MỞ ĐẦU

Trong những năm qua việc thực hiện nhiệm của các cơ quan nhà nước cơ bản hoàn thành với mục tiêu đề ra, đảm bảo tuân thủ đường lối của Đảng và chính sách phát triển đất nước. Trong những nhiệm vụ đã thực hiện, phải kể tới hoạt động chi ngân sách của các cơ quan ở trung ương và địa phương nhằm hỗ trợ cho công việc của mình. Để hiểu rõ hơn chế độ chi ngân sách của nước ta cũng như hoạt động chi ngân sách về mua sắm tài sản của các cơ quan nhà nước trong thực tiễn hiện nay. Nhóm em xin lựa chọn đề số 01: “Tìm hiểu nội dung của chế độ chi mua sắm tài sản, đánh giá thực tiễn áp dụng từ  năm 2015 đến nay và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chi ngân sách cho lĩnh vực mua sắm tài sản công ở Việt Nam” phân tích để làm rõ vấn đề trên.

 

NỘI DUNG

I. KHÁI QUÁT CHUNG

1. Chế độ chi ngân sách nhà nước

  1. Khái niệm

            Có rất nhiều ý kiến được đưa ra về khái niệm thế nào là chi ngân sách nhà nước, có thể kể đến như:

– Chi ngân sách nhà nước là hoạt động nhằm sử dụng quỹ Ngân sách nhà nước, là quá trình phân phối nguồn tiền trong quỹ ngân sách nhà nước vào những mục đích khác nhau.

– Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.

– Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Do đó, Chi ngân sách nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước.[1]

Từ những khái niệm trên, có thể thấy, chi ngân sách nhà nước bao gồm những hoạt động sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước. Vậy ta có thể tổng kết lại bằng một khái niệm khái quát nhất, đó là:

Chi ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định trên cơ sở dự toán chi ngân sách nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước.

  1. Đặc điểm chi ngân sách nhà nước

Chi ngân sách nhà nước là hoạt động mang những đặc điểm sau:

Thứ nhất, chi ngân sách chỉ được tiến hành trên cơ sở pháp luật và theo kế hoạch chi ngân sách cũng như phân bổ ngân sách do cơ quan quyền lực nhà nước quy định. Theo điều 19 Luật ngân sách nhà nước năm 2015, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền quyết định về tổng số chi, cơ cấu, nội dung, mức độ các khoản chi ngân sách nhà nước và quyết định phân bổ ngân sách trung ương. Mọi hoạt động chi ngân sách phải dựa trên  cơ sở quyết định của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp.

Thứ hai, chi ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn mục tiêu nhu cầu về tài chính cho sự vận hành của bộ máy nhà nước, đảm bảo cho nhà nước thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Như vậy, bên cạnh chịu ảnh hưởng của kết quả thu ngân sách nhà nước, mức độ và phạm vi chi ngân sách nhà nước còn phụ thuộc vào quy mô của bộ máy nhà nước cũng như tùy thuộc vào các chức năng, nhiệm vụ mà nhà nước đảm nhiệm. Khoản 3 điều 36 và Khoản 2 Điều 38 Luật ngân sách nhà nước năm 2015 phản ánh rõ nét mục tiêu chi cho hoạt động của bộ máy nhà nước và đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước và bảo đảm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng.

Thứ ba, chi ngân sách nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi hai chủ thể. Thứ nhất là nhóm chủ thể đại diện cho nhà nước thực hiện việc quản lí, cấp phát thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước. thứ hai, nhóm chủ thể sử dụng ngân sách nhà nước. Nhóm thứ nhất gồm các cơ quan đại diện cho nhà nước thực thi quyền hạn có liên quan tới việc xuất quỹ ngân sách nhà nước cho các mục tiêu đã được phê duyệt. Nhóm thứ hai gốm các chủ thể sử dụng ngân sách[2].

  1. Phân loại chi ngân sách nhà nước

Hoạt động chi ngân sách nhà nước được phân loại theo một số căn cứ từ đó rút ra các mặt hoạt động của nhà nước như sau:

Thứ nhất, Căn cứ vào chức năng

Nhóm chi quốc phòng an ninh gồm những khoản chi để xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang, để thực hiện công tác bảo vệ trị an trong nước.

Nhóm  Chi tích lũy của ngân sách nhà nước là những khoản chi làm tăng cơ sở vật chất và tiềm lực cho nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế; là những khoản chi đầu tư phát triển và các khoản tích lũy khác.

Nhóm Chi tiêu dùng của ngân sách nhà nước là các khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai; bao gồm chi cho hoạt động sự nghiệp, quản lý hành chính, quốc phòng, an ninh…

Nhóm chi đầu tư phát triển là những khoản chi cho đầu tư xây dựng cơ bản và một số khoản chi đầu tư luật định khác. Đây là những khoản chi ngân sách nhà nước để phát triển các dịch vụ kinh tế, dịch vụ xã hội như phát triển nông nghiệp và nông thôn, chi xây dựng các công trình công cộng, chi cho hoạt động thương mại, công nghiệp, giao thông vận tải. do có tác động tăng trưỏng kinh tế, khoản chi này còn được gọi là chi tích lũy.

Nhóm chi trả nợ  là những khoản chi của ngân sách nhà nước để trả các khoản nợ đến hạn gồm cả gốc lẫn lãi và chi phí khác phát sinh từ quan hệ vay mượn. loại chi này phản ánh việc thực hiện trái vụ của nhà nước trong quan hệ vay mượn từ các chủ thể trong và ngoài nước.

