You are currently browsing the tag archive for the ‘thuế’ tag.

PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

[Tài liệu công bố tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên, 2017]

Năm 2017 là năm có nhiều dấu ấn quan trọng trong nỗ lực tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp của Chính phủ. Quyết tâm xây dựng một Chính phủ hành động, kiến tạo, liêm chính, phục vụ phát triển đang được định hình rõ nét từ chính sách ban hành cho đến các hành động cụ thể. Nhiều nghị quyết quan trọng được ban hành thời gian qua như Nghị quyết 19, Nghị quyết 35. Năm 2017 được xác định là năm giảm chi phí cho doanh nghiệp, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã thường xuyên quan tâm tới công tác cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh, giảm thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp… Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương.

Những chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã dần lan tỏa xuống các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp. Các diễn đàn, hội nghị đối thoại với doanh nghiệp đã được tổ chức thường xuyên, liên tục ở các cấp, các ngành trong năm 2017. Nhiều vướng mắc, khó khăn của doanh nghiệp đã được lắng nghe, được các cơ quan nhà nước tháo gỡ với thái độ cầu thị. Nhiều bộ, ngành như Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Khoa học Công nghệ… đã chủ động rà soát, có nhiều kế hoạch cải cách điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thủ tục kiểm tra chuyên ngành theo hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh.

Nhìn chung, những nỗ lực trên đang tạo thêm niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới, trở lại hoạt động cũng như số vốn đưa vào đầu tư kinh doanh đều tăng mạnh mẽ. Trong 11 tháng đầu năm 2017, cả nước có 116.045 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 1.131.819 tỷ đồng, tăng 14,1% về số doanh nghiệp và tăng 41,9% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016. Bên cạnh đó, trong 11 tháng đầu năm 2017 có 24.349 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 11 tháng lên 140,4 nghìn doanh nghiệp.[1]

Các tổ chức quốc tế cũng đã ghi nhận những nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh này của Việt Nam. Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2017- 2018 của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), Việt Nam xếp hạng 55 (trên tổng số 137 nền kinh tế), tăng 5 bậc so với năm trước đó và tăng 20 bậc so với 5 năm trước đây. Việt Nam tăng bậc mạnh mẽ, đến 14 bậc, trong Chỉ số Kinh doanh 2018 (Doing Business) của Ngân hàng Thế giới, lên vị trí 68/190 nền kinh tế.

Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn đang gặp khó khăn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong 11 tháng đầu năm 2017, đã có 10.814 doanh nghiệp giải thể và 55.664 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt tăng 3,3% và 3% so với cùng kỳ năm trước.[2] Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động, những gánh nặng về thủ tục hành chính vẫn đang là một trở ngại lớn của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả điều tra Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2016 (PCI) VCCI công bố vào tháng 3 năm 2017 thì 35% doanh nghiệp đang dành trên 10% quỹ thời gian để thực hiện thủ tục hành chính. Cũng theo kết quả khảo sát này, cứ 4 doanh nghiệp thì có 1 doanh nghiệp cho biết khó khăn lớn nhất của họ là thủ tục hành chính phiền hà.

Để tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ trong cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trên cơ sở ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, trong năm 2017 vừa qua đã chủ động xây dựng các kiến nghị cụ thể để kiến nghị Chính phủ, các bộ ngành. VCCI cho rằng cần tiếp tục cải cách mạnh mẽ điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính, trước hết tập trung cải cách danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện, đơn giản hoá thủ tục kiểm tra chuyên ngành và cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp.

Bản tổng hợp dưới đây sẽ tóm tắt các nhóm kiến nghị chính của VCCI thực hiện trong năm 2017[3] tập trung vào ba chủ đề trên.

Đọc tiếp »

Advertisements

PGS,TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO

ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

Với sự kiện Hồ sơ Panama, các cơ quan thuế phải giám sát chặt chẽ hơn các doanh nghiệp đến từ các “thiên đường thuế”, đồng thời cần có những thông tin minh bạch về những tổ chức, cá nhân người Việt liên quan đến Hồ sơ này.

