You are currently browsing the category archive for the ‘Luật học ứng dụng’ category.

TS. TRẦN THỊ BẢO ÁNH

Trường Đại học Luật Hà Nội

Tóm tắt: Bài viết đánh giá những điểm bất cập cơ bản trong quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014 như: xác định rõ người có liên quan để tránh bỏ sót các giao dịch tư lợi trong công ty; làm rõ quy định về đối tượng có quyền góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; xác định rõ trách nhiệm tài sản của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh; đánh giá một số quy định chưa hợp lý liên quan đến định giá tài sản góp vốn và tổ chức quản lý công ty. Từ đó tác giả bài viết đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp.

Luật doanh nghiệp (Luật DN) năm 2014 được Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 26/11/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015 đã góp phần tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư. Luật DN năm 2014 có được vai trò này vì đã có những quy định quan trọng mang tính đột phá như sau:

Thứ nhất, Luật đã ghi nhận và cụ thể hoá nguyên tắc về quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư tại Điều 7 Luật DN năm 2014. Theo đó, nhà đầu tư được tự do kinh doanh trong ngành nghề mà pháp luật không cấm kinh doanh thay cho quyền chỉ được kinh doanh những ngành nghề được ghi trong giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh như quy định của Luật DN năm 2005.

Thứ hai, so với Luật DN năm 2005, Luật DN năm 2014 đã cải cách thủ tục đăng kí doanh nghiệp, cụ thể như:

Một là rút ngắn thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp từ 10 ngày xuống còn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ (khoản 2 Điều 27); bỏ ghi ngành nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp (Điều 29);

Hai là trong quá trình hoạt động khi thay đổi về ngành nghề kinh doanh thì doanh nghiệp chỉ cần thông báo với cơ quan đăng kí kinh doanh trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thay đổi chứ không cần phải đăng kí kinh doanh bổ sung như quy định của Luật DN năm 2005;

Ba là Luật DN năm 2014 chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang cơ chế hậu kiểm trong việc quản lí nhà nước đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Theo đó, trong hồ sơ đăng kí doanh nghiệp (từ các Điều 20 đến Điều 23) không có các giấy tờ xác nhận về vốn pháp định hay bản sao chứng chỉ hành nghề của một số cá nhân chủ sở hữu doanh nghiệp/người quản lí, điều hành doanh nghiệp… như quy định của Luật DN năm 2005.

Thứ ba, Luật DN năm 2014 hoàn thiện hơn các quy định về quản trị doanh nghiệp theo hướng bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư, đưa doanh nghiệp trở thành một công cụ kinh doanh an toàn hơn, hấp dẫn hơn. Theo tiêu chí đánh giá của Ngân hàng thế giới thì mức độ bảo vệ nhà đầu tư ở nước ta luôn được đánh giá ở mức thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong ba chỉ số đo lường mức độ bảo vệ nhà đầu tư thì Việt Nam đạt mức độ khá tốt về chỉ số công khai hoá giao dịch có liên quan, đạt 7/10 điểm; đạt ở mức độ kém đối với hai chỉ số còn lại: nghĩa vụ người quản lí (đạt 1/10 điểm) và mức độ dễ khởi kiện người quản lí (đạt 2/10 điểm). Khắc phục những hạn chế của Luật DN 2005 và nhằm nâng cao mức độ bảo vệ nhà đầu tư, cổ đông, Luật DN năm 2014 đã có những thay đổi quan trọng bao gồm: ([1])

– Nâng cao yêu cầu công khai hoá thông tin đối với công ti, mở rộng quyền tiếp cận thông tin cho các cổ đông, tăng cường quyền được tiếp cận thông tin, định kì hoặc theo yêu cầu, đối với mọi cổ đông không hạn chế về tỉ lệ sở hữu cổ phần, đặc biệt đối với các thông tin về quản lí và giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi của công ti.

– Xác định rõ hơn, cụ thể hơn nghĩa vụ và trách nhiệm của người quản lí công ti. Người quản lí công ti phải kê khai các lợi ích có liên quan của họ cho công ti.

– Tạo thuận lợi hơn cho cổ đông khởi kiện người quản lí trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ của mình hoặc gây thiệt hại cho công ti, cổ đông.

Thứ tư, hoàn thiện quy chế pháp lí về vốn của doanh nghiệp bao gồm:

Một là Luật DN năm 2014 quy định các nguyên tắc để xác định, đăng kí vốn thực góp của công ti, giải quyết tình trạng vốn không có thực nhưng không thể xử lí được theo quy định của Luật DN năm 2005. Trong đó, điểm mới nhất là cho phép công ti trách nhiệm hữu hạn đặc biệt là công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ti cổ phần được giảm vốn điều lệ (khoản 4 Điều 48; khoản 3 Điều 74; điểm d khoản 3 Điều 112 ; khoản 1 Điều 87 Luật DN năm 2014);

Hai là Luật DN năm 2014 áp dụng thống nhất thời hạn phải thanh toán đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết tại thời điểm đăng kí thành lập đối với chủ sở hữu, thành viên, cổ đông là trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công ti được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp; đối với công ti cổ phần thời hạn cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng kí mua có thể ngắn hơn nếu điều lệ công ti hoặc hợp đồng đăng kí mua cổ phần quy định một thời hạn khác ngắn hơn. Quy định của Luật DN năm 2014 đã rút ngắn thời hạn góp vốn đối với thành viên công ti trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên so với quy định tại khoản 1 Điều 18 Nghị định của Chính phủ số 102/2010/NĐ-CP ngày 1/10/2010 hướng dẫn chi tiết quy định một số điều của Luật DN. Theo đó, thời hạn góp vốn tối đa đối với thành viên công ti trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên không vượt quá 36 tháng kể từ ngày công ti được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp.

