You are currently browsing the tag archive for the ‘chính sách’ tag.

PGS,TS. NGUYỄN TRỌNG TÀI

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

Chính sách tiền tệ (CSTT) truyền thống được các ngân hàng trung ương (NHTW) áp dụng trong những năm qua và phát huy các tác động tích cực trong việc ổn định thị trường tài chính, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, khi thị trường tài chính đã lún sâu vào khủng hoảng, CSTT bị suy giảm hiệu lực, đòi hỏi NHTW cần phải đưa ra các công cụ khác để tác động lên thị trường tài chính và các công cụ chính sách này được gọi tên là các công cụ CSTT phi truyền thống.

Bài viết này tập trung đề cập việc sử dụng CSTT phi truyền thống tại một số nước, đồng thời, trên cơ sở đề cập khái quát tình hình áp dụng CSTT phi truyền thống tại Việt Nam những năm qua sẽ đưa ra một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam.

1. Khái quát CSTT phi truyền thống

Ngày nay, NHTW chủ yếu thực thi CSTT bằng cách đặt ra một mục tiêu cho lãi suất (LS) qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng và điều chỉnh lượng cung tiền của NHTW hướng tới mục tiêu đó thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Để giảm thiểu tối đa rủi ro trên bảng cân đối của NHTW, tất cả các nghiệp vụ cung cấp thanh khoản đều được diễn ra dưới hình thức các giao dịch đối ứng trên cơ sở các tài sản thế chấp đủ tiêu chuẩn. Nói cách khác, trong điều kiện bình thường, NHTW không có quan hệ cho vay trực tiếp với Chính phủ và khu vực tư nhân. Cụ thể, NHTW không tiến hành việc mua đứt trái phiếu Chính phủ hay nợ doanh nghiệp (DN) và các công cụ nợ khác. Bằng cách điều chỉnh mức LS chính sách, NHTW có khả năng kiểm soát khả năng thanh khoản trên thị trường tiền tệ một cách có hiệu quả. Qua đó, đạt được mục tiêu cuối cùng của mình là bình ổn giá cả trong trung và dài hạn. Biện pháp này giúp NHTW có thể đưa ra CSTT mở rộng phù hợp với nền kinh tế trong giai đoạn suy thoái. Đồng thời, đây cũng là một giải pháp hữu hiệu nhằm kiềm chế áp lực lạm phát trong thời kì bùng nổ kinh tế và đảm bảo ổn định chức năng của thị trường tiền tệ. Tuy nhiên, trong một số thời kỳ, CSTT truyền thống không thực sự có hiệu quả mặc dù NHTW vẫn nỗ lực nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.

Có hai trường hợp có thể xảy ra:

Đọc tiếp »

Advertisements

TS.Nguyễn Thị Kim Thanh

Bài viết này tác giả tập trung phân tích tính đồng bộ, linh hoạt của một số các giải pháp thực thi CSTT ngân hàng Nhà nước đã thực hiện trong 2 năm qua, kết quả đạt được và gợi ý chính sách cho những năm tới.

Mục tiêu vận hành của các chính sách kinh tế tại mỗi quốc gia đều hướng tới đảm bảo tăng trưởng bền vững, ổn định giá cả và việc làm. Đây là ba mục tiêu trọng yếu cấu thành nên sự ổn định của kinh tế. Các mục tiêu này được thực hiện thông qua công cụ là các chính sách kinh tế. Trong đó việc điều hành CSTT là một trong những nghệ thuật quan trọng góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Xét về phương diện lý thuyết, mục tiêu chủ yếu nhất của CSTT là kiểm soát lạm phát trong trung hạn, bởi độ trễ trong tác động của CSTT đến lạm phát. Lý thuyết cũng như thực tế đã chứng minh CSTT chỉ đạt hiệu quả cao nhất trong kiểm soát lạm phát khi các giải pháp chính sách chỉ tập trung theo đuổi mục tiêu này. Tuy nhiên, do các biến số kinh tế có những diễn biến phức tạp và chi phối lẫn nhau nên việc thực thi CSTT ở mỗi quốc gia tùy thuộc vào mức độ, điều kiện phát triển và giai đoạn phát triển mà các mục tiêu vĩ mô được lựa chọn có thể có thứ tự ưu tiên khác nhau. Có nghĩa là trong những điều kiện nhất định, CSTT có thể hướng tới mục tiêu khác ngoài lạm phát. (Chẳng hạn như trong giai đoạn hiện nay ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Anh khi lạm phát đã được duy trì ổn định ở mức thấp, kinh tế suy thoái thì CSTT được nới lỏng để theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế, khuyến khích xuất khẩu).