Vì sao Panama được gọi là “thiên đường thuế”

“Thiên đường thuế” là khái niệm được dịch thoát nghĩa từ thuật ngữ “tax haven” (nơi trú ẩn thuế) để chỉ các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ mà chính phủ tại đó áp dụng một mức thuế suất rất thấp đối với các hoạt động kinh doanh nói chung hoặc thậm chí là được miễn và không cần khai báo. Bên cạnh đó, tại các “thiên đường thuế”, thủ tục để đăng ký và thành lập một doanh nghiệp vô cùng đơn giản và nhanh chóng. Bất kỳ người nào cũng có thể thành lập được một công ty “5 không” tại các quốc gia này, đó là: không cần đặt chân đến đó, không cần công khai danh tính người chủ thực sự, không cần có trụ sở, không cần thuê mướn nhân viên, không cần chứng minh bất cứ điều gì về năng lực tài chính hoặc các yêu cầu về điều kiện  kỹ thuật. Chính vì lẽ đó mà các công ty được thành lập dưới dạng này tại đây thường bị gọi là công ty “ma” hoặc công ty “vỏ bọc” ở nước ngoài.

Đọc tiếp »

ThS.ĐẶNG THỊ BẠCH VÂN – QUAN HÁN XƯƠNG 

Từ nhiều năm trước đây, các quốc gia trên thế giới đã nhanh chóng thí điểm và đi vào áp dụng cơ chế tự khai tự nộp thuế nhằm đơn giản hóa hệ thống quản lý thuế và hướng đến khuyến khích tuân thủ tự nguyện.

Cơ chế này tạo sự chủ động cho người nộp thuế, đảm bảo tờ khai thuế phù hợp hơn với thực tế hoạt động SXKD trong bối cảnh số lượng người nộp thuế lẫn mức độ phức tạp của các hoạt động kinh doanh không ngừng gia tăng. Ngoài ra, việc thực hiện cơ chế tự khai tự nộp cũng nhằm nâng cao ý thức tự giác thực hiện pháp luật thuế. Ở góc độ quản lý thuế, cơ chế tự khai tự nộp tạo động lực để tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, tạo điều kiện tổ chức, sắp xếp bộ máy quản lý chuyên sâu, chặt chẽ và hiệu quả.

Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia thực thi cơ chế tự khai tự nộp đều thật sự hữu hiệu. Kinh nghiệm quản lý thuế của Singapore dựa trên nền tảng đặt niềm tin và củng cố niềm tin cũng được phân tích làm cơ sở đưa ra những khuyến nghị cần thiết cho cơ quan thuế Việt Nam.

Lý thuyết về niềm tin và tuân thủ tự nguyện

Đọc tiếp »

  • PGS, TS. LÊ XUÂN TRƯỜNG

Ngày 26/11/2014, Quốc hội đã thông qua Luật số 70/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt với một số điểm mới quan trọng về phạm vi áp dụng, căn cứ tính thuế và thuế suất. Có nhiều việc cần làm để đưa Luật này vào thực tiễn cuộc sống, trong đó, cần ban hành các văn bản dưới luật để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật theo hướng vừa đảm bảo phù hợp với thực tiễn kinh tế – xã hội Việt Nam vừa đảm bảo nhanh chóng về thời gian để chủ động tổ chức thực hiện.

Những điểm mới chủ yếu

Những sửa đổi, bổ sung của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt được đánh giá là đảm bảo số thu cho ngân sách nhà nước một cách hợp lý trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa Nhà nước với người sản xuất, kinh doanh và với người tiêu dùng. Cụ thể:

Một là, loại bỏ khỏi đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nap-ta (naphtha), chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác để pha chế xăng. Sự sửa đổi này sẽ giải quyết được vấn đề phát sinh trong thực tiễn, gây bất lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của một số lĩnh vực, đó là nap-ta và chế phẩm tái hợp không chỉ sử dụng để sản xuất xăng mà còn được sử dụng làm dung môi để sản xuất các sản phẩm khác không thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như sơn, sợi tổng hợp, chất tẩy rửa…