Bên cạnh những điểm “đột phá” tạo môi trường pháp lí thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp gia nhập, hoạt động kinh doanh, tổ chức quản lí, tổ chức lại, chấm dứt hoạt động thì Luật DN năm 2014 vẫn tồn tại một số bất cập cần trao đổi để hoàn thiện hơn. Cụ thể là:

Đọc tiếp »

Advertisements

THÔNG CÁO BÁO CHÍ

Toà Trọng tài Biển Đông

(Cộng hoà Philippines và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa)

La Hay, ngày 12 tháng 7 năm 2016

Toà Trọng tài ban hành phán quyết

Phán quyết được Toà Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (sau đây gọi là "Công ước") trong vụ kiện giữa Cộng hoà Philippines và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (sau đây gọi là ‘Philippines’ và ‘Trung Quốc’) hoàn toàn nhất trí thông qua và ban hành.

Vụ kiện trọng tài này liên quan đến vai trò của các quyền lịch sử và nguồn xác định quyền hưởng các vùng biển tại Biển Đông, quy chế của một số cấu trúc cụ thể và các vùng biển của các cấu trúc này và tính hợp pháp của các hành vi của Trung Quốc mà Philippines cho là vi phạm Công ước.

Phù hợp các giới hạn của cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của Công ước, Toà Trọng tài đã nhấn mạnh Toà không phán quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ đất liền và không tiến hành phân định bất kỳ một ranh giới trên biển nào giữa các bên của vụ kiện.

Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố ‘nước này không chấp nhận cũng như không tham gia vào tiến trình trọng tài do Philippines đơn phương khởi xướng’. Tuy nhiên, Phụ lục VII quy định rằng "việc vắng mặt của một bên hoặc việc một bên không thực hiện việc biện hộ không tạo nên bất kỳ rào cản nào cho tiến trình tố tụng".

Phụ lục VII cũng quy định rằng trong trường hợp một bên không tham gia vào tiến trình tố tụng, Toà Trọng tài "phải chắc chắn rằng Toà có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp cũng như nội dung kiện phải được chứng minh đầy đủ cả về mặt pháp lý và thực tế".

Theo đó, trong suốt quá trình tố tụng, Toà Trọng tài đã thực hiện các biện pháp cần thiết để kiểm tra tính xác thực của các đệ trình do Philippines đưa ra, bao gồm cả việc yêu cầu Philippines cung cấp thêm các lập luận, đặt ra các câu hỏi cho Philippines trước và trong hai phiên tranh tụng, chỉ định các chuyên gia độc lập có nhiệm vụ báo cáo Toà về các vấn đề kỹ thuật và thu thập các bằng chứng về mặt lịch sử liên quan đến các cấu trúc tại Biển Đông và chuyển các bằng chứng này để các bên bình luận.

Trung Quốc, thông qua Bản Tuyên bố lập trường ban hành tháng 12/2014 cũng như các các tuyên bố chính thức khác, cũng tuyên bố rõ ràng rằng theo quan điểm của nước này, Toà Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ kiện. Điều 288 của Công ước quy định "Trong trường hợp xảy ra tranh chấp về việc liệu một toà hay một cơ quan trọng tài có hay không có thẩm quyền, vấn đề này sẽ do chính toà hay cơ quan trọng tài đó quyết định".

Theo đó, Toà Trọng tài đã tổ chức một phiên tranh tụng về thẩm quyền và khả năng thụ lý vụ việc vào tháng 7/2015 và ban hành một Phán quyết về thẩm quyền và khả năng thụ lý vụ việc vào ngày 29/10/2015, quyết định về một số vấn đề liên quan đến thẩm quyền và sẽ để lại một số vấn đề để tiếp tục xem xét. Toà Trọng tài sau đó tiếp tục triệu tập và tổ chức một phiên tranh tụng về các vấn đề nội dung của vụ kiện từ ngày 24 đến 30/11/2015.

Phán quyết được ban hành hôm nay giải quyết các vấn đề về thẩm quyền mà Toà chưa quyết định trong Phán quyết về thẩm quyền và khả năng thụ lý vụ việc cũng như giải quyết các vấn đề về nội dung thực chất đối với các yêu cầu của Philippines nằm trong thẩm quyền của Toà. Theo quy định tại Điều 296 của Công ước và Điều 11 của Phụ lục VII Phán quyết này có tính ràng buộc pháp lý và có tính chung thẩm.

Quyền lịch sử và "đường 9 đoạn"

Đọc tiếp »

PHẠM THỊ LY

Vấn đề cổ phần hóa các trường đại học (ĐH) công đã được chính thức đưa ra xem xét lần đầu năm 2007, với dự định chọn 15-20 trường để làm thí điểm, như là một biện pháp nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục. Lúc đó, do bị nhiều tầng lớp xã hội phản ứng nên vấn đề này đã bị tạm gác lại.