Việt Nam là quốc gia đang trong giai đoạn lạm phát cao và thiếu ổn định. Chính vì vậy mà vấn đề kiểm soát lạm phát đã trở thành mục tiêu hàng đầu trong thực thi CSTT. Để hiểu rõ hơn các giải pháp thực thi CSTT của NHNN trong 2 năm qua, chúng ta cùng nhìn lại những diễn biến kinh tế trong nước và quốc tế những năm đó.

Bối cảnh kinh tế và xu hướng chính sách của một số nước trên thế giới

Đọc tiếp »

Bài 1: Điều tiết thị trường BĐS: Những bất cập từ chính sách thuế

Tác giả: TS. Lê Xuân Trường

Thời báo Ngân hàng điện tử, http://www.thoibaonganhang.vn, ngày 19/03/2012

Ngoài việc đem lại một khoản thu nhất định cho ngân sách nhà nước, thuế đối với BĐS trong thời gian vừa qua đã có vai trò nhất định trong việc điều tiết hoạt động của thị trường bất động sản (BĐS) theo các quan điểm và mục tiêu của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên tác động điều tiết của chính sách thuế đối với thị trường BĐS cũng còn những hạn chế nhất định.

Tìm điểm yếu của thuế

Điều này có thể nhìn thấy rõ trong vai trò điều tiết thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội chưa được phát huy đúng mức. Trong thuế nhà đất (từ năm 2011 về trước) và thuế sử dụng đất phi nông  nghiệp (từ năm 2012 trở đi) chưa đánh thuế nhà. Mức thuế sử dụng đất phi nông nghiệp lũy tiến vào giá trị quyền sử dụng đất chưa đủ lớn (0,07% và 0,15%) để điều tiết mạnh mẽ vào thu nhập của người sở hữu nhiều BĐS.

Đối với mức thu thuế đất thấp (cả đối với thuế nhà, đất trước đây và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp  hiện hành), thuế đất chưa thúc đẩy các tổ chức, cá nhân trong xã hội sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả. Lý do đơn giản là  vì chủ sử dụng đất không bị thúc bách bởi việc phải sử dụng đất sao cho có thể mang  lại thu nhập để nộp thuế hàng năm, bởi vậy khả năng sinh lời của đất không biến thành sự sinh lời thực tế. Đất không được sử dụng hết hiệu suất cho sản xuất, kinh doanh, thậm chí còn bị bỏ trống, lãng  phí  nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia.

Hơn thế, xét về vai trò điều tiết thị trường BĐS. Mức thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (áp dụng từ năm 2012) chưa đủ lớn để thúc đẩy các cá nhân nhanh chóng đưa BĐS ra giao dịch trên thị trường, góp phần tạo nên sự khan hiếm giả tạo về cung trên thị trường BĐS.

Tăng thuế suất đối với đất ở ngoài hạn mức

Đọc tiếp »

TS. ĐÀO MINH TÚ

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) tuy có những chức năng riêng nhưng lại có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau trong việc thực hiện mục tiêu kinh tế chung của mỗi quốc gia. Với một nước đang phát triển như Việt Nam thì mối quan hệ giữa hai chính sách này trong điều hành, quản lý kinh tế vĩ mô càng trở nên quan trọng.