Hai là, bổ sung vào đối tượng không thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích an ninh, quốc phòng. Mục tiêu điều tiết thuế tiêu thụ đặc biệt đối với tàu bay, du thuyền là nhằm điều tiết vào tàu bay, du thuyền cá nhân, sử dụng cho mục đích tiêu dùng cá nhân. Bởi vậy, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 đã quy định tàu bay, du thuyền sử dụng cho vận chuyển hàng hóa, hành khách thì không thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Việc bổ sung tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích an ninh, quốc phòng vào diện không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là nhằm đảm bảo đúng mục tiêu điều tiết của thuế tiêu thụ đặc biệt. Hơn nữa, an ninh, quốc phòng là lĩnh vực Nhà nước đảm bảo 100% ngân sách nên về kỹ thuật, việc đưa vào diện không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích an ninh, quốc phòng giúp giảm bớt các thủ tục thu, chi ngân sách.

Ba là, luật hóa quy định về giá tính thuế thuế tiêu thụ đặc biệt trong trường hợp hàng hóa vừa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt vừa chịu thuế bảo vệ môi trường: Là giá bán chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường. Quy định này trước đây do chưa kịp sửa Luật nên đã hướng dẫn trong văn bản dưới luật.

Bốn là, điều chỉnh thuế suất của một số hàng hóa, dịch vụ. Theo đó, tăng thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt của thuốc lá, rượu, bia, kinh doanh casino, trò chơi điện tử có thưởng. Ngoài ra, đối với mặt hàng xăng thì bổ sung thêm 2 mức thuế suất thấp dành cho xăng sinh học. Nhìn chung, các thay đổi về thuế suất hướng đến tăng mức thuế đối với các mặt hàng có nhiều ngoại ứng tiêu cực với đời sống xã hội, đặc biệt là thuốc lá và rượu, bia. Để góp phần thực hiện Chiến lược quốc gia về phòng chống tác hại thuốc lá đến năm 2020 (Giảm tỷ lệ hút thuốc trong nam giới từ 47,4% xuống còn 39%) thì việc tăng thuế đối với thuốc lá là rất cần thiết và hợp lý. Việc tăng thuế đối với rượu, bia nhằm góp phần giảm bớt tình trạng lạm dụng rượu, bia mà hậu quả của nó đối với trật tự an toàn xã hội và sức khỏe con người đã ở mức báo động. Việc quy định mức thuế suất thấp đối với xăng sinh học là nhằm tạo điều kiện hạ giá bán của xăng sinh học, qua đó, thúc đẩy sử dụng nhiên liệu ít gây hại môi trường. Tăng mức thuế đối với casino để phù hợp với sửa đổi về thuế thu nhập cá nhân. Theo đó, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế, trong đó, loại bỏ khỏi diện chịu thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ trúng thưởng casino do trên thực tế không thể xác định được thu nhập của người chơi khi thắng. Các thay đổi cụ thể về thuế suất thể hiện ở bảng trên.

Tóm lại, những sự sửa đổi, bổ sung về thuế tiêu thụ đặc biệt như trên nhằm phát huy tốt hơn vai trò hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng, đảm bảo đánh thuế cao vào những mặt hàng cao cấp hoặc quá trình sản xuất và tiêu dùng có nhiều ngoại ứng tiêu cực cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng xanh và bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân và điều chỉnh có lộ trình để đảm bảo sự thích ứng của các doanh nghiệp.

Những vấn đề cần chú ý khi xây dựng văn bản dưới luật

Đọc tiếp »

BÙI TRINH – PHẠM LÊ HOA

Nhiều chuyên gia kinh tế và cả những quan chức cao cấp đều cho rằng phải tăng cường sức mạnh của doanh nghiệp nội, chú trọng khu vực nông nghiệp và đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ, nhưng đáng tiếc là cho đến nay điều này vẫn chỉ trong lời nói hoặc trên giấy mà chưa thực sự đi vào nền kinh tế. Ví dụ như nhìn từ chính sách thuế.

Theo Luật Thuế giá trị gia tăng hiện hành, cần phân biệt hai loại hình: loại phải chịu thuế giá trị gia tăng nhưng có thuế suất là 0% và loại không phải chịu thuế giá trị gia tăng.