Nay, nó lại được đưa ra, dựa trên một thực tế là ngân sách nhà nước không đủ sức bao cấp cho các trường công hiện nay. Đồng thời, hệ thống này cần được tái cấu trúc theo hướng tăng cường sự đa dạng, trong đó chỉ còn một số ít trường công được duy trì với mức kinh phí thỏa đáng hơn, số còn lại sẽ chuyển sang cổ phần hóa, mà thực chất là tư nhân hóa.

Khác với năm 2007, vấn đề cổ phần hóa trường công lần này, không được đặt ra riêng biệt mà nằm trong bộ khung pháp lý chung của việc cổ phần hóa các đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm bệnh viện, cơ sở giáo dục đào tạo, các viện và trung tâm nghiên cứu (Quyết định 22/2015/QĐ-TTg ngày 22-6-2015 của Thủ tướng Chính phủ).

Thực ra Quyết định 22 khá dè dặt khi đề cập đến trường đại học: khoản 2, điều 1 nói về đối tượng áp dụng chỉ cho phép thí điểm cổ phần hóa một số trường và vẫn khích lệ hình thức trường công lập tự chủ tài chính.

Trước đó, dự thảo Tờ trình Thủ tướng Chính phủ về việc này, do Bộ Tài chính soạn vào tháng 12-2014 cho biết, sẽ tiến hành cổ phần hóa 30 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc các tập đoàn, tổng công ty của các bộ, trong đó có hai bệnh viện và 28 trường ĐH- cao đẳng/viện nghiên cứu. Giá trị thương hiệu và tiềm năng phát triển không tính vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa. Sau cổ phần hóa, các trường ĐH-cao đẳng sẽ hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và Luật Giáo dục đại học (GDĐH)

Lợi thì có lợi…

Đọc tiếp »

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Năm 2014, Kiểm toán Nhà nước đã tiến hành kiểm toán tại 190 đầu mối[1] và kiểm toán Báo cáo quyết toán NSNN năm 2013 tại Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Căn cứ Điều 58 Luật Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán Nhà nước trân trọng công bố một số nội dung chủ yếu từ kết quả kiểm toán năm 2014 như sau:

A. KẾT QUẢ KIỂM TOÁN QUYẾT TOÁN NSNN NĂM 2013

Năm 2013, kinh tế trong nước tiếp tục gặp nhiều khó khăn, song với sự chỉ đạo quyết liệt của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương và sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân nên những khó khăn đang từng bước được khắc phục, nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực; thu ngân sách vượt 1,5% dự toán, trong đó một số khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN như thu từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu từ khu vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngoài quốc doanh có xu hướng tăng; các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã triển khai phân bổ và giao kế hoạch vốn đầu tư năm 2013 cho các đơn vị cơ bản theo đúng Nghị quyết của Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; việc sử dụng nguồn tăng bội chi, giảm chi NSTW và dự phòng ngân sách cơ bản phù hợp quy định; tổng chi chuyển nguồn và chuyển nguồn của những nhiệm vụ chậm triển khai đều giảm cả về số tuyệt đối và tương đối so với năm 2012, tình trạng sử dụng kinh phí NSNN chưa phù hợp với tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước tại các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã dần được khắc phục[2], các đơn vị đã triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, tuân thủ Luật NSNN, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Phòng, Chống tham nhũng…, song qua kết quả kiểm toán, bên cạnh những mặt chuyển biến tích cực vẫn còn nổi lên một số vấn đề:

Đọc tiếp »

NGUYỄN QUANG HIỀN

Ngân hàng là công cụ quan trọng giúp Chính phủ điều hành nền kinh tế, huy động vốn cho các dự án, là trung tâm thanh toán và thực thi chính sách tiền tệ, nơi tập trung khối lượng tiền, ngoại tệ, các giấy tờ có giá và các tài sản quý. Do đó, tội phạm luôn xác định ngân hàng là mục tiêu, điểm đến để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Hiện nay, chưa có một khái niệm chính thống và cũng chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng. Do đó, việc nhận diện đúng tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng cũng như các tình tiết liên quan có ý nghĩa rất quan trọng về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

1. Thực trạng tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng

Tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam đang diễn ra rất phức tạp, với tính chất, quy mô, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt và có chiều hướng ngày càng gia tăng. Đối tượng phạm tội ngày càng đa dạng, bao gồm người Việt Nam và cả người nước ngoài, hoạt động trong quốc gia hoặc xuyên quốc gia với công nghệ cao. Người phạm tội thường che giấu hành vi phạm tội, tiêu huỷ chứng cứ, dùng nhiều thủ đoạn để đối phó với các cơ quan quản lý, cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời lợi dụng các mối quan hệ “phức tạp” để tác động, chạy tội, gây khó khăn cho hoạt động tiến hành tố tụng.

