You are currently browsing the category archive for the ‘Kinh te – Tai chinh’ category.

TS. ĐỖ HOÀI LINH VÀ ThS. KHÚC THẾ ANH

TRƯỜNG ĐH KINH TẾ QUỐC DÂN

Với sự phát triển của khoa học công nghệ, thương mại điện tử là một xu hướng tất yếu với các doanh nghiệp, trong đó có ngành Ngân hàng. Để tiếp cận và cung cấp dịch vụ theo yêu cầu ngày càng cao của khách hàng, các công cụ marketing cần phải thay đổi để tạo được tương tác tốt nhất. Digtital marketing – một xu hướng phát triển mới trong ngành Ngân hàng thế giới, những kinh nghiệm và bài học cho các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ được nghiên cứu trong bài viết.

1. Giới thiệu

Sự phát triển công nghệ thông tin với xu hướng bùng nổ của mạng xã hội trong đời sống dẫn đến các hoạt động marketing phải thay đổi theo hướng thích nghi với cuộc sống của một bộ phận dân cư, nhất là thế hệ đang trong giai đoạn trưởng thành thế hệ Y (Young generation – được sinh trong giai đoạn 1977 – 1994) và thế hệ trẻ (Z generation được sinh ra từ những năm 1995 trở đi); Phạm Hồng Hoa (2013) cho rằng, tiếp cận khách hàng qua các kênh trực tuyến như điện thoại di động, email, mạng xã hội… đang dần trở thành xu hướng phổ biến. Từ gần 10 năm trở lại đây, các giao dịch thông qua hệ thống máy tính điện tử trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng được đẩy mạnh, giúp ngân hàng và khách hàng tiết kiệm thời gian cũng như chi phí giao dịch kết hợp với lộ trình mở cửa nền kinh tế, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đang trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Những áp lực mà các ngân hàng trong nước phải đối mặt là việc quảng bá hình ảnh đến khách hàng cũng như lựa chọn thị trường mục tiêu đang dần bị lép vế trước những ngân hàng quốc tế như HSBC, CitiBank, ANZ… Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là các ngân hàng trong nước chưa chú trọng phát triển digital marketing – một trong những phương pháp tiếp thị trực tiếp đến người tiêu dùng thông qua những tiến bộ của công nghệ thông tin.

Khái niệm digital marketing và digital marketing trong lĩnh vực ngân hàng, xu hướng phát triển chung của tiếp thị số, từ đó bài viết đưa ra một số hàm ý đối với các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

2. Tổng quan nghiên cứu về digital marketing trong ngân hàng

2.1. Khái quát về digital marketing

Đọc tiếp »

Advertisements

ThS. NGUYỄN VĂN THỌ – ThS. NGUYỄN NGỌC LINH

I- Tổng quan về Basel II và thực trạng triển khai tại Việt Nam

1. Tổng quan về Basel II

Năm 1988, BCBS (Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng) đã giới thiệu một khung rủi ro tín dụng (Basel I) xác định các tiêu chuẩn về vốn để hạn chế rủi ro kinh doanh của các ngân hàng và tăng cường hệ thống tài chính. Để đáp ứng các yêu cầu của phát triển liên tục trong ngành Ngân hàng, các quy định này đã được sửa đổi và vào tháng 6 năm 2004, một hiệp ước về vốn mới (Basel II) được ban hành.

– Mục tiêu của Basel II: Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế; tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro.

– Basel II sử dụng khái niệm “Ba trụ cột”:

(1) Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc. Theo đó, tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I. Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường.

(2) Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel II cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I. Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk).

(3) Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường. Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này.

2. Thực trạng triển khai tại Việt Nam

Đọc tiếp »

ThS. CHU THỊ THU THUỶ

Thực tế trên thị trường chứng khoán cho thấy, tỷ lệ sở hữu nước ngoài và thông tin kế toán có tác động tích cực đến giá chứng khoán của các công ty cổ phần niêm yết. Qua việc sử dụng số liệu của 712 công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2014, kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng tỷ lệ sở hữu nước ngoài và thông tin kế toán có tác động tích cực đến giá chứng khoán của các công ty này. Nghiên cứu này một lần nữa khẳng định ý nghĩa đúng đắn của việc nới “room” cho nhà đầu tư ngoại mới đây của Chính phủ và Bộ Tài chính.

Kinh nghiệm quốc tế

Ảnh hưởng của thông tin kế toán đối với giá cổ phiếu

Trong những năm qua, trên thế giới, có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm xem xét tác động của thông tin kế toán đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên các thị trường chứng khoán (TTCK). Các nghiên cứu này đều chỉ ra rằng, giá trị của thông tin kế toán đối với giá cổ phiếu rất quan trọng và ngày càng có xu hướng tác động mạnh hơn. Đặc biệt, trong bối cảnh hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế nói chung và hệ thống chuẩn mực kế toán của các quốc gia nói riêng ngày càng được cải tiến và thống nhất với nhau làm cho thông tin kế toán ngày càng minh bạch, đáng tin cậy và dễ tiếp cận hơn.