Hai loại này tuy có chung đặc điểm là doanh nghiệp không phải nộp thuế; nhưng loại hình thứ hai (áp dụng với một số ngành làm đầu vào của nông nghiệp) sẽ không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, trong khi sản phẩm của các ngành này bao gồm rất nhiều các loại thuế nằm lẫn trong chi phí đầu vào. Vì vậy, doanh nghiệp các ngành trong danh sách này thậm chí còn thiệt thòi hơn cả khi phải chịu một mức thuế suất nào đó. Đây cũng là nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp ấy không thể giảm giá bán và những ngành sử dụng sản phẩm của những ngành này làm chi phí đầu vào cũng không được hưởng lợi gì từ chính sách hỗ trợ nửa vời như vậy. Phía thiệt thòi vẫn là người nông dân và các doanh nghiệp nội.

Đọc tiếp »

Thuế và hàng hóa công

Trong đời có hai thứ mà bạn không thể tránh: chết và thuế. Có những người cho rằng thuế còn tệ hơn chết. Tại sao chúng ta phải đóng thuế? Một chánh án của tòa án tối cao Mỹ đã nói: "Thuế là cái giá ta phải trả cho một xã hội văn minh".

Nhà nước cung cấp nhiều hàng hóa và dịch vụ như quốc phòng, cầu đường, công viên. Đây là những hàng hóa "công", nghĩa là nhiều người có thể sử dụng chúng cùng một lúc. Một trái táo là một hàng hóa tư, vì nếu tôi mua và ăn trái táo này thì bạn không thể ăn nó nữa. Nhưng nếu tôi đi dạo trong công viên thì việc đó không hề cản trở bạn "sử dụng" công viên.

Thị trường tư nhân thường không cung cấp những hàng hóa mang bản chất công cộng, vì khó có thể bắt mọi người phải trả tiền khi sử dụng hàng hóa này. Hoặc trong trường hợp một công viên, người ta tin rằng theo lẽ công bằng thì mọi người đều được tự do sử dụng công viên. Tôi sẽ không muốn sản xuất một mặt hàng khi không thể ngăn cản những người sử dụng không trả tiền. Nhưng những hàng hóa công này là quan trọng đối với quốc phòng và chất lượng sống, vì thế nhà nước phải vào cuộc và trả tiền cho việc tạo ra chúng, tài trợ cho những dự án này bằng nguồn thu từ thuế.

Tương tự, loại hàng hóa như giáo dục tiểu học và y tế cơ bản mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, không chỉ riêng những ai "tiêu dùng" chúng. Người được giáo dục và khỏe mạnh có năng suất cao hơn, nên việc cung cấp hàng hóa này có lợi cho tất cả chúng ta. Các nhà kinh tế gọi đây là tác động "lan tỏa" vì việc sử dụng hàng mang lại lợï ích cho mọi người, không chỉ riêng cho người sử dụng trực tiếp. Do đó, tất cả chúng ta phải cùng chia sẻ trách nhiệm tài trợ để sản xuất đầy đủ những hàng hóa này. Nhà nước sử dụng tiền thuế để trả cho những mặt hàng này để tất cả chúng ta đều có lợi.

Trách nhiệm của người đóng thuế

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt.

1. Sửa đổi điểm g khoản 1 Điều 2 như sau:

“g) Xăng các loại;”

2. Khoản 3 Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“3. Tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, khách du lịch và tàu bay sử dụng cho mục đích an ninh, quốc phòng;”

3. Đoạn đầu Điều 6 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán ra, giá cung ứng dịch vụ chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt, chưa có thuế bảo vệ môi trường và chưa có thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:”

4. Điều 7 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 7. Thuế suất

Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá, dịch vụ được quy định theo Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt sau đây:

BIỂU THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT

Đọc tiếp »

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế ngày 20 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân ngày 21 tháng 11 năm 2007; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân ngày 22 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng ngày 03 tháng 6 năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng ngày 19 tháng 6 năm 2013;

Căn cứ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 03 tháng 6 năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 19 tháng 6 năm 2013;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

Đọc tiếp »

