bảo quản trị ngân hàng hiệu quả.

Trong những năm 1990, hệ thống ngân hàng của Ý đã có những thay đổi sâu sắc cả về khuôn khổ pháp lý lẫn cơ cấu, tổ chức và đó là một trong những nhân tố góp phần gỡ bỏ đáng kể những rào cản về gia nhập thị trường, tự do mở chi nhánh ngân hàng, xác định lại cơ cấu sở hữu và diễn ra hàng loạt các hoạt động hợp nhất, sáp nhập. Trong giai đoạn này, các học giả đa phần tập trung nghiên cứu những ảnh hưởng của cuộc cải cách đến quá trình củng cố hệ thống ngân hàng mà ít chú ý đến sự hình thành hết sức phức tạp của sở hữu chéo gắn liền với các tập đoàn ngân hàng lớn của Ý.

1. Tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Ý:

Đọc tiếp »

Luattaichinh đăng lại bài này từ Thời báo Kinh tế Sài gòn điện tử, không nhằm mục đích nào khác ngoài việc để những người nghiên cứu về lĩnh vực tài chính – ngân hàng có thêm một số thông tin liên quan đến vụ việc ACB từ cái nhìn của người trong cuộc.

——————————————

(TBKTSG) – Ở tuổi 78, mang bệnh (ung thư) và cái án lơ lửng trên đầu, ông Trần Xuân Giá lẽ ra phải suy sụp. Song, ở con người từng giúp phát triển khu vực doanh nghiệp tư nhân Việt Nam vẫn lộ rõ một phong thái lịch lãm và một trí nhớ mẫn tiệp, dù gương mặt không giấu được nỗi buồn.

Những con số sống động

Trung tuần tháng 6-2005, một vụ trưởng ở Văn phòng Trung ương Đảng tìm gặp ông Giá. Phòng của ông Giá sát với phòng làm việc của Thủ tướng Phan Văn Khải, người đã đích thân chọn ông làm Trưởng ban Nghiên cứu của Thủ tướng.

Vị vụ trưởng được ông Phan Diễn, Thường trực Ban Bí thư, yêu cầu sang gặp ông Giá để tìm hiểu về các chủ trương liên quan đến việc cho tư nhân kinh doanh vàng trước năm 1990. Ông nói với vị vụ trưởng: “Cậu xuống văn thư, lấy Văn bản 319/CT ngày 24-5-1989 lên đây, rồi tớ sẽ kể”. Nửa tiếng sau, vị vụ trưởng cầm văn bản đó lên, và không giấu nổi vẻ sửng sốt, hỏi: “Sao từng ấy năm trôi qua mà anh nhớ đến tận số, ngày, tháng như vậy?”.

Đó là một câu chuyện ít người biết. Chiều 23-5-1989, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh chủ trì phiên họp Bộ Chính trị để nghe Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười báo cáo về vấn đề cho tư nhân kinh doanh vàng. Báo cáo này do Phó chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng Trần Xuân Giá chủ trì soạn thảo.

Vào thời điểm đó, tư nhân kinh doanh vàng vẫn đang ngoài vòng pháp luật, dù người dân vẫn sử dụng vàng để thanh toán việc mua những hàng hóa tiêu dùng như ti vi, tủ lạnh… Sau phiên họp căng thẳng kéo dài hai giờ đồng hồ, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười được yêu cầu sớm ban hành văn bản cho phép tư nhân kinh doanh vàng.

Đêm hôm đó, ông Giá thức đến 2 giờ sáng để soạn xong văn bản. 4 giờ sáng liên lạc viên đến lấy về đánh máy, và đến 6 giờ 15 phút thì ông cầm văn bản tới trình ông Đỗ Mười. Ông Mười trách: “Sao chú hứa với tôi đến lúc 6 giờ mà giờ này mới đến”, song vẫn xem và sửa. Ông Giá lại tất tả cầm văn bản đi sửa, rồi mang lại. Ông Mười ngồi nghĩ một lát, rồi nói: “Thôi, chú đánh máy lại rồi mang đến nhờ anh Sáu Dân ký”. Đến 7 giờ, ông gặp được ông Sáu Dân (Võ Văn Kiệt). Trước khi ký, ông Kiệt nói: “Anh Mười xem rồi, thì mình ký, mình không đọc lại nhé”. Cầm văn bản đó, ông Giá đến ngay văn thư lấy số công văn, đóng dấu, và yêu cầu phát hành toàn quốc ngay lập tức. Lúc đó mới chỉ là 7 giờ 15 phút sáng 24-5-1989.