Ngoài ra, thông tin kế toán cũng giúp các nhà đầu tư (NĐT) đánh giá tình hình tài chính, dự đoán dòng tiền, dòng lợi nhuận trong tương lai mà các công ty niêm yết trên TTCK đem lại chính xác hơn. Trên cơ cở đó, các NĐT đưa ra quyết định đúng đắn về việc mua hay bán cổ phiếu đang nắm giữ, vì vậy tác động trực tiếp đến cung – cầu về cổ phiếu, dẫn đến sự thay đổi trong giá của cổ phiếu trên thị trường. Những nghiên cứu chứng minh cho quan điểm này có thể kể đến như nghiên cứu của Collins, Maydew và Weiss (1997), Barth, Beaver và Landsman (1998), Keener (2011)…

Đọc tiếp »

TS. LÊ XUÂN SANG

PHÓ VIỆN TRƯỞNG VIỆN KINH TẾ VIỆT NAM

1. Thông lệ trên thế giới trong việc Chính phủ vay Ngân hàng Trung ương khi gặp khó khăn về ngân sách

Trên thế giới, việc Ngân hàng Trung ương (NHTW) cho Chính phủ vay để giải quyết những khó khăn về tài khóa được quy định theo các điều khoản pháp lý khác nhau. Khảo sát toàn cầu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tại 152 nước theo các trình độ phát triển, vị trí địa lý và chế độ tỷ giá khác nhau cho thấy kết quả như sau: có tới 51/152 nước được khảo sát cấm NHTW cho Chính phủ vay; 41/152 (27%) nước được phép cho Chính phủ vay và 57/152 (37,5%) cho Chính phủ ứng trước, nói cách khác, có 98 nước hay gần 2/3 số nước được khảo sát được phép cho Chính phủ vay dài hạn và ứng trước (vay ngắn hạn); còn lại chỉ có 3 quốc gia là không có điều khoản pháp lý quy định về vấn đề này.

Dưới đây chi tiết hóa các quy định cụ thể.

Đọc tiếp »

(TBKTSG Online) – “Lãi suất và thị trường là hai mấu chốt đang có vấn đề thực sự mà doanh nghiệp cần chú ý từ nay đến cuối năm và có thể cả năm sau”, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, hiện là thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, nhấn mạnh trong cuộc trả lời phỏng vấn TBKTSG.

Ông nói: “Dự báo mới nhất của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) làm tôi lo ngại. Họ không còn nói kinh tế thế giới tăng trưởng chậm hoặc phục hồi chậm như trước, mà dùng từ suy giảm dài hạn”.

TBKTSG: Có phải ý ông muốn đề cập đến giá hàng hóa cơ bản trên thị trường quốc tế vẫn đang đi xuống không?

– Ông Lê Xuân Nghĩa: Đúng vậy. Trên thị trường quốc tế sáu tháng đầu năm giá hàng hóa cơ bản giảm 6%, nhất là nông sản. Doanh nghiệp Việt Nam cách đây hai năm đầu tư nhiều để chuẩn bị đón đầu các hiệp định thương mại tự do. Họ đầu tư công nghệ theo kiểu nửa hiện đại, nửa cổ điển. Thí dụ máy xén giấy, họ mua dao cắt, phần điều khiển của Mỹ, của châu Âu, phần còn lại họ mua của Trung Quốc vì rẻ. Đó là cách đầu tư “liệu cơm gắp mắm” của người Việt, cũng tốt. Nhưng đáng lo là tất cả những khoản đầu tư đó đều hướng đến xuất khẩu. Nếu năm nay là đáy của giá hàng hóa, thì năm sau giá có thể lên. Tuy nhiên theo dự báo của IMF, năm nay có thể chưa là đáy, năm sau giá vẫn nằm ngang như thế, thì nhiều doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu.

Đọc tiếp »

  • ThS. TRẦN VĂN HÙNG

Bằng việc sử dụng mô hình VAR phân tích dữ liệu hàng tháng trong giai đoạn 2002-2014, bài viết phân tích tác động truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam trước và sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ truyền dẫn tỷ giá trong giai đoạn sau khi gia nhập WTO lớn hơn và nhanh hơn so với giai đoạn trước khi gia nhập WTO.