Nhóm chi viện trợ là những khoản chi nảy sinh trong quan hệ đối ngoại của nhà nước. khoản chi này thường được đưa vào kết cấu chi ngân sách nhà nước, cho phép chính phủ có thể giúp đỡ các quốc gia bị lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính do trải qua những biến cố chính trị, kinh tế hoặc do phải đương đầu với những thiệt hại nặng nề do thiên tai đem lại.

Nhóm chi dự trữ là những khoản chi ngân sách nhà nước để bổ sung quỹ dự trữ nhà nước và quỹ dự trữ tài chính, gồm khoản chi nhà nước để mua hàng dự trữ luật định. Khoản chi này trước đây được coi là một bộ phận của chi đầu tư phát triển, nay mới được tách ra thành một khoản chi riêng trong kết cấu các khoản chi theo Luật ngân sách nhà nước năm 2015

Thứ hai, Căn cứ mức độ định kì

Nhóm chi thường xuyên bao gồm các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của nhà nước; là những khoản chi của ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, hỗ trợ các hoạt động tổ chức khác và thực hiện hoạt động thường xuyên của nhà nước về phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng và an ninh.

Nhóm chi không thường xuyên gồm những khoản chi như: chi đầu tư phát triển kinh tế; chi trả nợ gôc và lãi các khoản tiền do chính phủ vay, chi viện trợ, cho vay theo quy định của pháp luật, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của trung ương/ của cấp tỉnh, chi bổ sung cho ngân sách địa phương.

Thứ ba, Căn cứ theo đối tượng chi

Chi cho con người;

Chi cho hoạt động chuyên môn nghiệp vụ;

Chi mua sắm, sửa chữa tài sản, trang thiết bị;

Ngoài ra, tùy thuộc vào yêu cầu của công tác quản lí ngân sách nhà nước mà có thể lựa chọn một số tiêu thức phân loại khác nhau.

Theo quy định pháp luật hiện hành tại Điều 3 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP quy định chi ngân sách nhà nước bao gồm:

Chi đầu tư phát triển: Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội không có khả năng thu hồi vốn; Chi bổ sung dự trữ nhà nước….các khoản chi này mang tính phát triển tạo dựng kinh tế.

Chi thường xuyên: Các hoạt dộng sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác; Các hoạt động của các cơ quan nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Hội cựu chiến binh Việt Nam, Hội liên hợp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam…

Một số hoạt động chi khác: chi trả nợ bao gồm cả gốc và lãi, tiền vay của nhà nước; chi viện trợ cho nước ngoài; chi cho hoạt động vay ngân sách trung ương; chi bổ sung quỹ tài chính; chi bổ sung ngân sách từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới.

  1. Nguyên tắc chi ngân sách nhà nước

Nguyên tắc thứ nhất: gắn chặt các khoản thu để bố trí các khoản chi. Nếu vi phạm nguyên tắc này dẫn đến bội chi ngân sách nhà nước,gây lạm phát mất cân bằng cho sự phát triển xã hội;

        Nguyên tắc thứ hai: đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước;

         Nguyên tắc thứ ba: theo nguyên tắc nhà nước và nhân dân cùng làm, nhất là các khoản chi mang tính chất phúc lợi xã hội;

         Nguyên tắc thứ tư: tập trung có trọng điểm đòi hỏi việc phân bổ nguồn vốn từ ngân sách nhà nước phải tập trung vào các chương trình trọng điểm, các ngành mũi nhọn của nhà nước;

         Nguyên tắc thứ năm: phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của các cấp theo quy định của luật;

Nguyên tắc thứ sáu: phối hợp chặt chẽ với khối lượng tiền tệ, lãi suất, tỷ giá hối đoái.

  1. Điều kiện chi ngân sách nhà nước

Theo Khoản 2 Điều 12 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 thì:

Chi ngân sách nhà nước chỉ được thực hiện khi đã có trong dự toán ngân sách được giao, trừ trường hợp quy định tại Điều 51 của Luật này; đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách, chủ đầu tư hoặc người được ủy quyền quyết định và đáp ứng các điều kiện trong từng trường hợp sau đây:

Thứ nhất, đối với chi đầu tư xây dựng cơ bản phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về đầu tư công và xây dựng.

Thứ hai, đối với chi thường xuyên phải đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; trường hợp các cơ quan đơn vị đã được cấp có thẩm quyền cho phép thực hiện theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí thì thực hiện theo quy chế chi tiêu nội bộ và phù hợp với dự toán được giao tự chủ;

Thứ ba, đối với chi dự trữ quốc gia phải bảo đảm các điều kiện theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia;

Thứ tư, đối với những gói thầu thuộc các nhiệm vụ, chương trình, dự án cần phải đấu thầu để lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp phải tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu;t

Thứ năm, đối với những khoản chi cho công việc thực hiện theo phương thức Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch phải theo quy định về giá hoặc phí và lệ phí do cơ quan có thẩm quyền ban hành.[3]

2. Chế độ chi mua sắm tài sản

  1. Khái niệm chi ngân sách về mua sắm tài sản

Luật ngân sách nhà nước năm 2015 và các văn bản pháp luật quy định về ngân sách nhà nước không đưa ra khái niệm thế nào là mua sắm tài sản cũng như chi mua sắm tài sản. Tại Điều 36, 37 Luật ngân sách nhà nước 2015 chỉ quy định nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, theo đó bao gồm các khoản chi như sau:

  • Chi đầu tư phát triển ở cả ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
  • Chi dự trữ quốc gia đối với ngân sách trung ương
  • Chi thường xuyên của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương trong các lĩnh vực nun quốc phòng, sự nghiệp giáo dục; sự nghiệp khoa học và công nghệ…
  • Chi chả nợ lãi các khoản tiền do Chính phủ, chính quyền địa phương vay.
  • Chi viện trợ đối với ngân sách trung ương.
  • Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính trung ương và địa phương.
  • Chi chuyển nguồn của ngân sách trung ương, địa phương sang năm sau.
  • Chi bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương.
  • Chi hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ quy định tại các điểm a, b, c Khoản 9 Điều 9 của luật này.