Đọc tiếp »

LƯƠNG THỊ HỒNG NGÂN

Với hệ thống hơn 100 ngân hàng hiện đang có mặt tại Việt Nam bao gồm cả ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần(TMCP), ngân hàng nước ngoài, đặc biệt sự phát triển nóng của các ngân hàng TMCP trong thời gian vừa qua đang là bài toán thách thức đối với quản trị ngân hàng. Sức ép tăng vốn điều lệ, tăng trưởng mạnh về tổng tài sản, sự tăng trưởng nhanh về tín dụng, nợ xấu tăng cao, sự mở rộng các chi  nhánh/phòng giao dịch… đang là những vấn đề cần bàn trong quản trị ngân hàng. Hơn nữa hội nhập quốc tế đòi hỏi các ngân hàng phải quản trị theo thông lệ quốc tế trong đó hình thành nên bộ phận kiểm toán nội bộ là một vấn đề tất yếu. Kiểm toán nội bộ là công cụ quản trị hữu hiệu trong thời kỳ hội nhập. Trong phạm vi bài viết này tác giả muốn làm rõ hai khái niệm kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ đồng thời chỉ ra lợi ích của hoạt động kiểm toán nội bộ và đề xuất một số giải pháp xây dựng chiến lược kiểm toán nội bộ hiện đại trong các ngân hàng thương mại.

1. Kiểm toán nội bộ và lợi ích của hệ thống kiểm toán nội bộ

Đọc tiếp »

ThS NGUYỄN THANH TÚ VÀ NGUYẾN THỊ HỒNG NHUNG

ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trong một thời gian dài chúng ta đã quá quen thuộc với việc các TCTD công bố các khoản lãi khủng, với những khoản lợi nhuận khổng lồ từ hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, thời gian gần đây, những con số mà các TCTD đưa ra lại vẽ lên một bức tranh tương phản với những điều chính các tổ chức này thể hiện trước đây: tăng trưởng tín dụng thấp; tình trạng nợ xấu gia tăng và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ; con số sợ xấu được ghi nhận lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng. Rất nhiều câu hỏi được đặt ra về thực trạng nợ xấu của các TCTD, đâu là nguyên nhân và có những giải pháp nào để giải quyết?

1. Thực trạng nợ xấu của các TCTD ở Việt Nam

Nợ xấu được hiểu là một món nợ phải thu khó đòi[1]. Việc xác định tính chất “khó đòi” của nợ xấu được xác định khác nhau ở mỗi quốc gia. Phòng Thống kê – Liên Hiệp Quốc xác định , “một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.