Chủ đề về truyền dẫn tỷ giá luôn được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu bởi vì tầm quan trọng của chúng ta trong quá trình ổn định và phát triển của nền kinh tế, nhất là trong giai đoạn sau khi gia nhập WTO. Điển hình như: Võ Văn Minh (2009) nghiên cứu trong giai đoạn trước khi gia nhập WTO và nhận thấy, mức độ truyền dẫn tỷ giá lên Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là 0,21 sau 10 tháng nhưng tính chung trong 12 tháng đầu chỉ đạt mức 0,08. Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lục Văn Cường (2013) lại sử dụng dữ liệu hàng quý 2001-2011 và nhận thấy, mức độ truyền dẫn tỷ giá vào CPI xấp xỉ khoảng 0,5 mặc dù độ vững mạnh chưa cao do số lượng quan sát ít. Tuy nhiên, kết quả này phù hợp với Nguyễn Kim Nam, Trương Ngọc Hảo, Nguyễn Thị Hằng Nga (2014), và Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn (2013) khi cho rằng, lạm phát trở nên nhạy cảm hơn với tỷ giá trong giai đoạn sau khi gia nhập WTO.

Phương pháp nghiên cứu

Đọc tiếp »

ĐINH HOÀNG THẮNG

(TBKTSG Online, 25/3/2015)

Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á (AIIB) do Trung Quốc khởi xướng và lãnh đạo có số vốn khởi động là 50 tỉ, sẽ tăng lên 100 tỉ đô la. Mỹ từ đầu đã coi AIIB như một biểu tượng trong cuộc đối đầu Mỹ-Trung nhưng cho đến nay, các đồng minh chí cốt của Mỹ đều tham gia Ngân hàng do Trung Quốc đề xuất.

Ngày 24-3 này vừa đúng năm tháng Trung Quốc đưa sáng kiến thành lập Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á (AIIB: Asian Infrastructure Investment Bank). Ngay từ đầu, 21 quốc gia ở khu vực, trong đó có Việt Nam, đã hưởng ứng. 21 bộ trưởng tài chính đã ký kết MU (Memorandum Undestanding) để thành lập một ngân hàng rõ ràng làm đối trọng lại 3 ngân hàng lớn hiện nay của Mỹ và Nhật là Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB).

Đọc tiếp »

Thuế và hàng hóa công

Trong đời có hai thứ mà bạn không thể tránh: chết và thuế. Có những người cho rằng thuế còn tệ hơn chết. Tại sao chúng ta phải đóng thuế? Một chánh án của tòa án tối cao Mỹ đã nói: "Thuế là cái giá ta phải trả cho một xã hội văn minh".

Nhà nước cung cấp nhiều hàng hóa và dịch vụ như quốc phòng, cầu đường, công viên. Đây là những hàng hóa "công", nghĩa là nhiều người có thể sử dụng chúng cùng một lúc. Một trái táo là một hàng hóa tư, vì nếu tôi mua và ăn trái táo này thì bạn không thể ăn nó nữa. Nhưng nếu tôi đi dạo trong công viên thì việc đó không hề cản trở bạn "sử dụng" công viên.

Thị trường tư nhân thường không cung cấp những hàng hóa mang bản chất công cộng, vì khó có thể bắt mọi người phải trả tiền khi sử dụng hàng hóa này. Hoặc trong trường hợp một công viên, người ta tin rằng theo lẽ công bằng thì mọi người đều được tự do sử dụng công viên. Tôi sẽ không muốn sản xuất một mặt hàng khi không thể ngăn cản những người sử dụng không trả tiền. Nhưng những hàng hóa công này là quan trọng đối với quốc phòng và chất lượng sống, vì thế nhà nước phải vào cuộc và trả tiền cho việc tạo ra chúng, tài trợ cho những dự án này bằng nguồn thu từ thuế.

Tương tự, loại hàng hóa như giáo dục tiểu học và y tế cơ bản mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, không chỉ riêng những ai "tiêu dùng" chúng. Người được giáo dục và khỏe mạnh có năng suất cao hơn, nên việc cung cấp hàng hóa này có lợi cho tất cả chúng ta. Các nhà kinh tế gọi đây là tác động "lan tỏa" vì việc sử dụng hàng mang lại lợï ích cho mọi người, không chỉ riêng cho người sử dụng trực tiếp. Do đó, tất cả chúng ta phải cùng chia sẻ trách nhiệm tài trợ để sản xuất đầy đủ những hàng hóa này. Nhà nước sử dụng tiền thuế để trả cho những mặt hàng này để tất cả chúng ta đều có lợi.

Trách nhiệm của người đóng thuế

LÊ HỒNG GIANG

Chỉ trừ New York và Philadelphia, giá dịch vụ UberX ở tất cả các thành phố lớn của Mỹ đều rẻ hơn giá taxi thông thường. Nếu tính cả phí thanh toán bằng thẻ tín dụng mà các công ty taxi có thể thu thêm và tiền thưởng cho tài xế thì Uber vẫn luôn rẻ hơn taxi. Ở Việt Nam mới chỉ có UberBlack (cao cấp hơn UberX) mà theo thông tin báo chí giá đã rẻ hơn taxi. Vậy tại sao giá dịch vụ Uber lại rẻ như vậy?