1.1. Phương thức, thủ đoạn phạm tội

Đọc tiếp »

HOÀNG KHANG

(TBKTSG Online) – Nhà đấy nghèo, có lẽ là nhất xóm, vì có tên trong danh sách cứu đói của chính quyền địa phương, và vì láng giềng vẫn cứ phải thường xuyên giúp đỡ lúc thì lon gạo, lúc lại rổ khoai, do thu nhập của gia đình này hàng tháng chỉ đủ ăn trong một tuần.

Chương trình xóa đói giảm nghèo nào nhà đấy cũng được tham gia, được cấp vốn hay mượn vốn, nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo vì những đồng vốn ít ỏi ấy chẳng phải được dùng để làm ăn, mà chỉ tiêu tán hết.

Nhưng, ở nhà thì thôi, chứ mỗi lần ra phố, con cái nhà đấy lại “vận hàng hiệu” đúng kiểu, từ quần áo, giày dép đến giỏ xách. Họ chỉ tự biết với nhau rằng hàng hiệu này được mua từ những đồng tiền cứu đói.

Chuyện đó khó lòng xảy ra trong thực tế nhưng nhìn một cách nào đó, cách Sơn La đòi chi 1.400 tỉ đồng gây xôn xao dư luận mấy ngày qua cũng không khác bao nhiêu.

Con số 1.400 tỉ đồng mà chính quyền tỉnh Sơn La dự định dùng để xây cụm tượng đài Bác Hồ và những công trình liên quan thật sự gây “choáng” cho cộng đồng cả nước suốt ba ngày qua. Với nhiều thành phố lớn trên cả nước,con số 1.400 tỉ đồng này đã là vấn đề phải “nâng lên đặt xuống” nhiều lần, cân nhắc giữa đồng vốn và hiệu quả, thế mà một địa phương chạy ăn từng bữa như Sơn La lại có thể dễ dàng thông qua.

Như đã đăng tải trên báo chí, Hội đồng Nhân dân tỉnh Sơn La đã ra nghị quyết 127/NQ-HĐND ngày 8-7-2015, thông qua chủ trương đầu tư cho cụm tượng đài này với tổng vốn đầu tư lên đến 1.400 tỉ đồng. Dự án này bao gồm nhóm tượng đài Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc, quảng trường có sức chứa 20.000 người, đền thờ Bác Hồ, đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ, bảo tàng tổng hợp, khu nhà điều hành, đón tiếp…, tất cả đều là các công trình phi kinh tế.

Đọc tiếp »

MINH ĐỨC

Một tuần sau sự kiện Ngân hàng Nhà nước tuyên bố mua lại bắt buộc toàn bộ vốn cổ phần của Ngân hàng Xây dựng (VNCB) với giá 0 đồng/cổ phần, thị trường vẫn chưa thể định hình một hướng nhìn thống nhất.
Lần đầu tiên Việt Nam mới có trường hợp xử lý như vậy. Một tiền lệ đặc biệt! Cũng vì là lần đầu tiên, nên càng cần có nhiều phân tích, soi chiếu để đúc kết về một bài học kinh nghiệm, một luật chơi trong kinh doanh, cũng như một ứng xử của nhà quản lý.
Nói không quá, có thể xem đây là một “bước tiến hóa đặc biệt” trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.
Một tiền lệ chưa rõ ràng
Thế nhưng, cho đến nay, ngoài thông cáo vẻn vẹn trong một trang giấy của Ngân hàng Nhà nước, không có thêm những thông tin công bố chính thống cần thiết để nhìn nhận một cách đầy đủ về tiền lệ này.
Diễn biến phiên họp đại hội đồng cổ đông bất thường của VNCB cũng không được thông tin trên báo chí, dù đây là một ngân hàng đại chúng, có trên 500 cổ đông.
Nhưng những điều đó không giới hạn các góc nhìn. Với các cổ đông của VNCB, đây là tiền lệ khắc nghiệt. Với người ngoài cuộc, một số quan điểm xem là một tiền lệ chưa rõ ràng.
VnEconomy đã tham vấn quan điểm 6 lãnh đạo cao cấp ở các ngân hàng thương mại. Đó là 6 góc nhìn bước đầu khác nhau. Nói là bước đầu, bởi lần đầu tiên có tình huống xử lý như vậy, mà lại thiếu các thông tin nội tại cần thiết để định hình.
3/6 lãnh đạo nói trên đều có ý rằng, họ chưa kịp định hình và chưa nghiên cứu sự kiện này. Nhưng có một số điểm còn băn khoăn.

Đọc tiếp »

BÙI TRINH – PHẠM LÊ HOA

Nhiều chuyên gia kinh tế và cả những quan chức cao cấp đều cho rằng phải tăng cường sức mạnh của doanh nghiệp nội, chú trọng khu vực nông nghiệp và đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ, nhưng đáng tiếc là cho đến nay điều này vẫn chỉ trong lời nói hoặc trên giấy mà chưa thực sự đi vào nền kinh tế. Ví dụ như nhìn từ chính sách thuế.

Theo Luật Thuế giá trị gia tăng hiện hành, cần phân biệt hai loại hình: loại phải chịu thuế giá trị gia tăng nhưng có thuế suất là 0% và loại không phải chịu thuế giá trị gia tăng.

