Thuế và hàng hóa công

Trong đời có hai thứ mà bạn không thể tránh: chết và thuế. Có những người cho rằng thuế còn tệ hơn chết. Tại sao chúng ta phải đóng thuế? Một chánh án của tòa án tối cao Mỹ đã nói: "Thuế là cái giá ta phải trả cho một xã hội văn minh".

Nhà nước cung cấp nhiều hàng hóa và dịch vụ như quốc phòng, cầu đường, công viên. Đây là những hàng hóa "công", nghĩa là nhiều người có thể sử dụng chúng cùng một lúc. Một trái táo là một hàng hóa tư, vì nếu tôi mua và ăn trái táo này thì bạn không thể ăn nó nữa. Nhưng nếu tôi đi dạo trong công viên thì việc đó không hề cản trở bạn "sử dụng" công viên.

Thị trường tư nhân thường không cung cấp những hàng hóa mang bản chất công cộng, vì khó có thể bắt mọi người phải trả tiền khi sử dụng hàng hóa này. Hoặc trong trường hợp một công viên, người ta tin rằng theo lẽ công bằng thì mọi người đều được tự do sử dụng công viên. Tôi sẽ không muốn sản xuất một mặt hàng khi không thể ngăn cản những người sử dụng không trả tiền. Nhưng những hàng hóa công này là quan trọng đối với quốc phòng và chất lượng sống, vì thế nhà nước phải vào cuộc và trả tiền cho việc tạo ra chúng, tài trợ cho những dự án này bằng nguồn thu từ thuế.

Tương tự, loại hàng hóa như giáo dục tiểu học và y tế cơ bản mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, không chỉ riêng những ai "tiêu dùng" chúng. Người được giáo dục và khỏe mạnh có năng suất cao hơn, nên việc cung cấp hàng hóa này có lợi cho tất cả chúng ta. Các nhà kinh tế gọi đây là tác động "lan tỏa" vì việc sử dụng hàng mang lại lợï ích cho mọi người, không chỉ riêng cho người sử dụng trực tiếp. Do đó, tất cả chúng ta phải cùng chia sẻ trách nhiệm tài trợ để sản xuất đầy đủ những hàng hóa này. Nhà nước sử dụng tiền thuế để trả cho những mặt hàng này để tất cả chúng ta đều có lợi.

Trách nhiệm của người đóng thuế

“Thuế là cái chúng ta phải trả cho một xã hội văn minh”. Ý nghĩa của câu nói này là những công dân chúng ta có nghĩa vụ phải tài trợ cho các hoạt động mà xã hội chúng ta tin rằng chính phủ nên đầu tư. Song song với trách nhiệm này là nhu cầu được biết và theo dõi số tiền đóng góp từ công sức của chúng ta được chính phủ chi tiêu như thế nào. Chính phủ Việt Nam đã tạo điều kiện cho người dân theo dõi bằng cách công khai ngân sách nhà nước trên trang web của Bộ Tài chính.

Từ trang web này, người ta dễ dàng có thông tin tiền thuế được chi tiêu ở đâu. Ví dụ, trong năm 2000 (năm gần nhất có số liệu về chi tiêu thực tế), 57% chi ngân sách nhà nước dành cho dịch vụ kinh tế – xã hội. Trong đó, 21% chi cho giáo dục và đào tạo, 17,4% chi lương hưu và phúc lợi xã hội. Trong kế hoạch ngân sách 2002, chi cho dịch vụ kinh tế xã hội là 53% , trong đó giáo dục và đào tạo chiếm 25% , lương hưu và phúc lợi xã hội chiếm 17,4%.

Phần quyết toán chi tiêu của các Bộ và Cơ quan Trung ương cũng được công khai. Ví dụ, theo thông tin trên trang web này, Bộ Giao thông Vận tải nhận 4,3% tổng chi tiêu ngân sách nhà nước năm 2000. Trong đó, 82% được chi đầu tư xây dựng cơ bản, 15% dành cho dịch vụ kinh tế – xã hội và 0,5% dành cho “chương trình quốc gia”. Phần chi tiêu dịch vụ kinh tế xã hội cũng được phân thành những hạng mục. Theo đó, Bộ Giao thông Vận tải dành 87% cho “sự nghiệp kinh tế” (tiếc rằng không có phần giải thích chi tiết về các khoản mục chi ngân sách này).

Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm đóng thuế để tài trợ cho “xã hội văn minh” của mình, nhưng cũng phải yêu cầu các cán bộ nhà nước chịu trách nhiệm về cách thức chi tiêu. Trang web của Bộ Tài chính là một bước tiến để đạt mục tiêu này.