Hai lý do dễ thấy nhất là: (a) công nghệ Uber tốt hơn nên tiết kiệm chi phí vận hành, (b) Uber phá vỡ rào cản độc quyền của giới taxi thông thường (một phần nhờ vào (a)).

Tuy nhiên theo tôi còn hai lý do nữa mà ít người để ý.

Uber được trợ giá như thế nào?

Lý do thứ ba (c) là Uber được trợ giá theo kiểu ăn theo. Thay vì phải trang bị tổng đài và máy bộ đàm cho các xe, Uber tận dụng ngay hệ thống viễn thông di động cho hoạt động điều hành xe của mình. Điều này giống như Skype, Viber sử dụng hạ tầng Internet và viễn thông để cung câp dịch vụ điện thoại miễn phí. Như vậy Uber đã được các hãng viễn thông “cõng trên lưng" (piggyback), hay nói cách khác được "trợ giá" gián tiếp từ các hãng đó.

Nhưng dịch vụ viễn thông và smartphone chưa đủ. Điều tối quan trọng với Uber là hệ thống định vị toàn cầu (GPS). Nếu không có hệ thống này mô hình kinh doanh của Uber không thể hoạt động được, hoặc sẽ không hơn gì các hãng taxi truyền thống. Sử dụng GPS miễn phí cũng là một dạng được trợ giá, dù tất nhiên vẫn phải dựa vào lý do (a) bên trên.

Một hình thức trợ giá thứ ba rất tinh vi là từ các nhà đầu tư đã và sẽ đầu tư vào Uber. Vòng đầu tư gần đây nhất Uber được đánh giá 40 tỉ đô la Mỹ, tăng gấp đôi sau 6 tháng. Uber nhận được 1,2 tỉ đô la Mỹ cho vòng đầu tư này và tuyên bố sẽ sử dụng số tiền đó để mở rộng thị trường.

Như đã phân tích ở trên, Uber hầu như không cần đầu tư thêm gì cho công nghệ, phần mềm ứng dụng đã viết rồi, hệ thống viễn thông đã có các công ty viễn thông lo, GPS đã được chính phủ Mỹ đầu tư, cùng lắm khi mở rộng thị trường Uber chỉ phải mua thêm máy chủ và băng thông. Như vậy 1,2 tỉ đô la Mỹ đó chủ yếu chi cho tiếp thị (PR/marketing) và một số chi phí pháp lý.

Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN ĐỨC THÀNH

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR),

Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Bài viết này mong muốn đưa ra một cái nhìn khách quan về nền kinh tế Việt Nam, vì việc đánh giá thực tiễn có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp, các nhà đầu tư và cả kinh nghiệm cho các nhà điều hành chính sách.

Sau khi Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trình bày Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2014 và nhiệm vụ năm 2015 trước Quốc hội tại kỳ họp thứ 8, khóa XIII, ngày 20/10/2014, trên nhiều diễn đàn đã dấy lên một cuộc tranh luận sôi nổi về thực trạng kinh tế Việt Nam và triển vọng cùng những nguy cơ trong trung hạn.

Có thể nói, vấn đề kinh tế căn bản của Việt Nam trong những năm gần đây xoay quanh hai vấn đề chính: duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô và kiến tạo đà tăng trưởng kinh tế trong trung hạn.

Trong nhiều năm, cho tới tận trước 2011, mục tiêu tăng trưởng luôn là ưu tiên hàng đầu của Chính phủ, dưới sự hậu thuẫn của các cấp lãnh đạo (Đảng, Quốc hội). Tuy nhiên, do cấu trúc của nền kinh tế dựa nhiều vào khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và đầu tư công, mục tiêu này đã không thể đạt được, trái lại, hậu quả chỉ là bất ổn vĩ mô ngày càng lớn đi liền với suy giảm tăng trưởng.

Từ năm 2011, mục tiêu điều hành được xoay hướng sang ưu tiên ổn định vĩ mô ngày càng rõ ràng. Trong ngắn hạn, ổn định vĩ mô, với công cụ là thu hẹp đầu tư công, cải cách khu vực DNNN, và thận trọng trong cung ứng tiền tệ, thường đi liền với tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại.

Cụ thể, lạm phát đã liên tục giảm từ mức cao của năm 2011 xuống 6,8% vào năm 2012 và 6% năm 2013 và dự kiến năm nay, 2014, sẽ thấp hơn 5%. Đồng thời, tăng trưởng kinh tế trong những năm này đều chỉ đạt khoảng 5%.

Nhận định chung cho thấy có thể đánh đổi một giai đoạn kinh tế tăng trưởng chậm lại để tái lập ổn định vĩ mô, đồng thời thực hiện cải cách cơ cấu để lấy lại đà tăng trưởng. Hai quá trình này cần thực hiện song song, để mục tiêu đạt được trong giai đoạn sau là có sự tăng trưởng cao hơn, tốc độ tăng trưởng được duy trì bền vững hơn, trong khi kinh tế vĩ mô vẫn được duy trì liên tục. Vì vậy, việc đánh giá thành quả của việc bình ổn vĩ mô, chính là hiệu quả của việc cải cách cơ cấu nền kinh tế trong thời gian đó.