Như vậy, căn cứ vào các khoản chi nêu trên thì chi mua sắm tài sản được coi là nhiệm vụ chi thường xuyên của ngân sách nhà nước. Và việc chi mua sắm tài sản này nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân.

  1. Nội dung chi ngân sách về mua sắm tài sản

Hoạt động chi mua sắm tài sản được quy định trong rất nhiều văn bản pháp luật, như:

– Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2013.

– Thông tư số 63/2007/TT-BTC ngày 15 tháng 6 năm 2007 Hướng dẫn thực hiện đấu thầu  mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước bằng vốn  nhà nước.

– Quyết định số 179/2007/QĐ-TTg ngày 26 tháng 11 năm 2007 về việc ban hành Quy chế tổ chức mua sắm tài sản, hàng hoá từ ngân sách nhà nước theo phương thức tập trung của Thủ tướng Chính phủ.

– Công văn 1438/ 2015/ BTC- QLCS về việc hướng dẫn mua sắm tài sản từ nguồn NSNN năm 2015.

– Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 07/01/2016 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2016.

Các văn bản quy định chi tiết nhiệm vụ chi mua sắm tài sản trong năm ngân sách 2016 gồm : Quyết định 08/2016/QĐ- TTg quy định vấn đề mua sắm tài sản nhà nước theo phương thức tập trung ; Công văn số 2304 của Bộ tài chính về hướng dẫn mua sắm tài sản từ nguồn ngân sách nhà nước năm 2016;

Từ quy định pháp luật hiện hành trong hoạt động chi ngân sách nhà nước về mua sắm tài sản sẽ phân tích, chỉ rõ các vấn đề về: Nguyên tắc thực hiện mua sắm tài sản; Nội dung mua sắm tài sản.

* Nguyên tắc thực hiện mua sắm tài sản

Ở Việt Nam tồn tại hai phương thức mua sắm tài sản nhà nước là mua sắm phân tán và mua sắm tập trung. Trong đó, mua sắm phân tán là phương thức truyền thống đang được áp dụng phổ biến. Tuy nhiên, phương thức này hiện đang bộc lộ nhiều hạn chế như: không chuyên nghiệp và chưa tách bạch được nhiệm vụ quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công trong quản lý tài sản công; gây tốn kém…

Bởi vậy, việc áp dụng phương thức mua sắm tập trung khắc phục được những hạn chế này. Nhận thức được sự cần thiết của phương thức này, Chính phủ đã yêu cầu ban hành quy định về mua sắm tài sản nhà nước theo phương thức tập trung được quy định tại Quyết định 08/20116/ QĐ- TTg .

Theo quy định của  pháp luật  việc mua sắm tài sản nhà nước được thực hiện theo một trong các phương thức sau đây:

– Mua sắm tập trung;

– Cơ quan được giao quản lý, sử dụng tài sản thực hiện mua sắm.

– Phương thức mua sắm tập trung: Phương thức này được áp dụng đối với các loại tài sản có số lượng mua sắm nhiều, tổng giá trị mua sắm lớn và có yêu cầu được trang bị đồng bộ, hiện đại. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, người đứng đầu cơ quan khác ở Trung ương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định danh mục tài sản mua sắm theo phương thức tập trung, thuộc phạm vi quản lý.

Phương thức Cơ quan được giao quản lý, sử dụng tài sản thực hiện mua sắm được áp dụng khi đơn vị được giao thực hiện việc mua sắm tài sản theo phương thức tập trung có quyền và nghĩa vụ sau đây:

+ Được Nhà nước giao kinh phí để mua sắm tài sản cho các cơ quan nhà nước theo phạm vi nhiệm vụ được giao.

+ Thực hiện việc mua sắm tài sản theo quy định của pháp luật về đấu thầu mua sắm tài sản, hàng hóa từ ngân sách nhà nước;

+ Bàn giao tài sản cho cơ quan được giao quản lý, sử dụng theo chế độ quy định, sau khi hoàn thành việc mua sắm.

Để thực hiện tốt khi lựa chọn phương thức áp dụng cho phù hợp trong việc mua sắm sẽ phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác nhau của từng đơn vị mua sắm.

* Nội dung mua sắm tài sản  thực hiện mua sắm theo các nội dung cụ thể sau:

– Trang thiết bị, phương tiện làm việc quy định tại Quyết định số 170/2006/QĐ-TTg ngày 18/7/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn, định mức trang thiết bị và phương tiện làm việc của các cơ quan và cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.

– Trang thiết bị và phương tiện làm việc

– Vật tư, công cụ, dụng cụ bảo đảm hoạt động thường xuyên.

