PHAN HUY CHÚ

Luattaichinh: Lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú được xem là Bách khoa toàn thư thời kỳ trung đại ở Việt Nam. Những thông tin và lời bàn của ông cho thấy, nhà nước phong kiến Việt Nam cũng có những quan niệm khá hiện đại về thuế và quản lý thuế khá chặt chẽ, cùng thời điểm Châu Âu bắt đầu bình minh của khoa học kinh tế. Tuy nhiên, việc kỳ thị đối với hoạt động thương mại là một hạn chế lớn trong quản lý kinh tế thời kỳ này.

Sau đây là phần I của phần Quốc dụng chí (Quyển XXXI).

———————————————————

ĐÁNH THUẾ CHUYÊN LỢI

THUẾ CHUYÊN LỢI VỀ QUẾ

Lê Dụ Tông, năm Vĩnh thịnh thứ 11[1715], thả lệnh cấm về vỏ quế, cho nhân dân được thông hành buôn bán. Cho phép nhân dân được thông hành buôn bán. Cho phép các nơi có thổ sản được bóc nộp, cho người thuê bóc một nửa, nộp vào nhà nước một nửa. Người thuê bóc được 500 cân thì cho 50 quan tiền mà trưng mua số quế.

Năm Bảo – thái thứ 1 [1720], Nhân vương [Trịnh Cương] cùng với tể thần bấy giờ là bọn Nguyễn Công Kháng bàn rằng cây quế là sản vật của nhà nước mà lệ cũ cho nhân dân buôn bán riêng với nhau, mối lợi về bọn lái buôn, việc chi dùng của nhà nước không được lợi gì, bèn định thi hành phép thuế chuyên lợi về quế, sai quan trông nom công việc. Phàm có nhân dân buôn bán tự nguyện đi bóc quế thì phải làm tờ khai xin phép và cung tiến lễ mừng. Quan giám đương hầu chỉ cấp bằng cho làm quế hộ. Các quế hộ vào rừng lấy quế, trước hết phải đến quan trình bằng và nộp lễ mừng 10 quan tiền quý. Quan hỏi người ấy định đi lấy quế ở địa phương nào, rồi làm giấy cho phép điền rõ số đi lấy là bao nhiêu cân, lại sai người đi trước đến báo cho xã dân ấy biết, cho sao bản giấy phép giữ lấy làm bằng để tiện xét nghiệm, rồi quế hộ mới được đi lấy quế. Số quế lấy được bao nhiêu cân, lại báo cho xã dân ấy ghi chép làm bằng, đem đựng vào sọt, mỗi sọt nặng 100 cân, đem đến trình quan bản trấn cân lại đúng số rồi cấp cho bài chỉ rõ ràng. Khi đi đường qua các quan tuần y, cứ chiếu bài chỉ kiểm tra lại thấy đúng số thì cấp giấy cho đi. Khi đến kinh đô, đem bài chỉ của trấn quan và giấy của tuần ty trình quan giám đương chiếu số kiểm lại đúng rồi bổ thuế. Cứ mỗi 100 cân định giá là 100 quan tiền quý thì đánh thuế 5 phần 10, rồi cho quế hộ đem về cất giữ. Khi nào có thuyền buôn đến mua, thì làm tờ khải nộp quan giám đương đệ lên chúa xem và hầu chỉ, cho mua bao nhiêu cần thì tính theo thời giá chuẩn cho nộp thuế, cứ mỗi 100 cân quế định giá 100 quan tiền quý thì đánh 5 phần 10, tức 1 quan tiền quý thì nộp 5 tiền. Quế hộ đem số quế phần của mình cất giữ tính thuế mà bán ra. Khách buôn khi trở về thì trấn quan sai binh lính đưa ra khỏi địa hạt, cứ mỗi lần phải nộp lộ phí 10 quan tiền quý.

Hiến-tông, năm Cảnh-hưng thứ 19 [1758], sai trấn quan Nghệ-an đánh thuế quế. Có chỉ dụ cho trấn thủ Bùi Thế Đạt rằng: "Thuế quế ở bản xứ gần đây đã có định ngạch, chuyên giao cho trấn quan đánh thuế để nộp, chính là để cho công việc tuần phòng và lấy quế mua quế theo về một mối. Vả lại uỷ cho quan ở nơi thổ sản thu nộp thuế công, cũng là không có khó gì. Chỉ vì những người phụng hành không chịu hết sức, đến nỗi mối lợi về tay con buôn và thuế của nhà nước hao hụt. Những người làm quan có lòng với nước, tự mình phải có phương pháp xử lý. Nay nên sai người đi dò thám các đường nhỏ trong hạt, thấy có trang sách nào sản quế thì nên để ý thu phục, đắn đo dân tình và vật giá, cao hạ buông thắt, cốt sao cho vừa phải để nhân dân vui lòng tìm kiếm, chớ nên so kè cặn kẽ quá mà gây ra cái tệ khiến người ta phải bỏ nghề để tránh thuế. Chớ có sơ xuất việc dò la mà để cho người ta mang trộm lậu thuế. Phàm phương pháp đánh thuế giao cho khanh châm chước trù tính cách tiện mà thi hành, cho địa sản không sót, thuế công thường đủ, để xứng với ý ân cần của triều đình uỷ nhiệm mong được thành công.