Đọc tiếp »

PHAN HUY CHÚ

Luattaichinh: Lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú được xem là Bách khoa toàn thư thời kỳ trung đại ở Việt Nam. Những thông tin và lời bàn của ông cho thấy, nhà nước phong kiến Việt Nam cũng có những quan niệm khá hiện đại về thuế và quản lý thuế khá chặt chẽ, cùng thời điểm Châu Âu bắt đầu bình minh của khoa học kinh tế. Tuy nhiên, việc kỳ thị đối với hoạt động thương mại là một hạn chế lớn trong quản lý kinh tế thời kỳ này.

Sau đây là phần I của phần Quốc dụng chí (Quyển XXXI).

———————————————————

ĐÁNH THUẾ CHUYÊN LỢI

THUẾ CHUYÊN LỢI VỀ QUẾ

Lê Dụ Tông, năm Vĩnh thịnh thứ 11[1715], thả lệnh cấm về vỏ quế, cho nhân dân được thông hành buôn bán. Cho phép nhân dân được thông hành buôn bán. Cho phép các nơi có thổ sản được bóc nộp, cho người thuê bóc một nửa, nộp vào nhà nước một nửa. Người thuê bóc được 500 cân thì cho 50 quan tiền mà trưng mua số quế.

Năm Bảo – thái thứ 1 [1720], Nhân vương [Trịnh Cương] cùng với tể thần bấy giờ là bọn Nguyễn Công Kháng bàn rằng cây quế là sản vật của nhà nước mà lệ cũ cho nhân dân buôn bán riêng với nhau, mối lợi về bọn lái buôn, việc chi dùng của nhà nước không được lợi gì, bèn định thi hành phép thuế chuyên lợi về quế, sai quan trông nom công việc. Phàm có nhân dân buôn bán tự nguyện đi bóc quế thì phải làm tờ khai xin phép và cung tiến lễ mừng. Quan giám đương hầu chỉ cấp bằng cho làm quế hộ. Các quế hộ vào rừng lấy quế, trước hết phải đến quan trình bằng và nộp lễ mừng 10 quan tiền quý. Quan hỏi người ấy định đi lấy quế ở địa phương nào, rồi làm giấy cho phép điền rõ số đi lấy là bao nhiêu cân, lại sai người đi trước đến báo cho xã dân ấy biết, cho sao bản giấy phép giữ lấy làm bằng để tiện xét nghiệm, rồi quế hộ mới được đi lấy quế. Số quế lấy được bao nhiêu cân, lại báo cho xã dân ấy ghi chép làm bằng, đem đựng vào sọt, mỗi sọt nặng 100 cân, đem đến trình quan bản trấn cân lại đúng số rồi cấp cho bài chỉ rõ ràng. Khi đi đường qua các quan tuần y, cứ chiếu bài chỉ kiểm tra lại thấy đúng số thì cấp giấy cho đi. Khi đến kinh đô, đem bài chỉ của trấn quan và giấy của tuần ty trình quan giám đương chiếu số kiểm lại đúng rồi bổ thuế. Cứ mỗi 100 cân định giá là 100 quan tiền quý thì đánh thuế 5 phần 10, rồi cho quế hộ đem về cất giữ. Khi nào có thuyền buôn đến mua, thì làm tờ khải nộp quan giám đương đệ lên chúa xem và hầu chỉ, cho mua bao nhiêu cần thì tính theo thời giá chuẩn cho nộp thuế, cứ mỗi 100 cân quế định giá 100 quan tiền quý thì đánh 5 phần 10, tức 1 quan tiền quý thì nộp 5 tiền. Quế hộ đem số quế phần của mình cất giữ tính thuế mà bán ra. Khách buôn khi trở về thì trấn quan sai binh lính đưa ra khỏi địa hạt, cứ mỗi lần phải nộp lộ phí 10 quan tiền quý.

Đọc tiếp »

Luật Tài chính: Nghị quyết này, về mặt thực tế không có gì đáng bàn, vì nó cần để xử lý những vấn đề trước mắt.

Nhưng về mặt lý luận pháp luật cũng như tài chính công, có một số vấn đề cần xem xét:

1. Nghị quyết của Quốc hội có cần căn cứ vào Luật Ngân sách Nhà nước không? Về hiệu lực, Nghị quyết của Quốc hội có hiệu lực rất cao, trong khi nội dung chính của nghị quyết (Điều 1) lại không hoàn toàn phù hợp với Điều 59 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002.

2. Lần đầu tiên có khái niệm "nguồn tăng bội chi", và liệu nguồn tăng bội chi này có được hiểu là nguồn tăng thu hay không, trong khi vay nợ lại không phải là nguồn thu của ngân sách trung ương theo Điều 30 Luật Ngân sách Nhà nước?