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013, Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, Thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013, Thông tư số 85/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011,­­ Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 và Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính để cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế

clip_image003

Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 Luật sửa đi, bổ sung một số điu của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng số 31/2013/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2013;

Căn cứ Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế;

Căn cứ Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng;

Căn cứ Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010;

Căn cứ Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;

Căn cứ Nghị định số 215/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế,

Thực hiện cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế, Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số nội dung như sau:

Đọc tiếp »

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Nghị định số 08/2012/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;

Trên cơ sở Báo cáo của Bộ Tài chính (Tờ trình số 95/TTr-BTC ngày 28 tháng 7 năm 2014), thảo luận của các thành viên Chính phủ và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp thường kỳ, tổ chức ngày 30, 31 tháng 7 năm 2014,

QUYẾT NGHỊ:

I. CÁC GIẢI PHÁP VỀ THUẾ THÁO GỠ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, ĐẨY MẠNH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ:

1. Gia hạn thời hạn nộp thuế không quá 60 ngày đối với số tiền thuế giá trị gia tăng của máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư mà tổng giá trị nhập khẩu từ 100 tỷ đồng trở lên. Bộ Tài chính chỉ đạo cơ quan thuế thực hiện hoàn thuế trước kiểm tra sau chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan thuế nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị hoàn thuế của doanh nghiệp.

2. Gia hạn thời hạn nộp thuế tối đa không quá 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế đối với dự án đầu tư chưa được thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã ghi trong dự toán ngân sách nhà nước, số thuế được gia hạn không vượt quá số tiền ngân sách nhà nước còn nợ và thời gian gia hạn không vượt quá thời gian ngân sách còn nợ.

3. Doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ đối với khoản chi có tính chất phúc lợi chỉ trực tiếp cho người lao động mà doanh nghiệp có hóa đơn, chứng theo quy định; tổng số chi không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện.

Đọc tiếp »

PGS., TS. CHÚC ANH TÚ – Học viện Tài chính

Luattaichinh: bình luận về tác giả hoặc nội dung bài viết là không đúng với tiêu chí của Luattaichinh. Nhưng với bài viết này, cần phải có hai nhận xét: 1) Nội dung bài viết của tác giả chỉ thuần túy cung cấp thông tin, không có vấn đề học thuật; 2) Công thức xác định thu nhập tính thuế được đưa trong bài là không chính xác: thứ nhất, lỗ kết chuyển được trừ đi khỏi thu nhập chịu thuế chứ không phải cộng vào; thứ hai, DN có thể được trừ đi  thêm một khoản, đó là trích lập Quỹ Phát triển Khoa học công nghệ theo Thông tư 15/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Sau đây là toàn văn bài viết:

Trước thực tế phát sinh những khoản chênh lệch (chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn) giữa kế toán và thuế, bài viết này sẽ tập trung phân tích làm rõ hơn các khoản thu nhập theo quy định hiện hành đã làm phát sinh chênh lệch với mục đích giúp những đối tượng quan tâm có được cái nhìn đơn giản hơn về vấn đề này.

Luật số 32/2013/QH 13 ngày 09/06/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN); Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN; Thông tư 78/2014/TT – BTC ngày 18/06/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định 218/2013/NĐ – CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN. Những quy định hiện hành trên, đã làm phát sinh những khoản chênh lệch (chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn) giữa kế toán và thuế:

Công thức xác định thuế TNDN như sau:

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ, bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà DN được hưởng không phân biệt đã thu hay chưa thu được tiền. Một số điều khoản quy định của Luật thuế TNDN và của kế toán có sự khác biệt dẫn đến phát sinh khoản chênh lệch, đó là:

Đọc tiếp »

PHAN HUY CHÚ

Luattaichinh: Lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú được xem là Bách khoa toàn thư thời kỳ trung đại ở Việt Nam. Những thông tin và lời bàn của ông cho thấy, nhà nước phong kiến Việt Nam cũng có những quan niệm khá hiện đại về thuế và quản lý thuế khá chặt chẽ, cùng thời điểm Châu Âu bắt đầu bình minh của khoa học kinh tế. Tuy nhiên, việc kỳ thị đối với hoạt động thương mại là một hạn chế lớn trong quản lý kinh tế thời kỳ này.