Cạnh tranh thuế

Một cách dễ thu hút doanh nghiệp là giảm thuế, đặc biệt là thuế thu nhập. Xu hướng cạnh tranh thuế quốc tế đang tăng lên do tính lưu động ngày càng cao của vốn và lao động. Có nhiều ý kiến ủng hộ cũng như chỉ trích xu hướng này.

Phe ủng hộ giảm thuế thường lấy Ireland làm ví dụ. Quốc gia 3,8 triệu dân này có thuế thu nhập công ty chỉ 10% và trong vài năm qua nhận được đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều hơn cả Nhật hay Ý. Thu nhập bình quân đầu người của Ireland đã nhanh chóng bắt kịp với các nước còn lại ở châu Âu. Có ba lập luận thường được đưa ra.

Thứ nhất, một nước có thuế thấp sẽ thu hút nhiều doanh nghiệp. Thứ hai, thuế thấp sẽ làm giảm mất mát vô ích do đánh thuế. Cuối cùng, cạnh tranh thuế làm cho các chính phủ mất thế độc quyền và buộc phải trở nên hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, nhiều người lại cho rằng cạnh tranh thuế là có hại. Thứ nhất, quyết định đầu tư có thể bị biến dạng. Lao động và vốn có thể chuyển đến các nước có thuế thấp, nhưng có thể nơi đó không phải là nơi có năng suất cao nhất. Thứ hai, thuế lũy tiến cao không còn khả thi vì các doanh nghiệp và cá nhân có thu nhập cao có thể chuyển sang những nước có thuế thấp. Như vậy cạnh tranh thuế làm giảm tác dụng tái phân phối của thuế.

Hơn nữa, thu ngân sách giảm do cạnh tranh thuế chưa hẳn làm cho chi tiêu của chính phủ trở nên hiệu quả hơn. Điều này đặc biệt nguy hiểm đối với các nước nghèo đang cần phải đầu tư để giải quyết vấn đề hạ tầng cơ sở bị quá tải. Càng giảm số thu thuế thì càng phải đi vay nhiều. Quốc gia mắc nợ cao sẽ khiến các nhà đầu tư e ngại, trong khi tạo gánh nặng nợ cho thế hệ sau.

Tóm lại, các quốc gia cần cạnh tranh bằng việc đưa ra môi trường kinh doanh tốt, trong đó thuế chỉ là một yếu tố, nhằm thu hút lao động tay nghề cao và các ngành kinh doanh có giá trị gia tăng cao. Các chính phủ cũng phải tránh bị hút vào “cuộc đua tụt xuống đáy” do giảm thu thuế và tăng nợ vay.

Ưu đãi thuế

Các nước đưa ra ưu đãi thuế nhằm thu hút thêm đầu tư trong nước cũng như ngoài nước. Cách ưu đãi thường là miễn thuế một thời gian, giảm thuế cho đầu tư vào các ngành hay khu vực chọn lọc, cho phép khấu hao nhanh thiết bị, áp dụng thuế suất zero cho máy móc và nguyên liệu nhập khẩu. Đã có nhiều nghiên cứu về hiệu quả ưu đãi thuế và kết quả cho thấy không tích cực lắm. Nhìn chung, ưu đãi thuế chỉ đơn thuần gây thất thu cho chính phủ mà không có tác dụng hoặc chỉ có tác dụng rất hạn chế trong việc tăng cường thu hút đầu tư.

Vậy những gì có tác dụng trong việc thu hút đầu tư? Hai yếu tố có vai trò quan trọng. Thứ nhất, một hệ thống thuế ổn định với các mức thuế vừa phải so với các thuế suất theo chuẩn quốc tế. Thứ hai, các nhà đầu tư quan tâm nhất đến cơ sở hạ tầng “mềm” và “cứng” thỏa đáng, bao gồm giao thông liên lạc, nguồn điện đảm bảo, xã hội ổn định, hệ thống tư pháp đáng tin cậy và thủ tục hành chính ít rắc rối. Kinh nghiệm cho thấy nếu cơ chế thuế và cơ sở hạ tầng ở nước A tốt hơn ở nước B nhưng B lại cho ưu đãi thuế, thì rất có khả năng nước A vẫn thu hút được nhiều đầu tư hơn. Do đó, tốt hơn hết các nước đang phát triển nên tập trung nguồn lực vào cải thiện cơ sở hạ tầng.