– Máy móc, trang thiết bị phục vụ cho công tác chuyên môn, phục vụ an toàn lao động, phòng cháy, chữa cháy

– May sắm trang phục ngành (gồm cả mua sắm vật liệu và công may).

– Mua sắm các sản phẩm công nghệ thông tin gồm: Máy móc, thiết bị, phụ kiện, phần mềm và các sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin khác, bao gồm cả lắp đặt, chạy thử, bảo hành (nếu có) thuộc dự án công nghệ thông tin sử dụng vốn sự nghiệp theo quy định của Chính phủ về quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

– Phương tiện vận chuyển: ô tô, xe máy, tàu, thuyền, xuồng và các phương tiện vận chuyển khác (nếu có).

– Sản phẩm in, tài liệu, biểu mẫu, ấn phẩm, ấn chỉ, tem; văn hoá phẩm, sách, tài liệu, phim

ảnh và các sản phẩm, dịch vụ để tuyên truyền, quảng bá và phục vụ cho công tác chuyên môn.

– Thuê các dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa máy móc trang thiết bị, phương tiện làm việc, phương tiện vận chuyển; dịch vụ thuê trụ sở làm việc và tài sản khác; dịch vụ thuê đường truyền dẫn; dịch vụ bảo hiểm; dịch vụ cung cấp điện, nước, điện thoại cố định và các dịch vụ khác.

Không áp dụng đối với các trường hợp: Mua sắm vật tư, trang thiết bị thuộc dự án; mua sắm trang thiết bị, phương tiện đặc thù chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh.

Qua đây ta thấy qua từng năm ngân sách các quy định về vấn đề chi mua sắm từ ngân sách nhà nước ngày càng hợp lý, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội qua của từng năm. Trong năm 2016 Bộ tài chính ra công văn hướng dẫn mua sắm tài sản kịp thời và đáp ứng được những nhu cầu thật sự cần thiết của các cơ quan, địa phương.

* Thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản

Từ ngày 16/5/2016 , việc mua sắm tài sản sẽ thực hiện theo thông tư số 58/2016/TT-BTC quy định về việc sử dụng vốn nhà nước để mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước như sau.

Thứ nhất, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, người đứng đầu cơ quan khác ở trung ương quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý.

Thứ hai, HĐND cấp tỉnh phân cấp thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương

Thứ ba, Thủ trưởng đơn vị dự toán các cấp quyết định mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ đối với nội dung , danh mục dự toán mua sắm theo quy định như Có giá trị thuộc phạm vi được cơ quan có thẩm quyền phân cấp; Có giá trị không quá 100 triệu đồng trong phạm vi dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền giao.

Thứ tư, Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp công lập quyết định việc mua sắm tài sản theo quy định tại Khoản 2 Điều 41 Nghị định 52/2009/NĐ-CP .

Như vậy, trong hoạt động chi ngân sách nhà nước về mua sắm tài sản được thực hiện theo thẩm quyền quyết định của từng cấp và đảm bảo không có sự chồng chéo cũng như nhầm lẫn dẫn tới thực hiện sai quy định pháp luật.

  1. THỰC TIỄN CHẾ ĐỘ CHI MUA SẮM TÀI SẢN NĂM 2015 ĐẾN NAY
  2. Thành tựu

Công tác thực hiện mua sắm tài sản được các cơ quan nhà nước thực hiện nghiêm chỉnh, chấp hành các quy định pháp luật trong việc thực hiện đúng theo chủ trương dự toán ngân sách năm 2015 tại Quyết định của Bộ tài chính Số: 3137/QĐ-BTC với tổng mức chi là 1.147.100 tỷ đồng, trong đó cho việc chi thường xuyên là 767.000 tỷ đồng, ở trung ương là 399.608 tỷ đồng, ở địa phương là 367.392 tỷ đồng và trong hoạt động chi thường xuyên sẽ chi trả cho hoạt đông chi mua sắm tài sản của từng cấp, từng địa phương phục vụ cho việc quản lý hành chính của mình với mức chi ngân sách cho quản lý hành chính là 41.500 tỷ đồng sẽ lấy ngân sách từ đây để phục vụ hoạt đông chi mua sắm tài sản phục vụ công việc.

Với sự tăng cường quản lý mua sắm công thông qua việc ban hành cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện đã tạo ra sự chuyển biến về nhận thức, nâng cao tinh thần trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan, đơn vị sử dụng tài sản nhà nước tiết kiệm và hiệu quả.

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý cho việc mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ công nói chung, bao gồm cả phương thức mua sắm tập trung và mua sắm phân tán; điều chỉnh từ khâu lập kế hoạch, giao dự toán mua sắm, xây dựng phương án tổ chức mua sắm, tổ chức đấu thầu mua sắm, bàn giao tài sản, hàng hóa cho đơn vị quản lý, sử dụng, bảo hành, bảo trì tài sản mua sắm, kiểm tra giám sát, công khai kết quả mua sắm, xử lý vi phạm, trách nhiệm tổ chức thực hiện… Về cơ bản, các quy định hiện hành đáp ứng được yêu cầu trong mua sắm công.

Trong công tác thực hiện nhiều cá nhân, tổ chức đã thực hiện đúng theo chủ trường, xây dựng đúng kế hoạch và chi tiêu hợp lý cho quá trình hoạt động của mình. Nhiều cá nhân đã đề xuất phương án chỉnh sửa quy định pháp luật sao cho phù hợp hơn, nhiều quy định được linh hoạt trong áp dụng giúp việc thực hiện chi ngân sách nhà nước về mua sắm tài sản không vi phạm pháp luật. Các cơ quan thực hiện việc kiểm tra như Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện công việc của mình một cách nghiêm túc và từ đó phát hiện ra nhiều sai phạm làm thất thoát ngân sách nhà nước.