3. Lấy nguồn tăng bội chi để bù đắp hụt thu ngân sách trung ương là việc chưa có tiền lệ. Tại sao không giảm chi tương ứng với số thu chưa đạt theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước? Nếu vẫn giảm chi tương ứng với số hụt thu thì việc bù đắp này có ý nghĩa gì ngoài câu chuyện của các con số?

4. Và cuối cùng, nếu do tăng trần bội chi mà dẫn đến việc vay được nhiều tiền hơn, tại sao không quyết định trả lại tiền vay hoặc không tiếp tục vay (nhiều trường hợp hoàn toàn có thể) mà lại vẫn phải sử dụng cho bằng hết số tiền vay khi không thực sự cần?

Sau đây là toàn văn Nghị quyết:

Đọc tiếp »

TS. LÊ THỊ THÙY VÂN

Viện Chiến lược và Chính sách tài chính

Mô hình quản lý và giám sát hệ thống tài chính trên thế giới đã có những thay đổi đáng kể qua nhiều thập niên, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Những rủi ro mới phát sinh đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện các chuẩn mực, phương thức giám sát hệ thống tài chính theo hướng tăng cường giám sát thận trọng vĩ mô, nâng cao năng lực thể chế của hệ thống giám sát nhằm đảm bảo tính ổn định và sức chịu đựng của hệ thống trước các cú sốc.

Xu hướng lựa chọn và điều chỉnh mô hình giám sát

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã làm bộc lộ những yếu kém trong hệ thống giám sát tài chính thế giới, khi mô hình quản lý và giám sát tài chính không theo kịp sự phát

Xu hướng cải cách hệ thống giám sát tài chính trên thế giới

triển và đổi mới của hệ thống tài chính. Do vậy, sau khủng hoảng tài chính này, các nền kinh tế lớn đã tích cực cải cách hệ thống giám sát tài chính nhằm tăng cường hiệu quả giám sát, kịp thời phát hiện rủi ro và ngăn ngừa việc tái diễn khủng hoảng trong tương lai.

Giám sát tài chính hợp nhất là mô hình được nhiều nước hướng đến nhiều hơn trong số 4 mô hình giám sát (giám sát theo định chế, giám sát theo chức năng, giám sát hợp nhất, giám sát lưỡng đỉnh), với tỷ lệ các nước lựa chọn mô hình này tăng từ 20% vào năm 1996 lên 31% (năm 2011). Số nước lựa chọn mô hình cũng tăng từ 13 nước (năm 1996) lên 36 nước vào năm 2006, 42 nước (năm 2009) và lên 55 nước (năm 2012). Trong đó, các nước tiêu biểu cho lựa chọn mô hình này là: Đức, Thụy Điển, Đan Mạch, Canada, Na Uy, Anh (từ năm 1997 đến tháng 3/2013), Ba Lan (từ năm 1997), Hàn Quốc (từ năm 1999), Hungary (từ năm 2000).

Các nguyên nhân cơ bản lý giải cho xu hướng này là: (i) Kịp thời phản ánh sự phát triển của hệ thống tài chính cũng như hoạt động kinh doanh của các định chế tài chính; (ii) Nâng cao hiệu quả giám sát trong bối cảnh các tập đoàn tài chính được thành lập ngày càng nhiều; (iii) Mô hình giám sát phân tán không thể ứng phó kịp thời và hiệu quả trước những tác động tiêu cực từ các cú sốc bên ngoài đến khu vực tài chính trong nước.

Đọc tiếp »

TRẦN ĐÌNH THIÊN & PHÍ MẠNH HỒNG1

Cơ chế thị trường là một cơ chế kinh tế hiện thực, đã được xác lập một cách vững chắc trong lịch sử phát triển của kinh tế thế giới. Cho đến nay, dù không phải là một cơ chế hoàn hảo, song nó vẫn chứng tỏ được rằng đó là một cơ chế phân bổ nguồn lực, một cơ chế phát triển tốt nhất hiện nay. Một quốc gia dựa trên nền tảng thị trường để phát triển kinh tế có thể không chắc chắn thành công, song một quốc gia không dựa trên thị trường chắc chắn sẽ thất bại trong dài hạn. Môt cách triệt để, đối với sự phát triển hiện đại, phát triển đồng nghĩa với việc xây dựng, phát triển, hoàn thiện nền kinh tế thị trường hiện đại. Kết cục của sự lựa chọn giữa kinh tế thị trường hay kinh tế phi thị trường, về mặt thực tiễn là rõ ràng, với ưu thế rõ rệt, không cần phải tranh cãi của mô hình của kinh tế thị trường. Các kiểu mẫu phát triển khác nhau, sự thành công hay thất bại khác nhau, gắn liền với việc xử lý đúng đắn, hiệu quả, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể về mối quan hệ giữa thị trường và nhà nước với tư cách là 2 phương thức phân bổ nguồn lực khác nhau, có thể bổ sung cho nhau, song cũng có thể triệt tiêu tính hiệu quả của nhau.Thực tiễn trước và sau Đổi mới ở Việt Nam chứng minh rằng: phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế (một thuộc tính phát sinh từ quá trình toàn cầu hoá của nền kinh tế thị trường hiện đại) là lựa chọn không thể tránh né của Việt Nam.