Vì hầu hết các nước đang phát triển đều ban phát ưu đãi thuế dẫn đến mức cạnh tranh nhau về thuế, nên nhất thời khó có thể rút lại tất cả những hình thức ưu đãi. Tuy nhiên, cần xét kỹ một vấn đề: liệu ngành được ưu đãi thuế có lợi cho nền kinh tế hay không? Ưu đãi thuế làm giảm chi phí đầu tư và có thể biến một dự án tồi trở thành khả thi. Chẳng hạn, nếu sản xuất xi-măng không có lợi về mặt kinh tế, thì ưu đãi thuế cho ngành này sẽ nhân đôi tác hại. Nhà nước thất thu thuế trong khi đẩy mạnh tăng trưởng của một ngành mà càng sản xuất càng gây thiệt hại cho nền kinh tế.

Dịch chuyển thuế

Khi muốn đánh thuế kinh doanh lên một ngành thì nhà nước cần phải cân nhắc vấn đề đối tượng chịu thuế, hay nói khác là ai sẽ phải trả khoản thuế này. Dịch chuyển thuế nói đến cách thức mà một pháp nhân bị đánh thuế cố gắng chuyển gánh nặng thuế nhắm vào mình sang những nhóm khác trong nền kinh tế.

Đứng trước khả năng phải trả một khoản thuế mới hay thuế cao hơn, các nhà sản xuất trong ngành bị đánh thuế có thể cố gắng nâng giá sản phẩm và dịch chuyển khoản thuế sang cho người tiêu dùng. Cách làm này gọi là dịch chuyển thuế về phía trước.

Đôi khi các nhà sản xuất không thể tăng giá sản phẩm của họ vì trên thị trường có những mặt hàng có khả năng thay thế. Trong trường hợp này họ sẽ tìm cách giảm giá đầu vào sản xuất. Ta có thể thấy ví dụ của hiện tượng dịch chuyển gánh nặng thuế về phía sau trong ngành chế biến nông sản, ở đó các nhà chế biến có thể ghìm giá đầu vào thu mua từ nông dân. Như vậy, nông dân chính là người sau cùng phải trả khoản thuế trên. Thực tế, cơ hội chuyển thuế sang cho các nhà cung ứng là không cao.

Nếu việc dịch chuyển thuế về phía trước lẫn về phía sau đều bất thành, các nhà sản xuất bị đánh thuế có thể xoay sang giảm các chi phí sản xuất khác, chẳng hạn tiền lương. Khi đó đối tượng chịu thuế sau cùng chính là người lao động làm việc trong ngành này. Sau nữa, nếu các công ty không thể tăng doanh thu hoặc cắt giảm chi phí, thì lợi nhuận của họ sẽ bị tổn hại. Lúc này, chính những cổ đông của công ty sẽ chịu khoản thuế trên.

Khó có thể xác định được ai sẽ gánh lấy chi phí của việc chuyển thuế trong một ngành. Tuy nhiên, phân tích này tỏ ra hữu ích vì nó giúp các nhà hoạch định chính sách cân nhắc vấn đề dịch chuyển thuế khi quyết định áp dụng một khoản thuế, và cũng mang lại cho họ một công cụ để đề ra những chính sách bổ sung nhằm giảm thiểu những kết quả không mong muốn của một khoản thuế mới.

Thuế đối với doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là loại hình công ty được giao những nhiệm vụ cụ thể mà khu vực tư nhân không thể hoặc không muốn làm.

DNNN có những lợi thế hơn khu vực tư nhân, ví dụ như được nhà nước bảo lãnh tín dụng ngầm hay công khai, hoặc đạt được lợi thế về quy mô. Do vậy khi chính phủ trao cho DNNN một số nguồn lực của xã hội, các nguồn lực đó đúng ra phải sinh lợi cao hơn hay ít nhất ngang bằng với sinh lợi của khu vực tư nhân.

Tuy nhiên, chính phủ thường khó mà thu được lợi nhuận thỏa đáng từ DNNN. Do nhà nước là cổ đông duy nhất nên DNNN có khuynh hướng không tạo ra lợi nhuận chịu thuế và không chia cổ tức. Đồng thời nếu DNNN thiếu hụt vốn thì chính phủ phải dùng ngân sách của mình để bù đắp. Thông thường, chính phủ khuyến khích DNNN đi vay từ các thị trường vốn để giảm gánh nặng ngân sách đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp này phải hoạt động tốt hơn để có thể trả lãi vay.