Hai loại này tuy có chung đặc điểm là doanh nghiệp không phải nộp thuế; nhưng loại hình thứ hai (áp dụng với một số ngành làm đầu vào của nông nghiệp) sẽ không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, trong khi sản phẩm của các ngành này bao gồm rất nhiều các loại thuế nằm lẫn trong chi phí đầu vào. Vì vậy, doanh nghiệp các ngành trong danh sách này thậm chí còn thiệt thòi hơn cả khi phải chịu một mức thuế suất nào đó. Đây cũng là nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp ấy không thể giảm giá bán và những ngành sử dụng sản phẩm của những ngành này làm chi phí đầu vào cũng không được hưởng lợi gì từ chính sách hỗ trợ nửa vời như vậy. Phía thiệt thòi vẫn là người nông dân và các doanh nghiệp nội.

Đọc tiếp »

PHÙNG ĐẮC LỘC

Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

Trục lợi bảo hiểm bao gồm các hành vi mang tính cố ý của các tổ chức, cá nhân nhằm thu lợi bất chính từ Quỹ bảo hiểm đóng góp của người tham gia bảo hiểm thông qua việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm.

I. Sự cần thiết phải phòng chống và xử lý trục lợi bảo hiểm

Trục lợi bảo hiểm bao gồm các hành vi mang tính cố ý của các tổ chức, cá nhân nhằm thu lợi bất chính từ Quỹ bảo hiểm đóng góp của người tham gia bảo hiểm thông qua việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm.

            1. Trục lợi bảo hiểm diễn ra trong tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm (được quy định tại Luật KDBH) bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển, bảo hiểm cháy nổ và mọi rủi ro đặc biệt, bảo hiểm tài sản kỹ thuật, bảo hiểm tàu và TNDS chủ tàu, bảo hiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểm nông nghiệp.

            2. Trục lợi bảo hiểm diễn ra tại tất cả các doanh nghiệp bảo hiểm đang được phép hoạt động tại Việt Nam kể cả doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần của Việt Nam trong đó có doanh nghiệp bảo hiểm vốn nhà nước chiếm chi phối.

            3. Trục lợi bảo hiểm ngày càng phổ biến, lây lan nhanh, tuyên truyền học tập lẫn nhau để trục lợi bảo hiểm. Một tai nạn xảy ra hoặc một người đau ốm thương tật nằm viện chưa mua bảo hiểm có thể được những người khác (gara sửa chữa ô tô, bác sĩ điều trị…) hướng dẫn cho cách hợp thức hóa để được bảo hiểm hoặc đã mua bảo hiểm thì hướng dẫn cho cách được bồi thường nhiều tiền hơn trên cơ sở hai bên cùng có lợi. Có những cơ quan hoặc thôn xóm có đến gần một nửa số người được điều trị cùng một thời gian, cùng một bệnh lý, tại cùng một cơ sở điều trị (do thân quen) để nhận tiền bảo hiểm thậm chí vẫn chấm công đi làm để hưởng lương.

            4. Trục lợi bảo hiểm ngày càng phức tạp từ việc lấy tiền thanh toán điều trị (thuốc chữa bệnh và viện phí) đến việc khai tăng khai khống thiệt hại (gara sửa chữa ô tô, hóa đơn mua và sửa chữa tài sản bị thiệt hại, tiếp theo là dựng hiện trường giả, tai nạn giả hoặc mua bảo hiểm sau khi tai nạn xảy ra khai báo lâu ngày xảy ra tai nạn để hợp thức hóa hồ sơ yêu cầu bồi thường. Thậm chí còn tự hủy hoại tài sản để đòi bồi thường (phá hủy thêm tài sản sau tai nạn, đốt cháy ô tô ra cho lao xuỗng sông xuống vực, gây chập điện làm cháy nổ kho tàng tài sản).

            5. Trục lợi bảo hiểm ngày càng tinh vi khiến cho bộ phận giải quyết bồi thường khó có thể phát hiện ra được. Bộ hồ sơ yêu cầu bồi thường với các hóa đơn chứng từ thể hiện rất hoàn hảo: Mua bảo hiểm lắp biển số của xe bị tai nạn vào xe cùng chủng loại không bị tai nạn chụp ảnh lưu giữ sau đó đòi bồi thường, gây tai nạn đâm va giữa ô tô và con bò (ô tô hư hỏng nặng nhưng con bò không bị sao), gây cháy tại các kho độc lập xa nhà xưởng chữa hàng tồn kho ế đọng không bán được vào ban đêm ông chủ không có mặt tại hiện trường cháy….

            6. Trục lợi bảo hiểm ngày càng có đông đảo lực lượng tham gia. Từ người mua bảo hiểm đến các đại lý nhân viên bảo hiểm, các cơ quan tổ chức cá nhân có thẩm quyền (như chính quyền địa phương nơi xảy ra tai nạn, cơ quan công an, cơ quan giám định, trường học, bệnh viện, gara sửa chữa, hiệu thuốc) xác nhận thời gian, địa điểm, nguyên nhân, mức độ thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm hoặc cung cấp các hồ sơ, chứng từ, tài liệu “ hợp lý hợp lệ” để đòi tiền bảo hiểm thậm chí có sự câu kết ăn chia trong số tiền trục lợi.