Xét: Mối lợi vỏ quế giá trị rất lớn. Bọn khách thương lấy riêng để bán, phần nhiều trở nên giàu to. Nếu không đánh thuế thì mối lợi về sản vật núi rừng toàn để làm giàu cho bọn phú thương khách hộ, mà người trên không nắm được quyền thu phát gì vào đấy cả, rất không phải là đạo đúng đắn trị nước. Phép đánh thuế quế đời Bảo-thái rất là thích đáng mà nên thi hành. Quế của nước ta chỉ có quế Thanh-hoá là tốt nhất. Ngoài ra như quế Nghệ-an cũng vào hạng khá. Nhưng từ đời Bảo-thái đặt phép về sau, thì về công việc đánh thuế những người thừa hành không chịu để ý lùng xét cẩn thận, để cho những nơi sản quế thường bị bọn con buôn lấy trộm, thuế của nhà nước thiếu hụt thực là do đấy. Cho nên khoảng giữa đời Cảnh-hưng lại định lệnh đánh thuế quế, mà phương pháp quản lý thì giao cả cho trấn quan, vì rằng công việc đắn đo buông thắt phải do quan bản hạt mới dễ dàng ra sức.

THUẾ CHUYÊN LỢI VỀ MUỐI

Lê Dụ-tông, năm Bảo-thái thứ 1 [1720](1), bắt đầu thi hành phép thuế chuyên lợi về muối. Dụ rằng: “Từ xưa kinh lý việc chi dùng của nhà nước, những của trên rừng dưới biển không có thứ gì là bỏ sót. Việc dùng thẻ bài nấu muối, mối lợi rất lớn. Nay đương lúc nhà nước nhàn rỗi, chính là lúc nên kê cứu phép đời xưa mà đặt thể lệ để cho nguồn lợi lớn về biển đầm không về hết tay bọn lái buôn mà có thể giúp đỡ cho dân nghèo, để cho sự chi dùng của nhà nước không chuyên lấy ở thuế tô mà còn lấy được ở ngoài thuế chính, như thế mới có thể dồi dào quốc kế và giúp lợi cho nhà nông”. Bèn định phép thuế muối, đặt quan giám đương để trông nom. Phàm dân miền biển muốn nấu muối thì cho làm táo đinh (2), người buôn muốn buôn bán muối thì cho làm diêm hộ (3), đều được miễn trừ phu dịch. Đánh thuế thì đường gần xa giá cao thấp mà lượng bổ khác nhau, ở các nội trấn thì cứ 100 cân nộp thuế 1 tiền quý, ở các ngoại trấn thì cứ 100 cân nộp thuế 3 tiền quý. Tính số muối nấu được chia 10 phần lấy 2 phần làm muối công. Các diêm hộ người nào có bài chỉ của quan giám đương cấp cho mới được đến trường muối, trước hết phải mua muối công, rồi mới được mua muối của táo đinh, cấp đủ số trong bài chỉ thì thôi. Mua bán đều phải có giấy giao muối làm bằng.

Vĩnh-khánh đế năm thứ 4 [1732], bãi phép thuế chuyên lợi về muối. Trước kia tể tướng Nguyễn Công Kháng lập pháp là muốn bao hết mối lợi trong nước. Diêm hộ nhận bài chỉ đều phải có lễ to, mà giá muối công lại cao, cho nên họ phải bán giá cao cho người bán lẻ ở chợ để kéo lại. Nhưng người bán lẻ khổ về bọn diêm hộ bóc lột lại phải bán tăng giá lên, có khi một đấu muối giá đến 1 tiền. Vì thế sự ản của dân ngày càng khốn. Chúa [Trịnh Giang] biết rõ tệ ấy, đến đây mới sai bỏ phép thuế chuyên lợi, cho dân miền biển được nấu lấy muối và buôn bán tự do. Dân cho là tiện.