Nền tảng của nền kinh tế thị trường là dựa trên sự xác lập và thực thi phổ biến quyền sở hữu tư nhân về các tài sản (dùng cách diễn đạt "các tài sản" thay cho "các tư liệu sản xuất chủ yếu" như là đối tượng của sở hữu chính xác hơn. Tài sản bao gồm cả tài sản vô hình như tri thức, vốn là thứ đang nổi lên như một nguồn lực hàng đầu quyết định năng lực sáng tạo của cải trong nền kinh tế tri thức). Luận điểm này được thừa nhận phổ biến và được thực tiễn lịch sử kinh tế thế giới chứng minh. Nó cũng từng được C.Mac nêu lên như một trong hai điều kiện cần thiết của sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá. Quyền sở hữu tư nhân được thực thi hàm nghĩa rằng người sở hữu tài sản có quyền khai thác, sử dụng tài sản của mình, được thụ hưởng các kết quả mà mình tạo ra từ tài sản đó. Thừa nhận quyền sở hữu tư nhân có nghĩa là mọi người chỉ có thể có được hàng hoá, tài sản từ người khác phải thông qua trao đổi mua bán, chứ không phải thông qua sự chiếm đoạt. Sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường đối nghịch với các quan hệ kinh tế dựa trên sự lệ thuộc cá nhân của các xã hội tiền tư bản. Nó là hình thái sở hữu tư nhân đích thực, trọn vẹn. Sức sống lâu bền của hệ thống kinh tế thị trường nằm ở chỗ: nó phù hợp với giai đoạn lịch sử mà con người về căn bản còn là những người tư lợi. Họ sản xuất, trao đổi trước hết vì lợi ích cá nhân của mình. Dựa trên nền tảng quyền tư hữu được tôn trọng và bảo vệ, hệ thống này cho phép các cá nhân phát huy được các tiềm năng của mình trong các hoạt động sản xuất trao đổi nhằm tối đa hoá các lợi ích cá nhân. Như A.Smit đã chỉ ra, thông qua cơ chế cạnh tranh và sự lên xuống của giá cả, bàn tay vô hình của thị trường hoá ra lại là "cơ chế tuyệt diệu có thể chuyển hoá các nỗ lực theo đuổi lợi ích riêng của các cá nhân thành các lợi ích của toàn xã hội"2. Tôn trọng và phát huy sức mạnh của lợi ích cá nhân (hiểu theo nghĩa rộng, đó không chỉ là lợi ích vật chất, tiền bạc mà còn bao hàm cả những lợi ích tinh thần mà cá nhân theo đuổi) trên cơ sở xác lập và bảo vệ quyền tư hữu, coi đó là động lực sâu sa chi phối hành vi kinh tế con người – tất cả nhứng điều đó làm nên sức sống năng động và sự thịnh vượng của các nền kinh tế thị trường. "Hệ thống thị trường đã chứng kiến nhiều thay đổi trong hai năm qua, nhưng chế độ tư hữu vẫn tiếp tục đóng vai trò trung tâm. Khi sản xuất và trao đổi ngày càng phức tạp với mức độ chuyên môn hoá và phân công lao động ngày càng cao, quyền tư hữu càng được củng cố chứ không yếu đi trong các nền kinh tế thị trường, và việc thực thi quyền tư hữu ngày càng được mở rộng ở mức độ tinh vi hơn"3.

Đọc tiếp »

Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Bảo Hiểm

Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường trong các phân ngành dịch vụ bảo hiểm sau:

  • Bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm y tế);
  • Bảo hiểm phi nhân thọ;
  • Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;
  • Trung gian bảo hiểm (môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm);
  • Các dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường).

Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có thể thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam theo những hình thức nào?

Theo cam kết trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm, các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài được quyền hiện diện ở Việt Nam dưới các hình thức:

  1. Văn phòng đại diện (tuy nhiên các văn phòng đại diện không được phép kinh doanh sinh lời trực tiếp);
  2. Liên doanh với đối tác Việt Nam;
  3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (với những hạn chế về loại dịch vụ được phép cung cấp theo lộ trình);
  4. Chi nhánh (với điều kiện mở sau 11/1/2012 và chi nhánh chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ).

Hộp 1 – Hạn chế về loại dịch vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài được phép cung cấp
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc, bao gồm:
– Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba;
– Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt;
– Bảo hiểm các công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường.
Cũng theo cam kết thì tất cả các hạn chế này phải được bãi bỏ từ ngày 1/1/2008.