            7. Hậu quả của trục lợi bảo hiểm là kẻ trục lợi đã ăn cắp một cách công khai số tiền bồi thường (bảo hiểm tài sản), trả tiền bảo hiểm (bảo hiểm nhân thọ, sức khỏe và tai nạn con người) lấy từ Quỹ bảo hiểm đóng góp từ phí bảo hiểm của các tổ chức cá nhân tham gia bảo hiểm (không phải là tiền của DNBH người có vài trò trung gian trong huy động quỹ và phân phối quỹ bảo hiểm). Hậu quả trực tiếp sẽ làm cho doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh thua lỗ phải ngừng triển khai sản phẩm bảo hiểm (điều 40 Thông tư 124/2012/BTC).

Đọc tiếp »

Thuế và hàng hóa công

Trong đời có hai thứ mà bạn không thể tránh: chết và thuế. Có những người cho rằng thuế còn tệ hơn chết. Tại sao chúng ta phải đóng thuế? Một chánh án của tòa án tối cao Mỹ đã nói: "Thuế là cái giá ta phải trả cho một xã hội văn minh".

Nhà nước cung cấp nhiều hàng hóa và dịch vụ như quốc phòng, cầu đường, công viên. Đây là những hàng hóa "công", nghĩa là nhiều người có thể sử dụng chúng cùng một lúc. Một trái táo là một hàng hóa tư, vì nếu tôi mua và ăn trái táo này thì bạn không thể ăn nó nữa. Nhưng nếu tôi đi dạo trong công viên thì việc đó không hề cản trở bạn "sử dụng" công viên.

Thị trường tư nhân thường không cung cấp những hàng hóa mang bản chất công cộng, vì khó có thể bắt mọi người phải trả tiền khi sử dụng hàng hóa này. Hoặc trong trường hợp một công viên, người ta tin rằng theo lẽ công bằng thì mọi người đều được tự do sử dụng công viên. Tôi sẽ không muốn sản xuất một mặt hàng khi không thể ngăn cản những người sử dụng không trả tiền. Nhưng những hàng hóa công này là quan trọng đối với quốc phòng và chất lượng sống, vì thế nhà nước phải vào cuộc và trả tiền cho việc tạo ra chúng, tài trợ cho những dự án này bằng nguồn thu từ thuế.

Tương tự, loại hàng hóa như giáo dục tiểu học và y tế cơ bản mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, không chỉ riêng những ai "tiêu dùng" chúng. Người được giáo dục và khỏe mạnh có năng suất cao hơn, nên việc cung cấp hàng hóa này có lợi cho tất cả chúng ta. Các nhà kinh tế gọi đây là tác động "lan tỏa" vì việc sử dụng hàng mang lại lợï ích cho mọi người, không chỉ riêng cho người sử dụng trực tiếp. Do đó, tất cả chúng ta phải cùng chia sẻ trách nhiệm tài trợ để sản xuất đầy đủ những hàng hóa này. Nhà nước sử dụng tiền thuế để trả cho những mặt hàng này để tất cả chúng ta đều có lợi.

Trách nhiệm của người đóng thuế

HUỲNH HOA

Nick Leeson, thủ phạm làm sụp đổ Ngân hàng Barings, giờ đây là một diễn giả được mời mọc ở Anh; anh ta thường đến nói chuyện với các nhà doanh nghiệp về quản trị rủi ro trong ngành tài chính-ngân hàng. Ảnh: Nottingham Post

Nick Leeson và sự phá sản của Ngân hàng Barings

Nicholas “Nick” William Leeson sinh năm 1967, là nhân viên môi giới chứng khoán phái sinh của Ngân hàng Đầu tư Barings tại Singapore. Những hoạt động đầu cơ chứng khoán của Nick đã dẫn tới khoản thua lỗ hơn 1,4 tỉ đô la Mỹ và “xóa sổ” luôn ngân hàng này năm 1995.
Nick Leeson tham gia Ngân hàng Barings năm 1989 và ba năm sau anh ta được bổ nhiệm làm giám đốc bộ phận kinh doanh chứng khoán phái sinh tại Sàn Giao dịch tiền tệ quốc tế Singapore (SIMEX). Trước khi sang Singapore, Nick đã bị Ủy ban Chứng khoán Anh Quốc từ chối cấp giấy phép hành nghề môi giới vì phát hiện gian lận trong hồ sơ xin hành nghề của anh ta.

Đọc tiếp »

GS.TS. LÊ HỒNG HẠNH

NGUYÊN VIỆN TRƯỞNG VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ

Ai cũng biết rằng, dân chủ là động lực phát triển của xã hội. Một đất nước dù nghèo tài nguyên đến đâu nhưng nếu dựa vào nền dân chủ để phát triển thì vẫn trở thành cường quốc.

Đất nước qua nhiều thập kỷ đổi mới đang dần sử dụng những luật chơi của nền dân chủ để phát triển kinh tế xã hội. Một trong những luật chơi của nền dân chủ mà chúng ta đã khởi động từ hơn 20 năm nay chính là phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng trọng tài.

Sở dĩ gọi nó là luật chơi của nền dân chủ là vì Nhà nước thừa nhận và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, thương nhân tự lựa chọn cho mình cách thức xử lý các tranh chấp: hoặc là ra tòa hoặc sử dụng trọng tài thương mại hay các thiết chế lựa chọn khác như hòa giải, thương lượng.