Việc thực hiện chi mua sắm tài sản giúp phục vụ cho hoạt động của bộ máy nhà nước được thực hiện thống nhất, đồng bộ, đảm bảo các yêu cầu thiết yếu phục vụ công việc của mình. Tạo điều kiện đáp ứng cơ sở vật chất, phương tiện đi lại di chuyển phục vụ công việc, các trang thiết bị cần thiết cũng như bảo trì hoạt động máy móc phục vụ cho công việc.

Như vậy có thể thấy hoạt động chi mua sắm tài sản phục vụ cho hoạt động của bộ máy hành chính được đáp ứng các yêu cầu cần thiết phục vụ cho công tác chuyên môn đã được những thành tựu cơ bản quan trọng, điều đó là tiền đề cho hoạt động của bộ máy nhà nước thực hiện tốt công việc của mình. Trên cơ sở các điều kiện về năng lực, khả năng cung cấp hàng hóa dịch vụ, cơ chế chính sách quản lý ngân sách và quản lý tài sản nhà nước hiện hành; các bộ, ngành, địa phương lựa chọn phương thức mua sắm tập trung hoặc phân tán để phù hợp với điều kiện thực tế.

  1. Hạn chế

Trong hoạt động thực hiện nhiệm vụ các cơ quan nhà nước cần chi tiêu mua sắm tài sản phải đảm bảo các yếu tố chính xác, công khai, minh bạch và việc thực hiện không được vụ lợi cá nhân cũng như xảy ra hiện tượng tham nhũng. Nhưng bên cạnh đó, trong thực tiễn để xét những trường hợp nào cần thực hiện mua sắm tài sản, với trường hợp tài sản đó đã tới lúc cần phải thay thế chưa hay do nhu cầu cần phải mua sắm nhưng nhu cầu đó đã thực sự cần thiết chưa….những câu hỏi này thực sự chưa rõ ràng . Đồng thời  hoạt động chi mua sắm tài sản  hiện nay còn rất nhiều bất cập , hạn chế trong đó mỗi một phương thức chi mua sắm thực hiên trên thực tế lại có những hạn chế nhất định.

* Phương thức mua sắm phân tán tồn tại một số hạn chế như sau

Không chuyên nghiệp và chưa tách bạch được nhiệm vụ quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ trong quản lý tài sản công;

      Tốn kém chi phí tổ chức thực hiện. Trong quá trình mua sắm, các đơn vị cùng thực hiện một quy trình đấu thầu mua sắm đối với một số loại tài sản như nhau (ô tô, trang thiết bị phục vụ công tác). Thay vì một tổ chức thực hiện và một số chuyên gia có chuyên môn sâu thực hiện, thì tại mỗi đơn vị sẽ tổ chức riêng lẻ. Tính tổng thời gian và nhân lực để thực hiện nhiệm vụ này của toàn xã hội sẽ rất lớn (khoảng 100.000 đơn vị thực hiện một nhiệm vụ giống nhau là tiến hành các thủ tục đấu thầu để mua sắm một số chủng loại hàng hóa giống nhau: Xe ô tô, máy tính, điều hòa nhiệt độ, trang thiết bị làm việc, thiết bị giáo dục, y tế…);

Giá cả hàng hóa, dịch vụ cao hơn do mua sắm nhỏ lẻ;

Tài sản mua sắm thiếu tính đồng bộ, hiện đại và việc đảm bảo tiêu chuẩn, định mức trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

* Hạn chế trong mua sắm tập trung

Mức độ triển khai chưa đồng đều, chưa chuyên nghiệp (chưa có các chuyên gia am hiểu về đấu thầu, định giá, chuyên môn kỹ thuật của tài sản mua sắm);

Mỗi hình tổ chức mua sắm tập trung chủ yếu theo chế độ kiêm nhiệm nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện do chưa bố trí đủ nhân lực;

 Hạn chế trong việc bàn giao tài sản; bảo hành, bảo trì tài sản mua sắm do thực hiện thí điểm theo cách thức đơn vị được giao mua sắm sẽ trực tiếp thực hiện mua sắm, ký hợp đồng và giao cho các đơn vị sử dụng.

Nguồn kinh phí mua sắm, dự toán mua sắm và cách thức thanh toán còn chưa linh hoạt dẫn đến khó khăn trong thanh, quyết toán.

  1. Nguyên nhân

Từ những hoạt động chi tiêu không hợp lý sẽ ảnh hưởng tới việc cân đối ngân sách nhà nước, nhiều hoạt động chi tiêu làm phát sinh và dẫn tới hiện tượng bội chi trong năm 2015 của đất nước là 5% GDP. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới hoạt động chi mua sắm tài sản không được thực hiện đúng theo quy định và trên đây là một số nguyên nhân sau:

* Xác định nhu cầu cần mua sắm tài sản

Trong hoạt động mua sắm tài sản phải thực hiện theo các bước đánh giá yêu cầu xem xét cần thiết hay không để từ đó xét duyệt yêu cầu. Việc thực hiện được nhiều cơ quan đánh giá chưa khách quan trung thực, muốn vẽ ra các khoản chi tiêu cũng như mua sắm cho đơn vị của mình. Đối với tình hình hiện tại chưa cần thiết phải mua sắm thiết bị nhưng đã thực hiện trước và nêu ra đó là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo hoạt động của mình.