Tỷ lệ góp vốn tối đa dưới hình thức mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam là bao nhiêu?

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Chín 2017
H B T N S B C
« Th7    
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,750,090 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Không dễ mua DNNN 23/09/2017
    (TBKTSG) - Quá trình cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thường xuyên được thúc đẩy bởi các chương trình tái cơ cấu DNNN trong suốt sáu năm qua, với mục tiêu và chi phí không nhỏ, song kết quả đạt được không tương xứng. Nhà đầu tư vẫn khẳng định: không dễ mua DNNN
  • Giải ngân cho dự án trọng điểm: lắm cha con khó lấy chồng 22/09/2017
    (TBKTSG) - Với dự án tuyến metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên (TPHCM), trong khi phía cung cấp vốn ODA là Nhật Bản đã chuẩn bị nguồn vốn sẵn sàng thì có gì đó không ổn trong việc điều phối vốn của các cơ quan quản lý nhà nước phía Việt Nam.
  • Tâm lý thận trọng tiếp diễn 21/09/2017
    (TBKTSG Online) - Thị trường mở cửa phiên giao dịch tiếp tục với tâm lý khá thận trọng. Có thể thấy sự suy yếu của các vốn hóa lớn như PLX, SAB, VNM, VIC, STB, DHG,… tạo áp lực khá lớn lên thị trường. Tạm dừng phiên giao dịch buổi sáng, chỉsố VN-Index giảm 2,68 điểm (-0,33%) xuống 803,18 điểm, trong khi HNX-Index tăng 0,34 điểm (+0,33%) lên 105,52 điểm. […]
  • Tâm lý thận trọng 20/09/2017
    (TBKTSG Online) - Thị trường mở cửa với tâm lý khá thận trọng tiếp nối sự điều chỉnh giảm điểm của cuối phiên hôm qua. Các cổ phiếu vốn hoá lớn như SAB, BHN, PLX, VNM, VIC, HPG, HSG, GAS… đồng loạt giảm điểm. Các cổ phiếu thép như HPG, HSG, NKG, POM, SMC,… nhìn chung đã hạ nhiệt sau vài phiên tăng gần đây. […]
  • Đà tăng chững lại 19/09/2017
    (TBKTSG Online) - Thị trường mở cửa phiên sáng với tâm lý thận trọng hơn và chứng kiến sự phân hóa tại nhóm cổ phiếu trụ cột. Đặc biệt, VCB trở thành tâm điểm khi bị khối ngoại bán ròng với số lượng gần 880.000 đơn vị. Cuối phiên sáng, nhóm cổ phiếu lớn vẫn chiếm ưu thế với các mã như BID, FPT, VIC, ROS, MSN, KDC,... giúp duy trì sắc xanh trên thị trường. Tạ […]
  • Cơ hội từ việc thoái vốn tại DNNN 19/09/2017
    (TBKTSG) - Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, mới đây Phó thủ tướng Vương Đình Huệ đã ký Quyết định số 1232/QĐ-TTg phê duyệt danh mục doanh nghiệp mà Nhà nước sẽ thực hiện thoái vốn và tỷ lệ thoái vốn tối thiểu theo từng năm của doanh nghiệp có vốn nhà nước giai đoạn 2017-2020. […]
  • FPT Retail sẽ lên sàn trước tháng 4-2018 19/09/2017
    (TBKTSG Online) - Theo thông tin từ Tập đoàn FPT, Công ty cổ phần bán lẻ kỹ thuật số (FPT Retail) dự kiến sẽ niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE) trước tháng 4-2018.
  • Những hệ lụy từ chuyện thừa tiền 19/09/2017
    (TBKTSG) - Báo cáo về tình hình kinh tế và thị trường tài chính của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (NFSC) trong tháng 8-2017 cho thấy số dư tiền gửi của Kho bạc Nhà nước (KBNN) tại các ngân hàng thương mại (NHTM) đang vào khoảng 160.000 tỉ đồng, tăng tới 68% so với cuối năm 2016. Tuy nhiên, nếu tính thêm số tiền gửi của KBNN tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) […]
  • Chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng cần ý kiến của Bộ Chính trị 18/09/2017
    (TBKTSG Online) - Quy định chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng, điều khoản đáng quan tâm nhất trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng, sẽ cần thêm ý kiến của Bộ Chính trị để được đưa ra kỳ họp Quốc hội cuối năm nay.
  • Tháng 11, Habeco sẽ hoàn tất đàm phán bán cổ phần cho Carlsberg 17/09/2017
    (TBKTSG Online) -  Đại diện Công ty cổ phần Bia-Rượu-Nước giải khát Hà Nội (Habeco) cho biết, cuộc đàm phán bán thêm cổ phần cho đối tác là hãng bia Carlsberg sẽ hoàn tất vào ngày 15-11.