Xét: Muối là sản vật tự nhiên của trời đất, nhà nước nhân lợi ấy để giúp việc chi dùng thì cũng là việc nên làm. Nhưng đặt phép cấm cũng nên châm chước phải chăng, Cho dân tự làm mà lượng đánh thuế, thì chính sự công bằng mà tệ hại không có nữa, tự khắc không có cái tệ khổ cho dân tốn cho nước. Cố nhiên là không nên bỏ hết mà không đánh thuế. Phép đánh thuế của đời Bảo-thái lúc mới bắt đầu cũng chưa đến nỗi khắc nghiệt quá. Chỉ vì quan giám đương không được tốt nên đến nỗi muối công bán ra mỗi ngày một cao, nhân dân buôn bán mới bị khốn khổ, thế là người làm ra tệ chứ không phải lỗi ở phép. Nếu biết châm chước thay đổi để cho dưới không đến nỗi hại dân mà trên được lợi cho nước, thì thuế muối vẫn có thể làm được. Thuận vương [Trịnh Giang] cải cách, thả hết cấm, lại không đánh thuế, thế là buông thả nghề ngọn(1), bỏ mất mối lợi, mà của cải rừng biển không thể làm giàu cho nước nữa. Thế có phải là cái phép hay để quản lý tài dụng đâu!

Hiển-tông, năm Cảnh hưng thứ 20 [1759], đặt quan Diêm-đạo giám đốc(2) ở các xứ Tuyên [quang] Hưng[hóa]. Cho tùy địa điểm đặt trường sở để cho lái buôn tiện tụ tập đem muối đi bán các nơi. Đánh thuế vẫn chiếu lệ cũ, cứ 100 cân muối hột làm một sọt thì đánh thuế 3 tiền quý. Lái buôn muối đi bán ở nơi nào cứ đến trường muối mà xin cấp giấy làm bằng. Ai lĩnh muối công đi bán thì được tha thuế, mang muối tư thì phải nộp thuế theo lệ. Ai lén bán trộm, có người tố giác, thì bị tịch thu. Những người buôn bán muối ở mạn ngược thì tuần ty ở hai sứ đánh thuế cứ 40 phần lấy 1 phần, tính theo lệ ấy mà thu. Hạn thuyền lớn dài từ 30 thước đến 50 thước chở đầy muối, đáng giá 60 quan tiền quý, thì đánh thuế 1 quan 5 tiến quý; hạn thuyền trung dài từ 25 thước đến 30 thước chở đầy muối, đáng giá 50 quan tiền quý, thì đánh thuế 1 quan 2 tiền 30 đồng quý; hạn thuyền nhỏ dài từ 20 đến 25 thước, đáng giá 30 quan tiền quý, thì đánh thuế 1 quan tiền quý. Các tuần ty chiếu số muối trong giấy bằng của quan giám đốc cấp, theo mức chuẩn định mà đánh thuế. Quan giám đốc phải tính số thuế thu được trong 1 năm là bao nhiêu, đến cuối năm làm tờ khải để nộp, giao cho quan Hộ phiên hàng năm chiếu thu (một kỳ thu vào tháng 6,một kỳ thu vào tháng 12). Từ trấn Sơn Tây trở xuống thì người buôn bán muối được thông hành như cũ.

Xét: Từ đời Vĩnh-khánh về sau, bỏ lệ cấm muối, người dân bán muối không phải xin phép ở quan. Đến đây mới phục lại phép đời Bảo-thái mà tùy địa điểm đặt trường sở. chiếu theo thuyền mà định thuế. Đó cũng là biết rằng việc buôn muối không thể không đánh thuế, mà mối địa lợi không nên bỏ sót vậy. Phép đặt cũng không đến nỗi hà khắc lắm mà quan giám đốc thì chỉ đặt ở hai xứ Tuyên, Hưng còn Sơn-tây trở xuống thì cho buôn bán thông hành, cho nên các lái buôn muối đi lại không khổ về thuế, mà việc buôn bán lưu thông, nhân dân không phải lo về giá cao để bù lại. Đó là phép đúng mức nên làm vậy.

(Còn tiếp phần 2…)

Nguồn: Phan Huy Chú, Lịch triều Hiến chương loại chí, Nxb.Giáo dục, 1992


(1) V.S.T.G.C.M. quyển XXXV, tờ 42a chép vào năm thứ 2 (1721)

(2) Người nấu muối

(3) Hộ bán muối

1 Làm ruộng là nghề gốc, làm công thương là nghề ngọn

2 Quan trông nom đốc suất việc buôn bán muối

Advertisements