Ví dụ trong việc xác định nhu cầu mua sắm chưa hợp lý về mua sắm trang thiết bị y tế tại Bệnh viện đa khoa Đắk Nông, được ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông phê duyệt dự án mua sắm trang thiết bị máy móc phục vụ công tác chuyên môn với giá trị 243.6 tỷ đồng. Tới năm 2015 khi phát hiện ra thì bệnh viện đã chi trả một phần cho doanh nghiệp mua sắm thiết bị và khối thiết bị đó hiện để không, hỏng hóc, bệnh viện không sử dụng tới các thiết bị đó. Với quy mô và trình độ kĩ thuật thì bệnh viện không thể sử dụng thiết bị vào chữa bệnh.

Như vậy có thể thấy việc đánh giá về nhu cầu chưa được hợp lý khi thực hiện xét duyệt của cơ quan chức năng cũng như đơn vị yêu cầu lên phương án làm lãng phí của cải nhà nước. Cơ quan xét duyệt chưa đánh giá đúng tình hình và đơn vị không có nhu cầu đáp ứng cho việc chi trả đó, chưa cân nhắc đánh giá yêu tố lợi ích, hiệu quả kinh tế, xã hội của hoạt động đó.

* Về khâu thẩm định, phê duyệt kế hoạch mua sắm tài sản

– Để xảy ra trường hợp các cấp có thẩm quyền thực hiện thẩm định và phê duyệt kế hoạch mua sắm tài sản chưa thực sự chính xác dẫn đến các trường hợp vừa thực hiện xong phải thực hiện tiếp nhằm sửa chữa các trang thiết bị trước đó đã bảo dưỡng nhưng vẫn phải thực hiện sửa chữa phục vụ cho hoạt động.

– Các quy định pháp luật không có đơn giá cụ thể cho các sản phẩm mà phải đánh giá dựa trên đơn giá thị trường và điều này dẫn tới lỗ hỏng khi đơn giá được thoải mái lựa chọn bằng việc lạm quyền đưa đơn giá cao để người có thẩm quyền phê duyệt với mức giá cao nhằm thu lợi chệnh lệch chứ không phải đơn giá đúng với thị trường. Hiện tượng này dẫn tới phê duyệt kế hoạch không đúng với sát thực, gây lãng phí.

– Trong cùng một thiết bị cần được sửa chữa nhưng nhiều đơn vị thực hiện có thể làm được luôn nhưng lại vẽ ra thành nhiều khâu và dẫn tới hiện tượng đơn giá tăng. Điều này khi phê duyệt mắc phải làm ảnh hưởng tới ngân sách nhà nước.

Điều này được lý giải qua việc Sở giáo dục tỉnh Nam Định sau khi đi kiểm tra thực tế phát hiện, các phòng ban cấp huyện ở Giao Thủy xin cấp trang thiết bị máy tính để phục vụ công tác chuyên môn nhưng dù biết mỗi cá nhân muốn sử dụng thiết bị đều đã có máy tính riêng nhưng người có thẩm quyền vẫn phê duyệt trang bị 5 máy tính xách tay trị giá 75 triệu đồng. Điều này cho thấy việc thẩm định không đúng dẫn tới phê duyệt không hợp lý.

      * Về khâu tổ chức thực hiện mua sắm tài sản

Việc thực hiện hoạt động trên được nhà nước giao cho các cơ quan toàn quyền trong lập việc kế hoạch cũng như tổ chức thực hiện và điều này dẫn tới nhiều trường hợp lạm quyền như đơn vị mua sắm có quyền lập kế hoạch chi tiêu về lựa chọn đơn giá mua sắm dù cho theo kế hoạch là chọn đơn giá phù hợp nhưng không hẳn đã thực hiện vậy. Việc lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ cũng như đưa ra quyết định chi tiêu đều do đơn vị mua sắm tài sản quyết định, chỉ số ít các trường hợp mua sắm tài sản có giá trị lớn cần được cấp trên phê duyệt.

Trường hợp khi có kiểm tra, thanh tra với những bảng giá mà đơn vị đưa ra đã có những trường hợp đơn vị đi mua bảng giá của các đơn vị cung cấp dịch vụ để phù hợp theo quy định. Đó chính là những sai phạm mà đơn vị thực hiện thường áp dụng. Các đơn vị thực hiện mua sắm thường không công khai thông tin mua sắm của mình mà có cũng chỉ công khai theo hình thức là có nhưng không ai biết để nhằm mục đích chính đơn vị đó có quyền chỉ định đối tượng cung cấp tài sản mua sắm.

Đơn cử cho các trường hợp này là thực hiện theo quy định trường hợp gói thầu có giá trị từ 20 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng thì cơ quan, đơn vị mua sắm lấy báo giá của ít nhất ba nhà thầu khác nhau (báo giá trực tiếp, bằng fax hoặc qua đường bưu điện) làm cơ sở để lựa chọn nhà thầu tốt nhất. Nhưng trong trường hợp này theo báo cáo của Kiểm toán nhà nước tại Bệnh viện Đa khoa Thanh Thủy – Phú Thọ đầu tư mua thiết bị máy tính với số lượng 03 chiếc có giá trị 38 triệu đồng. Khi kiểm tra giấy tờ báo giá sản phẩm là ba bản báo giá của ba chính nhánh thuộc một công ty TNHH máy tính Ngọc Trang. Như vậy việc thực hiện trên không đảm bảo khách quan vì cả ba bản báo giá đều thuộc một công ty.