Sau đây là phần I của phần Quốc dụng chí (Quyển XXXI).

———————————————————

ĐÁNH THUẾ CHUYÊN LỢI

THUẾ CHUYÊN LỢI VỀ QUẾ

Lê Dụ Tông, năm Vĩnh thịnh thứ 11[1715], thả lệnh cấm về vỏ quế, cho nhân dân được thông hành buôn bán. Cho phép nhân dân được thông hành buôn bán. Cho phép các nơi có thổ sản được bóc nộp, cho người thuê bóc một nửa, nộp vào nhà nước một nửa. Người thuê bóc được 500 cân thì cho 50 quan tiền mà trưng mua số quế.

Năm Bảo – thái thứ 1 [1720], Nhân vương [Trịnh Cương] cùng với tể thần bấy giờ là bọn Nguyễn Công Kháng bàn rằng cây quế là sản vật của nhà nước mà lệ cũ cho nhân dân buôn bán riêng với nhau, mối lợi về bọn lái buôn, việc chi dùng của nhà nước không được lợi gì, bèn định thi hành phép thuế chuyên lợi về quế, sai quan trông nom công việc. Phàm có nhân dân buôn bán tự nguyện đi bóc quế thì phải làm tờ khai xin phép và cung tiến lễ mừng. Quan giám đương hầu chỉ cấp bằng cho làm quế hộ. Các quế hộ vào rừng lấy quế, trước hết phải đến quan trình bằng và nộp lễ mừng 10 quan tiền quý. Quan hỏi người ấy định đi lấy quế ở địa phương nào, rồi làm giấy cho phép điền rõ số đi lấy là bao nhiêu cân, lại sai người đi trước đến báo cho xã dân ấy biết, cho sao bản giấy phép giữ lấy làm bằng để tiện xét nghiệm, rồi quế hộ mới được đi lấy quế. Số quế lấy được bao nhiêu cân, lại báo cho xã dân ấy ghi chép làm bằng, đem đựng vào sọt, mỗi sọt nặng 100 cân, đem đến trình quan bản trấn cân lại đúng số rồi cấp cho bài chỉ rõ ràng. Khi đi đường qua các quan tuần y, cứ chiếu bài chỉ kiểm tra lại thấy đúng số thì cấp giấy cho đi. Khi đến kinh đô, đem bài chỉ của trấn quan và giấy của tuần ty trình quan giám đương chiếu số kiểm lại đúng rồi bổ thuế. Cứ mỗi 100 cân định giá là 100 quan tiền quý thì đánh thuế 5 phần 10, rồi cho quế hộ đem về cất giữ. Khi nào có thuyền buôn đến mua, thì làm tờ khải nộp quan giám đương đệ lên chúa xem và hầu chỉ, cho mua bao nhiêu cần thì tính theo thời giá chuẩn cho nộp thuế, cứ mỗi 100 cân quế định giá 100 quan tiền quý thì đánh 5 phần 10, tức 1 quan tiền quý thì nộp 5 tiền. Quế hộ đem số quế phần của mình cất giữ tính thuế mà bán ra. Khách buôn khi trở về thì trấn quan sai binh lính đưa ra khỏi địa hạt, cứ mỗi lần phải nộp lộ phí 10 quan tiền quý.

Đọc tiếp »

NGUYỄN DUY NHÂN

Chúng ta đang sống trong một đất nước mà bia, rượu, thuốc lá được bán rẻ mạt. Những thứ độc hại này không những giết dần giết mòn tất cả những người sử dụng mà còn gián tiếp gây bao tác hại khôn lường cho hàng chục triệu người xung quanh.

Khi đọc những tin tức đại loại như “giá bia Việt Nam rẻ nhất thế giới”, “Việt Nam thuộc top những nước tiêu thụ bia nhiều nhất thế giới” hoặc “giá nông sản từ Đà Lạt về HCM tăng gấp chục lần”, xăng tăng giá, sữa bột tăng giá, ăn uống tăng giá, người lao động lao đao… các bạn có cảm giác như thế nào?