Tại Việt Nam, các khoản nợ của các TCTD được phân loại thành 5 nhóm theo thứ tự từ 1 đến 5 và từ nhóm 3 trở lên được xác định là nhóm “dưới tiêu chuẩn” tương đương với việc thể hiện tính chất “khó đòi”. Cụ thể, theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng của TCTD được sửa đổi bổ sung bởi Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN, nợ từ nhóm 3 gồm các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. Đồng thời tại Điều 7 của Quyết định nói trên cũng quy định các ngân hàng thương mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.   Như vậy nợ xấu theo pháp luật Việt Nam xác định theo 2 phương pháp: (i) phương pháp định lượng dựa vào tính chất quá hạn của khoản nợ và (ii) phương pháp định tính căn cứ theo khả năng trả nợ đáng lo ngại.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Mười Một 2017
H B T N S B C
« Th9    
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,782,258 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • “Sức khỏe” ngành ngân hàng đã cải thiện? 19/11/2017
    (TBKTSG) - Ngày 31-10-2017, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s đã nâng mức đánh giá triển vọng của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ “ổn định” lên “tích cực”. Trước đó, vào tháng 12-2014, Moody’s đã nâng triển vọng của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ “tiêu cực” lên “ổn định”.  Số liệu thống kê gần nhất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng cho thấy sự cải thiện đán […]
  • 2017 - năm thoái vốn thành công của SCIC 18/11/2017
    (TBKTSG) - Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ( SCIC ) vừa công bố lịch trình thoái vốn tại Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu y tế Domesco (DMC - Hose); Tổng công ty cổ phần Xây dựng và Xuất nhập khẩu Việt Nam (VCG - Hnx); Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh (BMP - Hose); Công ty cổ phần Nhựa Tiền Phong (NTP - Hnx); Công ty cổ phần FPT (FPT - Hose). Tron […]
  • SCIC kỳ vọng thu thêm 8.000 tỉ đồng từ thoái vốn 17/11/2017
    (TBKTSG Online) – Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) tự tin sẽ thoái vốn thành công tại 5 doanh nghiệp vào tháng 12 tới và kỳ vọng thu về khoảng 8.000 tỉ đồng từ hoạt động này.
  • Dự trữ ngoại hối tăng lên 46 tỉ đô la Mỹ 17/11/2017
    (TBKTSG Online) - “Nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng đến cuối tháng 9-2017 khoảng 566 ngàn tỉ đồng, tức là giảm hơn so với con số 600 ngàn tỉ đồng vào cuối năm 2016”, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng trả lời đại biểu Quốc hội.
  • NHNN: không tăng trưởng tín dụng bằng mọi giá 17/11/2017
    (TBKTSG Online) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng cho biết tăng trưởng tín dụng 21% không phải mục tiêu bắt buộc của Chính phủ, và Ngân hàng Nhà nước không yêu cầu các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng bằng mọi giá.
  • Thanh khoản tăng mạnh 16/11/2017
    (TBKTSG Online) - Thị trường mở cửa phiên giao dịch với sắc xanh trên diện rộng nhờ sự đóng góp của một số mã như VNM, FPT, PVD, KDC, VCB, PLC… Về cuối phiên sáng, nhóm cổ phiếu trụ cột tiếp tục tăng mạnh tạo động lực cho thị trường. Tạm dừng phiên sáng, VN-Index tăng 5,62 điểm (+0,63%) lên 888,21 điểm và HNX-Index tăng 0,49 điểm (+0,45%) lên 107,97 điểm. […]
  • Thách thức cho công ty chứng khoán có vốn ngoại 16/11/2017
    (TBKTSG) - Dù có ưu thế về vốn và kinh nghiệm nhưng để tạo được đột phá trên một thị trường mà những đối thủ “nội” đã xác lập được vị trí vững chắc là điều không dễ dàng cho các công ty chứng khoán (CTCK) có vốn ngoại.
  • SCIC tiếp tục bán cổ phần tại bốn doanh nghiệp 15/11/2017
    (TBKTSG Online) - Sau thành công của thương vụ bán 3,33% vốn ở Vinamilk thu về gần 9.000 tỉ đồng, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) tiếp tục triển khai việc bán cổ phần bốn doanh nghiệp khác vào tháng 12 để thu tiền về cho Nhà nước.
  • Cổ phiếu vốn hóa lớn phân hóa mạnh 15/11/2017
    (TBKTSG Online) - Thị trường mở cửa phiên giao dịch với sự điều chỉnh của nhiều cổ phiếu lớn như VNM, VRE, đặc biệt là nhóm dầu khí gồm GAS, PVD, PVS, PVC… Cuối phiên sáng, thị trường nhích lên trên mốc tham chiếu nhờ nhóm cổ phiếu lớn thu hẹp đà giảm. Tạm dừng phiên sáng, VN-Index tăng nhẹ 0,51 điểm (+0,06%) lên 881,41 điểm và HNX-Index tăng 0,05 điểm (+0,0 […]
  • Chào giá cạnh tranh khi bán tiếp cổ phần Sabeco 15/11/2017
    (TBKTSG Online) - Bộ Công Thương vẫn chưa công bố số lượng cổ phần chào bán tại Tổng công ty Rượu bia nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) mà mới chỉ công bố phương thức kinh doanh là chào giá cạnh tranh.