Có thể thấy việc thực hiện tổ chức mua sắm tài sản từ nguồn ngân sách còn nhiều hạn chế và ví dụ trên cho thấy nhiều đơn vị dựa vào quy định pháp luật để từ đó thực hiện hành vi lách luật không đúng với nội dung mà quy định đề cập tới, đã dẫn tới sai phạm không đáng có.

* Về khâu sử dụng nguồn vốn ngân sách

Việc thực hiện nguồn vốn được cấp từ ngân sách cho hoạt động của các cơ quan theo các cấp khác nhau, đảm bảo thực hiện theo dự toán đầu năm đề ra. Nhưng còn nhiều trường hợp việc sử dụng nguồn vốn chi mua sắm quá nhiều dẫn tới tình trạng bội chi và điều đó làm ảnh hưởng tới hoạt động thu ngân sách nhà nước.

Ví dụ điển hình cho việc thực hiện chi ngân sách nhiều vượt quá mức dẫn tới bội chi trong năm 2015 là 226 nghìn tỷ đồng và trong số đó có việc thực hiện chi ngân sách cho mua sắm tài sản.

Chính minh chứng trên cho thấy việc thực hiện chi ngân sách nhà nước trong việc mua sắm tài sản là một trong các yếu tố dẫn tới việc không nên xảy ra đó là bội chi ngân sách nhà nước, điều này làm ảnh hưởng tới hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như nguồn ngân sách          nhà nước.

III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHI NGÂN SÁCH CHO LĨNH VỰC MUA SẮM TÀI SẢN Ở VIỆT NAM

1.Hoàn thiện thể chế pháp lý liên quan đến mua sắm tài sản công

Hiện nay, các quy định về mua sắm tài sản công mới chỉ dừng lại ở những quy định chung chung trong Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và một số quy định về mua sắm tài sản công nằm rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật, gây nhiều khó khăn cho việc tổ chức thực hiện, đặc biệt là sự thiếu rõ ràng, cụ thể trong xác định trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, cá nhân vi phạm.

 Theo khoản 6 Điều 10 Quyết định 08/2016/QĐ- TTg quy định việc mua sắm tài sản nhà nước theo phương thức tập trung thì Tổ chức, cá nhân, cơ quan, đơn vị vi phạm quy định tại Quyết định này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy tố trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Bộ luật hình sự 2015 quy định tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179) quy định giá trị tài sản là yếu tố định tội và định khung hình phạt, trong đó, xác định “Người nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, vì thiếu trách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”. Nhưng chưa có văn bản pháp lý nào lý giải cụ thể về “công tác quản lý tài sản của Nhà nước, cơ quan,tổ chức, doanh nghiệp” và thế nào là “có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp”, bởi vấn đề mua sắm tài sản có sự tham gia của nhiều chủ thể. Như vậy, cơ sở để áp dụng Điều luật này đối với vi phạm trong mua sắm tài sản công là bất cập. Vì vậy, cần có sự hướng dẫn một cách cụ thể việc áp dụng chế tài hình sự đối với các vi phạm này.

Bên cạnh đó, cần xây dựng một quy trình tổ chức mua sắm tài sản công trên cơ sở thống nhất thẩm quyền chính một chủ thể, có thể là chủ thể trực tiếp sử dụng tài sản hoặc cơ quan chủ quản cấp trên, có sự tham gia giám sát, hỗ trợ, tư vấn của các cơ quan, đơn vị có liên quan nhằm xác định trách nhiệm chính một cách rõ ràng trong trường hợp để xảy ra các vi phạm.

Quy định Danh mục chủng loại hàng hóa, dịch vụ mua sắm theo phương thức thanh toán được ban hành thống nhất cả nước, gồm các hàng hóa, dịch vụ cơ bản, được sử dụng phổ biến tại các cơ quan của Nhà nước, Chính phủ, trên cơ sở đó đấu thầu công khai lựa chọn một số nhà cung cấp nhất định với chất lượng phù hợp và giá cả tốt nhất. Các cơ quan trực tiếp sử dụng tài sản ký hợp đồng cung cấp với nhà cung cấp đã được lựa chọn trên cơ sở giá cả có sẵn và mẫu hợp đồng chung. Như vậy, sẽ giảm được thời gian, nhân lực, chi phí mà hiện tại tất cả các cơ quan, đơn vị sử dụng tài sản đang tự tổ chức mua sắm đều phải thực hiện một cách không chuyên nghiệp như hiện nay.

2. Nâng cao năng lực của cán bộ thực hiện mua sắm tài sản

Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm nhiệm vụ ở các cấp đảm bảo có trình độ, hiểu biết, ý thức tuân thủ pháp luật cũng như chịu trách nhiệm với công việc của mình. Bên cạnh đó nâng cao năng lực nhận thức trong việc xử lý các trường hợp vi phạm mang tính công khai răng đe, làm bài học rút kinh nghiệm. Những sai phạm đã mắc phải cần chỉ rõ để từ đó cán bộ thực hiện nhiệm vụ biết sửa chữa cũng như không tránh phải những lỗi đó. Bên cạnh việc đào tạo cần học hỏi kinh nghiệm từ các nước bạn thông qua hoạt động chuyên môn trao đổi để cán bộ nâng cao năng lực của mình. Mở các lớp tập huấn hay các bài kiểm tra định kì để kiêm tra năng lực chuyên môn.