Bài học từ quá khứ

Trong những năm qua, đặc biệt là từ năm 2008 trở lại đây, sự phối kết hợp giữa CSTK và CSTT là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ. Theo đó, CSTT đã được điều hành thận trọng, linh hoạt, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô trong từng giai đoạn.
Cụ thể như, từ ưu tiên kiềm chế lạm phát cao năm 2008 sang tập trung ngăn chặn suy giảm kinh tế năm 2009, khôi phục đà tăng trưởng năm 2010 và kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô năm 2011 và năm 2012.
Song song với đó, CSTK được hoàn thiện theo hướng bảo đảm thống nhất, minh bạch và công bằng; chính sách thuế được điều chỉnh theo hướng giảm dần và ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lý thu nhập, nuôi dưỡng nguồn thu; vốn đầu tư từ ngân sách được tập trung cho phát triển kết cấu hạ tầng, nông nghiệp, nông thôn và phát triển các lĩnh vực xã hội, xóa đói giảm nghèo.
Nhờ đó, mặc dù bị tác động nặng nề của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng tăng trưởng kinh tế nước ta giai đoạn từ năm 2008 đến 2012 vẫn đạt mức khá cao với bình quân đạt gần 7%/năm; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên.

Tuy vậy, hiệu quả phối hợp trong thực thi hai chính sách này vẫn còn hạn chế, đôi khi thiếu đồng bộ và nhịp nhàng, làm ảnh hướng đến kết quả thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Chính phủ cũng đã khẳng định: “Việc phối hợp CSTK với CSTT, giải quyết mối quan hệ giữa ổn định kinh tê vĩ mô và tăng trưởng có lúc chưa thật phù hợp”. Cụ thể:

Đọc tiếp »

I – TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN

Sau gần 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định xã hội, an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường… Hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai từng bước được tăng cường; chính sách, pháp luật về đất đai ngày càng được hoàn thiện; các quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm; thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất đã được hình thành và phát triển nhanh. Kết quả đó khẳng định các quan điểm chỉ đạo, định hướng chính sách, pháp luật về đất đai được xác định trong Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX cơ bản là đúng đắn, phù hợp với đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về đất đai còn nhiều hạn chế, nhất là trong quy hoạch sử dụng đất, định giá đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư, các thủ tục hành chính về đất đai. Lợi ích của Nhà nước và người dân có đất bị thu hồi chưa được bảo đảm tương xứng; nguồn lực về đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; việc sử dụng đất nhiều nơi còn lãng phí, hiệu quả thấp; tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực này còn lớn; thị trường bất động sản phát triển không ổn định, thiếu lành mạnh, giao dịch "ngầm" còn khá phổ biến; tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn diễn biến phức tạp.

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém nêu trên là: Đất đai có nguồn gốc rất đa dạng; chính sách đất đai thay đổi qua nhiều thời kỳ; chủ trương, chính sách, pháp luật hiện hành về đất đai còn một số nội dung chưa đủ rõ, chưa phù hợp; việc thể chế hoá còn chậm, chưa thật đồng bộ. Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai và các chính sách, pháp luật có liên quan chưa nghiêm. Công tác tuyên truyền, giáo dục và quán triệt các chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai còn kém hiệu quả; việc thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý đất đai chưa tốt. Ý thức chấp hành pháp luật về đất đai của một bộ phận cán bộ và nhân dân còn hạn chế. Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi sai phạm chưa nghiêm. Hiệu lực, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn thấp. Tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ cán bộ về quản lý đất đai và các cơ quan liên quan còn nhiều bất cập, hạn chế; một bộ phận còn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, tham nhũng.

II- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Một 2019
H B T N S B C
« Th7    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 930 072 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Khó đẩy lùi tín dụng đen bằng gói tín dụng mới 21/01/2019
    (TBKTSG) - Với mục tiêu đẩy lùi vấn nạn tín dụng đen tại khu vực nông thôn, mới đây Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có những chỉ đạo quyết liệt liên quan đến việc mở rộng tín dụng cho khu vực nông thôn. Tuy nhiên giải pháp này sẽ khó có thể giải quyết được tận gốc vấn nạn tín dụng đen. […]
  • Dòng tiền đang trở lại, thanh khoản tăng mạnh 21/01/2019
    (TBKTSG Online) - TTCK Mỹ ghi nhận 1 phiên giao dịch thành công với DJIA (+1,38%), S&P 500 (+1,32%) và NASDAQ Composite (+1,03%) nhờ tín hiệu tích cực đến từ việc Trung Quốc đã đề nghị nâng hàng hóa nhập khẩu từ Mỹ trong 6 năm trong các cuộc đàm phán gần đây.
  • Đồng đô la liệu có tiếp tục tăng trong tuần tới? 20/01/2019
    (TBKTSG Online) - Đồng đô la có tuần tăng giá tích cực trên thị trường thế giới với mức tăng 0,7% so với các đồng tiền chủ chốt (chỉ số đồng đô la - US dollar index, đóng cửa cuối tuần ở mức 96,33 điểm).
  • Lợi nhuận ngân hàng dần bền vững nhờ dịch vụ 20/01/2019
    (TBKTSG) - 14% là tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2018, thấp hơn khá nhiều so với mức 17,6% đạt được trong năm 2017 và so với mục tiêu 17% đặt ra hồi đầu năm 2018.
  • Chứng khoán tuần tới sẽ tích cực hơn? 19/01/2019
    (TBKTSG Online) - TTCK Việt Nam vừa trải qua một tuần lễ với các giao dịch khá cầm chừng, chủ yếu vì thiếu vắng các thông tin quan trọng và tâm lý e ngại do hoạt động đáo hạn của hợp đồng phái sinh kỳ tháng 1.
  • Thanh khoản ổn định, lãi suất có dấu hiệu tăng 19/01/2019
    (TBKTSG Online) - Tuần vừa qua, thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng (LNH) khá ổn định, lãi suất có xu hướng đi ngang trong tuần và tăng nhẹ vào cuối tuần. Ngày 18-1, lãi suất tiền đồng kỳ hạn qua đêm, 1 tuần, 1 tháng lần lượt phổ biến ở mức 4,5; 4,7; 5,2%; tăng từ 0,1 - 0,3 điểm phần trăm các kỳ hạn so với đầu tuần. […]
  • Chứng khoán thế giới hồi phục nhưng VN-Index vẫn giằng co 18/01/2019
    (TBKTSG Online) - TTCK Mỹ tiếp tục ghi nhận 1 phiên giao dịch thành công với chỉ số S&P 500 (+0,76%), DJIA (+0,67%) và NASDAQ Composite (+0,71%). Cùng với đó, TTCK Châu Á có 1 phiên hồi phục mạnh mẽ khi chỉ số Shanghai SE composite (+1,42%), Hang Seng (+1,17%) và Nikkei 225 (+1,29%).
  • Chính thức hợp nhất hai sàn chứng khoán 18/01/2019
    (TBKTSG) - Khi mục tiêu nâng hạng và tiến đến hội nhập với thị trường vốn khu vực ngày càng cấp bách thì việc “hợp nhất” hai sở giao dịch chứng khoán hiện nay là con đường tất yếu và đến lúc phải thực thi.
  • Dấu hiệu tích cực của tiền tệ 18/01/2019
    (TBKTSG) - Tuần trước, lần đầu tiên kể từ giữa năm ngoái, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã mua lại được hơn 1 tỉ đô la Mỹ để bổ sung vào quỹ dự trữ ngoại hối với mức giá 23.200 đồng/đô la Mỹ.
  • Áp lực bán gia tăng 17/01/2019
    (TBKTSG Online) - TTCK Mỹ tiếp tục ghi nhận 1 phiên giao dịch tích cực với DJIA (+0,59%), S&P 500 (+0,22%) và NASDAQ Composite (+0,15%) nhờ vào kết quả kinh doanh Q4/2018 ấn tượng từ các ngân hàng lớn như Goldman Sachs (+9,54%) và Bank of America (+7,16%).
Advertisements