Tôi là người được may mắn thường xuyên công tác và du lịch bụi nước ngoài. Bất cứ khi nào có dịp, tôi lại quan sát, so sánh giá cả với Việt Nam và cảm nhận.

Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ lấy ví dụ cụ thể về sự khác biệt kỳ dị trong tương quan giữa thu nhập bình quân đầu người với giá bia, giá thuốc lá, giá bữa ăn hàng quán hàng ngày và giá sữa tươi tại Việt Nam và tại Singapore. Tất cả đều có hình minh họa kèm theo.

Tại các quán ăn bình dân, tập trung đa số dân văn phòng ngay các khu trung tâm Singapore, giá một bữa ăn trưa có chất lượng tươm tất, bắt mắt như cơm gà, mì, bún … hiện dao động  từ 4 đến 5 SGD (đôla Singapore , bằng khoảng 17.000 đồng VN) .

Giá một chai bia cùng nhãn hiệu và dung tích tại Việt Nam ngay quán ăn đó hoặc các quán nhậu bình dân tương đương là 7 SGD .

Đọc tiếp »

Tên đề tài: Pháp luật tài chính công Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Cấp đề tài: Đề tài cấp Bộ, do Viện Khoa học Pháp lý chủ trì.

Chủ nhiệm đề tài: PGS,TS.Phạm Thị Giang Thu.

Thư ký đề tài: ThS.Trần Vũ Hải và TS.Nguyễn Minh Hằng.

Tập thể tác giả: Bao gồm các chuyên gia đến từ Quốc hội, Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Bộ Công Thương, Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam và các giảng viên Bộ môn Luật Tài chính Ngân hàng (Đại học Luật Hà Nội).

Đề tài đã bảo vệ thành công vào tháng 12/2013, xếp loại xuất sắc.

Bạn đọc có thể tham khảo tại Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội, Thư viện Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và Thư viện Học viện Tài chính.

Sau đây là tóm tắt nội dung đề tài.

Đọc tiếp »

Tuy mức độ khác nhau song đề nghị tăng tự chủ cho địa phương trong thu chi ngân sách là điểm chung ở tham luận của nhiều thành phố lớn tại hội thảo về phân cấp ngân sách và cơ chế tài chính đặc thù của một số địa phương diễn ra trong hai ngày 18 và 19/2 tại Tp.HCM, do Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội tổ chức.