Việc đi vay trên thị trường vốn tạo ra một tình huống khó xử vì nợ nhiều thì lãi vay phải trả cũng nhiều và làm giảm thu nhập chịu thuế. Nguyên tắc “xử lý vốn mỏng” đã được đề xuất nhằm khắc phục vấn đề này. Theo đó, DNNN không bị giới hạn mức vay nợ, nhưng việc khấu trừ lãi vay ra khỏi thu nhập chịu thuế sẽ bị hạn chế hoặc tùy thuộc vào kết quả hoạt động. Những doanh nghiệp có lợi nhuận cao hơn được hưởng mức khấu trừ cao hơn để được giảm thuế. Ngược lại, các doanh nghiệp có lãi thấp phải chịu một hình thức phạt thông qua một mức khấu trừ thấp hơn để phải chịu thuế cao hơn.

Sau cùng, DNNN và doanh nghiệp tư nhân cần phải có chung một cơ chế thuế cũng như các đối xử khác. Những đặc quyền và ưu đãi dành cho DNNN góp phần tạo ra sân chơi không bình đẳng cho các doanh nghiệp khác. Nguy hiểm hơn là rủi ro một số doanh nghiệp tư nhân có thể hợp tác với DNNN nhằm ăn theo những khoản trợ cấp của nhà nước

Tính công bằng và hiệu quả của hệ thống thuế

Một mục tiêu của đánh thuế là tạo công bằng xã hội cao hơn thông qua tái phân bổ của cải. Tuy nhiên, để hạn chế sự biến dạng hành vi kinh tế ở mức thấp nhất, việc đánh thuế phải hiệu quả.

Các nhà hoạch định chính sách thường nói đến hai loại công bằng: một là “theo chiều ngang”, theo đó người có cùng thu nhập phải chịu thuế như nhau; hai là “theo chiều dọc”, thu nhập không bằng nhau sẽ phải chịu thuế khác nhau.

Thuế có thể gây tổn thất về hiệu quả. Giả sử một kỹ sư làm ngoài giờ được 100.000 đồng một giờ; nếu đánh giá thời gian rảnh rỗi của mình là 60.000 đồng/giờ thì cô ta sẽ chọn làm thêm. Nếu thuế suất biên 50% được áp dụng vào khoản thu nhập này, thì cô kỹ sư chỉ còn lại 50.000 đồng cho một giờ làm thêm nên cô ta sẽ chọn sự nghỉ ngơi. Chênh lệch độ thỏa dụng giữa hai lựa chọn chính là 40.000 đồng mất mát về hiệu quả.

Thuế đồng nhất là cách duy nhất loại bỏ tổn thất hiệu quả. Khi một người đã đóng khoản thuế này, dù anh ta có làm việc và kiếm thêm tiền thì thuế suất biên thu nhập vẫn là zero.

Tranh luận gần đây về đề xuất cắt giảm thuế của chính quyền Bush nhằm giảm bớt tính lũy tiến của thuế thu nhập ở Mỹ là một điển hình về mâu thuẫn giữa công bằng và hiệu quả. Phe ủng hộ cho rằng đề xuất này sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi cho những người có tay nghề cao và các nhà tạo lập doanh nghiệp. Còn theo phe chống đối thì giảm thuế sẽ làm cho xã hội thêm bất công bằng.

Các nhà kinh tế nhìn nhận vấn đề vượt khỏi phạm vi tác động trực tiếp lên đối tượng trả thuế. Trong khi một người bị mất thỏa dụng do phải đóng thuế, thì cô ta lại hưởng thêm thỏa dụng từ những dịch vụ công cộng được tạo ra từ tiền thuế thu được. Thay đổi độ thỏa dụng của cô ta được gọi là phần được hay mất ròng. Về lý thuyết, hệ thống thuế thu nhập là tối ưu khi độ thỏa dụng mất đi của người giàu bằng với độ thỏa dụng tăng thêm của người nghèo.

Thuế thu nhập lũy tiến và lũy thoái

Hầu hết mọi người cho rằng người có thu nhập cao phải đóng thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp, nhưng phải nhiều hơn bao nhiêu?

Trong hệ thống thuế lũy thoái, thuế suất trung bình của người thu nhập cao sẽ nhỏ hơn so với người thu nhập thấp. Ví dụ một người có thu nhập 4 triệu và đóng thuế 2 triệu; một người khác có thu nhập 20 triệu và đóng thuế 4 triệu.