Đặc biệt, khi chọn phương thức trọng tài, các doanh nghiệp, thương nhân được quyền lựa chọn cho mình những chuyên gia giỏi, trung thực, vô tư và khách quan để giải quyết tranh chấp. Các bên được tự lựa chọn địa điểm, thủ tục tố tụng, được quyền thay đổi trọng tài viên nếu có bằng chứng cho thấy họ không vô tư, không khách quan. Các bên được lựa chọn cả ngôn ngữ tố tụng và luật áp dụng trong trường hợp một bên tranh chấp là doanh nghiệp, thương nhân nước ngoài.

Gọi đó là luật chơi dân chủ vì trong quá trình tố tụng, các bên có đầy đủ quyền lực để thay đổi thành phần hội đồng trọng tài, có đầy đủ cơ hội để chứng minh cho yêu cầu của mình. Luật chơi dân chủ này đã được các doanh nghiệp, thương nhân trên thế giới sử dụng phổ biến và được coi là thiết chế hữu hiệu trong giải quyết tranh chấp.

Đọc tiếp »

Luật gia TRẦN VŨ HẢI

Vụ đại án Nguyễn Đức Kiên rất đáng quan tâm nhưng có lẽ cần thêm thời gian để có được thông tin mới có thể bình luận sâu hơn. Cảm nhận ban đầu là: Sự rắc rối của những giao dịch vốn đã được minh chứng trên mái tóc bạc của bầu Kiên chăng?
Ở đây, người viết chỉ bàn đến một điểm: đó là liệu việc mua bán cổ phiếu của một doanh nghiệp có phải là hành vi kinh doanh hay không? Nếu được xem là hành vi kinh doanh, thì việc không đăng ký kinh doanh có bị coi là kinh doanh trái phép?
Hãy bắt đầu bằng một câu hỏi: tại sao Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán không có định nghĩa rõ ràng về nhà đầu tư trong hoạt động mua, bán cổ phần, cổ phiếu (thật ra trong Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán có định nghĩa, nhưng có cũng như không vì không chỉ ra được những đặc trưng bản chất nào.). Có lẽ vì lý do đơn giản: bất cứ ai cũng có quyền đầu tư nên việc đưa ra một định nghĩa chỉ làm cho hạn hẹp quyền đầu tư của các chủ thể này mà thôi.

Đọc tiếp »

Luật gia TRẦN VŨ HẢI

Hôm nay, bên cạnh những diễn biến Biển Đông, chương trình thời sự VTV1 có nói đến ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch nước trong việc giải quyết vụ đại án Huỳnh Thị Huyền Như ở giai đoạn phúc thẩm.
Về vụ án này, mình đã từng có ý kiến ở nhiều buổi giảng cho các học viên.
Với những bằng chứng có được đến thời điểm này, theo mình thì việc xử Huỳnh Thị Huyền Như là đúng người, đúng tội. Nhưng hậu quả dân sự thì không đúng.
Đối với những hợp đồng tiền gửi của khách hàng đã được Vietinbank xác nhận, thì khoản tiền đó là thuộc sở hữu của Vietinbank. Về bản chất quan hệ pháp luật dân sự, khách hàng cho ngân hàng vay tiền thông qua hợp đồng tiền gửi, và theo quy định của Bộ luật Dân sự thì người vay là chủ sở hữu của tài sản vay. Do đó, Huỳnh Thị Huyền Như đã lừa đảo Viettinbank khi chiếm đoạt những khoản tiền đó chứ không phải là lừa đảo khách hàng của Vietinbank. "Tài khoản" chỉ là khái niệm về công cụ ghi chép nhằm xác nhận trách nhiệm của Vietinbank đối với người gửi tiền, chứ nó không phải là tài sản.

Đọc tiếp »

Luật gia TRẦN VŨ HẢI

Tổng Cục Thuế có công văn số 1133/TCT-TNCN trả lời vướng mắc về thuế TNCN đối với chuyển nhượng BĐS trong đó giải thích về việc một bên ủy quyền cho người khác toàn quyền quản lý, chuyển nhượng đối với bất động sản thì phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Mục đích của công văn này là hướng dẫn các cơ quan thuế phòng tránh việc trốn thuế chuyển nhượng bất động sản bằng cách không lập hợp đồng mua, bán mà là hợp đồng ủy quyền.

Tuy nhiên, người viết cho rằng công văn này là trái những nguyên tắc chung của pháp luật vì những lý do chính sau đây:

1. Tổng Cục thuế cho rằng, những người đủ năng lực dân sự để thực hiện giao dịch thì không thể được ủy quyền, mà luôn coi ủy quyền này là mua, bán là một suy diễn vô lý. Một là, nếu không đủ năng lực dân sự thì không thể ủy quyền được. Hai là, ủy quyền là quyền năng dân sự được Bộ luật Dân sự cho phép, không thể bị hạn chế trong những trường hợp thông thường.

2. Pháp luật thuế không giải thích việc ủy quyền dân sự theo hướng này, việc Tổng Cục thuế giải thích một cách áp đặt, không có trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng đồng nghĩa với việc cơ quan này lạm quyền ban hành quy định, trong khi đó, trách nhiệm hướng dẫn thi hành Luật phải thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính.