Được chắp bút bởi TS. Lê Văn Hoạt, Phó chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội, bản tham luận đến từ Thủ đô mang đến khá nhiều thông tin đáng chú ý.
Theo đó, liên tiếp hai năm 2012 – 2013, Hà Nội thu ngân sách nhà nước chỉ đạt bằng dự toán giao (năm 2013 thu 163.000 tỷ đồng, bằng 100,9% dự toán), cân đối ngân sách địa phương gặp nhiều khó khăn, chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư của Thủ đô.
Giống như nhiều địa phương khác, thu ngân sách của Hà Nội còn chưa bền vững, phụ thuộc khá nhiều vào các khoản thu từ đất với bình quân 11.000 tỷ đồng/năm, chiếm khoảng 22%-25% thu ngân sách địa phương.
Việc thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách được ông Hoạt đánh giá là chưa có bước đột phá. Điều này thể hiện rất rõ qua tổng vốn đầu tư xã hội có xu hướng tăng chậm dần khi 2013 chỉ đạt 260,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12%, thấp hơn kế hoạch là 15-16,5% và cùng kỳ năm 2012 là 13,21%.
Không là ngoại lệ, số lượng doanh nghiệp bị phá sản, giải thể hoặc tạm ngừng kinh doanh ở Thủ đô cũng tăng đột biến trong 2 năm gần đây với khoảng 22.600 doanh nghiệp, chiếm 14% doanh nghiệp đăng ký kinh doanh.
Tình hình nợ công diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng, bản tham luận nêu lo lắng của tác giả.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Sáu 2018
H B T N S B C
« Th4    
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,859,419 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Khối ngoại mua ròng trở lại 21/06/2018
    (TBKTSG Online) - Thị trường tiếp tục chứng kiến một phiên giảm điểm khi các mã vốn hóa lớn và nhóm ngân hàng bị bán mạnh.
  • Hồi phục đáng kể 20/06/2018
    (TBKTSG Online) - Phiên sáng chứng kiến nhiều biến động, thị trường hồi phục và tăng điểm vào cuối phiên. Sự hồi phục ở nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn PLX, VRE, VJC, BVH, GAS, HPG… cũng như các cổ phiếu ngân hàng VCB, BID, CTG, VPB, HDB, TPB… là động lực giúp thị trường bứt phá. Ngược lại, VHM, PNJ, HDB, ROS… tiếp tục giảm điểm. […]
  • Chi trả cổ tức: cân đối để hài hòa lợi ích 20/06/2018
    (TBKTSG) - Việc quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức bao nhiêu là bài toán không hề đơn giản cho doanh nghiệp khi phải đảm bảo hài hòa lợi ích của nhiều bên.
  • Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) muốn thay đổi phương án bán vốn nhà nước 19/06/2018
    (TBKTSG Online) - Nhiều kế hoạch trong tiến trình tiếp tục cổ phần hóa (CPH) của Công ty TNHH MTV lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) đang phải thay đổi.
  • Tâm lý bán tháo lan rộng, VN-Index mất hơn 25 điểm 19/06/2018
    (TBKTSG Online) - Nối tiếp đà bán tháo từ phiên trước đó, lực cung dồn dập đổ vào thị trường. Mặc dù lực cầu bắt đáy cũng xuất hiện, song sắc đỏ vẫn phủ kín bảng điện tử, khiến chỉ số mất hơn 25 điểm.
  • Góc nhìn khác trong phân tích nợ xấu và chi phí dự phòng 19/06/2018
    (TBKTSG) - Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh doanh, chất lượng tín dụng là vấn đề được các nhà đầu tư vào cổ phiếu ngân hàng quan tâm nhất vào mỗi mùa báo cáo tài chính (BCTC). Tỷ lệ nợ xấu cao hay thấp, tăng hay giảm, dự phòng rủi ro nhiều hay ít đều có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, tức là ảnh hưởng đến cổ tức và giá cổ phiếu. […]
  • Sẽ không còn quẹt thẻ - phải chuẩn bị từ giờ 19/06/2018
    (TBKTSG) - Tuần trước các báo đưa tin du khách Trung Quốc cà thẻ qua máy POS bất hợp pháp, kết nối trực tiếp với ngân hàng bên Trung Quốc không thông qua hệ thống chi trả của Việt Nam, gây thất thu thuế. Thật ra hiện tượng này có quy mô lớn hơn nhiều, không nhất thiết là thẻ tín dụng, liên quan đến nhiều vấn đề và đã là nỗi lo của các nước láng giềng, các hệ […]
  • Vn-Index mất mốc 1.000 điểm trước áp lực bán mạnh 18/06/2018
    (TBKTSG Online) - Áp lực bán mạnh ở các cổ phiếu vốn hóa lớn, nhóm cổ phiếu ngân hàng, chứng khoán đã khiến chỉ số mất gần 30 điểm trong phiên hôm nay.
  • KIDO Foods dự kiến chuyển sàn HOSE năm nay nhằm cải thiện thanh khoản 18/06/2018
    (TBKTSG Online) - Công ty cổ phần Thực phẩm Đông lạnh KIDO - KIDO Foods (Mã: KDF) dự kiến chuyển sang niêm yết sàn HOSE vào cuối năm nay.
  • Tắc nghẽn vốn? 18/06/2018
    (TBKTSG) - Có lẽ lần đầu tiên trong nhiều năm qua, hiệu ứng chèn lấn vốn từ khu vực công đã phần nào bị hạn chế. Với việc giải ngân vốn đầu tư công không như mong muốn, Chính phủ không có động lực tăng huy động vốn qua thị trường trái phiếu bằng mọi giá, do đó các ngân hàng càng dồi dào thanh khoản, không chỉ nhờ vào lượng tiền gửi của Kho bạc Nhà nước (KBNN […]
Advertisements