Mặc dù người giàu nộp nhiều hơn, thuế suất bình quân của anh ta chỉ là 20% so với 50% của người kia. Một trường hợp cực đoan của thuế lũy thoái là thuế đồng nhất, khi cả mọi người đóng một số tiền như nhau.

Thuế được gọi là đồng tỉ lệ nếu một thuế suất duy nhất được áp dụng cho mọi mức thu nhập. Giả định thuế suất là 25%, hai người trong ví dụ trên sẽ đóng thuế lần lượt là 1 triệu và 5 triệu. Như vậy trước hay sau thuế thì tỉ lệ thu nhập giữa họ vẫn không đổi.

Thuế đồng nhất và thuế đồng tỉ lệ bị xem là không công bằng. Do vậy, thuế thu nhập cá nhân thường được thiết kế theo dạng lũy tiến, trong đó thuế suất biên tăng lên theo thu nhập nhằm đảm bảo thuế suất trung bình của người giàu phải cao hơn của người nghèo. Thực tế, một biểu thuế thường có nhiều thuế suất bậc thang ứng với các mức thu nhập. Ở Việt Nam có 5 thuế suất tăng dần từ 10% đến 50% áp dụng cho các mức thu nhập từ 3 triệu đồng trở lên (không kể mức thuế bổ sung 30% áp dụng cho phần thu nhập sau thuế vượt quá 15 triệu đồng).

Một dạng thuế lũy tiến cực đoan có thể san bằng thu nhập sau thuế. Nếu người nghèo trong ví dụ trên nộp 1 triệu thì người giàu phải nộp 17 triệu để cả hai đều còn lại đúng 3 triệu sau thuế. Tuy nhiên, thuế như vậy sẽ làm những người có tay nghề mất đi nỗ lực làm việc.

Xác định mức lũy tiến hợp lý không phải là công việc đơn giản. Bài tới sẽ xem xét vấn đề này dưới góc độ thỏa dụng của thu nhập.

So sánh thuế trực thu và gián thu

Thông thường trong giai đoạn đầu tăng trưởng kinh tế, ngân sách của các nước dựa nhiều vào thuế gián thu hay còn gọi là thuế tiêu dùng (thuế bán lẻ, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế xuất nhập khẩu v.v…). Lý do chính là dễ thu các loại thuế này tại cửa hàng hay tại biên giới quốc gia. Thuế trực thu hay còn gọi là thuế thu nhập (cá nhân và doanh nghiệp v.v…) không phải là nguồn thu lớn cho ngân sách vì thu nhập theo đầu người ở các nước này còn thấp. Khi đó doanh nghiệp là nguồn thuế thu nhập chính.

Việt Nam là một ví dụ cụ thể. Thuế gián thu chiếm đa phần trong cơ cấu thuế, gần 60% tổng thu năm 2000. Trong cùng năm, thuế thu nhập doanh nghiệp mang lại số thu cao hơn 11 lần so với thuế thu nhập cá nhân.

Tuy nhiên, vấn đề là thuế gián thu mang bản chất lũy thoái. Nếu một người kiếm được 50 đô-la một tuần và chi tiêu hết 45 đô-la, thuế suất bán lẻ 10% sẽ tạo một gánh nặng là 4,9 đô-la hay 9% thu nhập. Người khác thu nhập 200 đô-la một tuần và chi tiêu 150 đô-la (giả định người có thu nhập cao không nhất thiết phải chi cùng tỉ trọng thu nhập cho hàng thiết yếu), thuế tương đương 15 đô-la hay 7,5% thu nhập. Ngược lại, có thể dễ dàng làm cho thuế trực thu mang tính lũy tiến bằng cách áp dụng nhiều thuế suất tùy theo mức thu nhập.

Theo thời gian, tỉ trọng thuế gián thu trong tổng thu ngân sách có khuynh hướng giảm. Đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu dần mất đi sự quan trọng do mở cửa nền kinh tế và những hiệp định thương mại giữa các nước. Đồng thời, khi đất nước phát triển, thu nhập theo đầu người và số lượng doanh nghiệp cùng tăng lên, tỉ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp và thu nhập cá nhân trong tổng thu ngân sách cũng tăng. Như có thể thấy tại Việt Nam, tỉ trọng thuế trực thu trong tổng số thu thuế tăng từ 31% năm 1996 lên 40% năm 2000.

Nguồn: Tổng hợp trên Thời báo Kinh tế Sài gòn điện tử, http://www.thesaigontimes.vn/xahoi/thuongthuckinhte/

(*) Tiêu đề do Luattaichinh đặt

Advertisements