3. Mặc dù trên thực tế, việc lợi dụng hợp đồng ủy quyền để trốn thuế Thu nhập cá nhân đáng bị xử lý, nhưng Tổng Cục thuế không được quyền đánh đồng mọi hợp đồng ủy quyền đều là giao dịch giả tạo. Việc trốn thuế cần phải được cơ quan quản lý thuế chứng minh bằng những bằng chứng đáng tin cậy, việc võ đoán theo kiểu "nhìn mặt, bắt hình dong" là xâm phạm đến nguyên tắc tự do của công dân.

4. Và ngay cả đối với giao dịch giả tạo, thì chức năng tuyên một hợp đồng vô hiệu do giả tạo cũng thuộc về cơ quan Tòa án, chứ không phải là cơ quan thuế.

———————————–

Sau đây là toàn văn công văn 1133/TCT-TNCN

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Một 2018
H B T N S B C
« Th12    
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,810,493 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • VPBank 2017: Lợi nhuận cao nhờ chiến lược linh hoạt và quản trị rủi ro tốt 23/01/2018
    Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) vừa công bố báo cáo tài chính năm 2017 với kết quả nổi bật ở tất cả các chỉ số quan trọng, đây là kết quả của chiến lược tập trung vào phân khúc bán lẻ của Ngân hàng.
  • HOSE tạm ngưng giao dịch chứng khoán vì sự cố kỹ thuật 23/01/2018
    (TBKTSG Online) - Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE) đã có thông cáo báo chí việc tạm ngừng giao dịch chứng khoán trong ngày hôm nay, 23-1-2018.
  • Chứng khoán đầu tuần bùng nổ 22/01/2018
    (TBKTSG Online) - Phiên giao dịch đầu tuần dù có một sự cố trên sàn HOSE nhưng không ảnh hưởng nhiếu đến hệ thống. Kết thúc ngày giao dịch, hai sàn đều tăng điểm nhờ các cổ phiếu vốn hóa lớn.
  • Chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục được nới lỏng 22/01/2018
    (TBKTSG) - Nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới định hướng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn là lạm phát. Lạm phát cơ bản của Việt Nam hiện ở mức khá thấp nhưng việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN những năm gần đây lại căn cứ chủ yếu vào diễn biến của lạm phát toàn phần. […]
  • Hạ lãi suất không đơn giản 21/01/2018
    (TBKTSG) - Bước sang năm mới, Thủ tướng đã đặt nhiệm vụ cho ngành ngân hàng phấn đấu giảm tiếp lãi suất cho vay để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Bối cảnh của yêu cầu này có lẽ là tăng trưởng tín dụng hợp lý, lạm phát được kiểm soát khá tốt, tỷ giá ổn định, nợ xấu được tăng cường xử lý nhờ Nghị quyết tái cơ cấu các tổ chức tín dụng (TCTD) và xử lý nợ xấu của Qu […]
  • Bộ Tài chính muốn đánh thuế chuyển nhượng vốn 2% 20/01/2018
    (TBKTSG) - Theo dự thảo luật sửa đổi, bổ sung sáu luật thuế vừa được Bộ Tài chính đưa ra lấy ý kiến, thuế nhà thầu đối với hoạt động chuyển nhượng vốn được đề xuất là 2% trên giá trị thương vụ, thay vì 1% như đề xuất đã từng bị phản ứng trước đó cũng như thay cho quy định 20% trên chênh lệch giá như hiện hành. Theo những người trong ngành, quy định như vậy d […]
  • Dòng tiền sẽ chảy vào nhóm chứng khoán, ngân hàng 20/01/2018
    (TBKTSG Online) - Dòng tiền trong tuần sau dự kiến sẽ "linh hoạt" tham gia vào các công ty có kết quả kinh doanh vượt kỳ vọng của thị trường, trong đó nhóm chứng khoán, ngân hàng được chờ đợi nhiều nhất.
  • Sắc xanh cuối tuần 19/01/2018
    (TBKTSG Online) - Phiên giao dịch cuối tuần nhiều loại cổ phiếu tăng giá khép lại một ngày giao dịch với sắc xanh chủ đạo. Đây là phiên thứ 2 liên tiếp hai sàn đều tăng điểm.
  • Chuyển động thoái vốn ngân hàng 19/01/2018
    (TBKTSG) - Thông tin mới nhất từ một thành viên HĐQT Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương (SaigonBank): sau một thời gian dài cân nhắc, cuối cùng cổ đông lớn của SaigonBank là Thành ủy TPHCM đã quyết định chính thức sẽ thoái toàn bộ vốn góp tại đây.
  • Đô la chảy vào chứng khoán 19/01/2018
    (TBKTSG) - Dự trữ ngoại hối của Việt Nam lần đầu tiên đạt con số 54,5 tỉ đô la Mỹ vào tuần trước theo công bố của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Đáng nói hơn là tốc độ gia tăng của quỹ dự trữ ngoại hối khi chỉ trong hai tuần cơ quan quản lý mua vào 2,5 tỉ đô la Mỹ. Các ngân hàng cho biết cung ngoại tệ đang dồi dào, không chỉ từ nguồn đầu tư trực tiếp nước ngo […]