3. Nâng cao công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động mua sắm tài sản

Đối với cơ quan có nhu cầu mua sắm cần nghiêm túc thực hiện thành lập các ban ngành thường xuyên kiểm tra hoạt động của cấp dưới cũng như đánh giá những sai phạm để đề ra phương pháp xử lý, thay thế. Tổ chức kiểm tra nghiệm thu chất lượng sản phẩm với cũng chủng loại và chất lượng ở bên ngoài thị trường.

Đối với cá nhân, doanh nghiệp tham gia đấu thầu cung cấp dịch vụ, sản phẩm cần được cơ quan đơn vị mua sắm kiểm tra chất lượng hàng hóa, tiến độ tiến hành công việc, cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan tới sản phẩm, dịch vụ.

Đơn vị mua sắm tài sản phải thường xuyên thành lập đoàn kiểm tra với nội dung kiểm tra trên diện rộng, đảm bảo thực hiện nghiêm túc so với các yêu cầu về chất lượng và kĩ thuật của tài sản cần mua sắm đề ra.

 4. Đảm bảo công khai, minh bạch trong mua sắm tài sản

Thực hiện khắc phục tiêu cực trong hoạt động mua sắm công, đảm bảo công khai, minh bạch, kể cả việc công khai hoá các khoản hoa hồng từ mua sắm. Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên cần thực hiện các nội dung sau:

– Các tổ chức và cá nhân cần phải tuân thủ thực hiện đúng các qui định của pháp luật, qui trình hướng dẫn tổ chức thực hiện mua sắm tài sản, kiểm tra các văn bản pháp luật để đề xuất hướng thay đổi cho phù hợp. Có biện pháp ngăn chặn các biểu hiện thiếu công khai, minh bạch, có biểu hiện tham nhũng lãng phí, hay đã tham nhũng, lãng phí trong mua sắm tài sản công.

– Thực hiện mua sắm tài sản, hàng hóa từ ngân sách nhà nước đúng chế độ quản lý tài chính, quản lý tài sản nhà nước và thực hiện mua sắm trong phạm vi dự toán ngân sách được giao hàng năm. Tạo lập, duy trì và thúc đẩy môi trường công khai, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động mua sắm Thực hiện đúng thủ tục đơn giản nhưng hiệu quả, chặt chẽ và tối đa hóa số lượng các nhà thầu tham gia đấu thầu; ngăn chặn sự liên kết giữa các nhà thầu, xây dựng các hồ sơ đấu thầu mẫu cho từng loại tài sản để thực hiện thống nhất trong toàn tỉnh.

– Đối với đơn vị thực hiện tổ chức mua sắm tài sản, hàng hóa công khai kế hoạch mua sắm, trang bị tài sản; kết quả đấu thầu mua sắm; danh sách các cơ quan, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản, hàng hóa và việc quản lý, sử dụng các khoản hoa hồng từ mua sắm tài sản, hàng hóa theo quy định của Chính phủ. Thực hiện công khai minh bạch các thông tin mua sắm trên trang thông tin của mình.

5. Đảm bảo việc mua sắm tiết kiệm và đạt hiệu quả

Việc mua sắm tài sản phải thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả.Việc thực hiện mua sắm tài sản phải đảm bảo theo nguyên tắc: Kinh phí trong dự toán ngân sách được cơ quan có thẩm quyền giao; việc mua sắm thực hiện theo đúng tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý; việc mua sắm tài sản phải thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả.

Các Bộ, ngành, địa phương có điều kiện rà soát, điều chuyển, bố trí sử dụng có hiệu quả tài sản giữa các cơ quan, đơn vị khi cần phải xử lý; các đơn vị trực tiếp sử dụng tài sản không mất nhiều thời gian cho việc mua sắm tài sản, dành nhiều thời gian hơn cho công tác chuyên môn của đơn vị mình.

KẾT LUẬN

Qua những phân tích nội dung chế độ mua sắm tài sản, việc thực hiện tính từ năm 2015 đến nay  và phương hướng cần thay đổi để hoạt động chi ngân sách nhà nước đạt hiệu quả hơn đã phần nào cho ta thấy đánh giá được việc thực hiện chi ngân sách nhà nước về mua sắm tài sản ở nhiều địa phương và trung ương đã được những thành tích nhất định song bên cạnh đó còn có những hạn chế cần thay đổi.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân sách nhà nước, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2016;
  2. Luật ngân sách nhà nước năm 2015;
  3. Công văn số 1438/BTC-QLCS về việc hướng dẫn mua sắm tài sản từ nguồn NSNN 2015;
  4. Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ;
  5. Thông tư số 63/2007/TT-BTC ngày 15 tháng 6 năm 2007 Hướng dẫn thực hiện đấu thầu mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước bằng vốn nhà nước;
  6. Một số web:

– Bộ tài chính – cục quản lý công sản: http://taisancong.mof.gov.vn/

http://www.chinhphu.vn

http://www.baomoi.com/mua-sam-tai-san-cong-tap-trung-khong-chat-se-lach-luat/c/.epi

http://www.baria-vungtau.gov.vn/huong-dan-mua-sam-tai-san-ngan-sach-nha-nuoc-nam-2015

[1] Giáo trình Luật ngân sách nhà nước, trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2016  . tr-82

[2] Giáo trình Luật ngân sách nhà nước, trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2016  . tr-82, 83

[3] Khoản 2 Điều 12 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015.

Advertisements