MỞ ĐẦU

Trong những năm qua việc thực hiện nhiệm của các cơ quan nhà nước cơ bản hoàn thành với mục tiêu đề ra, đảm bảo tuân thủ đường lối của Đảng và chính sách phát triển đất nước. Trong những nhiệm vụ đã thực hiện, phải kể tới hoạt động chi ngân sách của các cơ quan ở trung ương và địa phương nhằm hỗ trợ cho công việc của mình. Để hiểu rõ hơn chế độ chi ngân sách của nước ta cũng như hoạt động chi ngân sách về mua sắm tài sản của các cơ quan nhà nước trong thực tiễn hiện nay. Nhóm em xin lựa chọn đề số 01: “Tìm hiểu nội dung của chế độ chi mua sắm tài sản, đánh giá thực tiễn áp dụng từ  năm 2015 đến nay và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chi ngân sách cho lĩnh vực mua sắm tài sản công ở Việt Nam” phân tích để làm rõ vấn đề trên.

 

NỘI DUNG

I. KHÁI QUÁT CHUNG

1. Chế độ chi ngân sách nhà nước

  1. Khái niệm

            Có rất nhiều ý kiến được đưa ra về khái niệm thế nào là chi ngân sách nhà nước, có thể kể đến như:

– Chi ngân sách nhà nước là hoạt động nhằm sử dụng quỹ Ngân sách nhà nước, là quá trình phân phối nguồn tiền trong quỹ ngân sách nhà nước vào những mục đích khác nhau.

– Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.

– Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Do đó, Chi ngân sách nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước.[1]

Từ những khái niệm trên, có thể thấy, chi ngân sách nhà nước bao gồm những hoạt động sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước. Vậy ta có thể tổng kết lại bằng một khái niệm khái quát nhất, đó là:

Chi ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định trên cơ sở dự toán chi ngân sách nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước. Đọc tiếp »

ThS. NGUYỄN NGỌC YẾN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Rủi ro thanh khoản là một trong những rủi ro đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng, bên cạnh những loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động… Xuất phát từ tính liên kết hệ thống một cách chặt chẽ, một ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản sẽ ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của các ngân hàng khác, và rộng hơn là đe dọa đến sự an toàn trong hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Do đó, quản trị rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại (NHTM) luôn là vấn đề được quan tâm đặc biệt bởi các cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động quản lý, giám sát. Những quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng và biện pháp hỗ trợ, bảo đảm thực thi những quy định này đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật từ khá sớm và ngày càng được hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam.

1. Quy định của pháp luật về quản lý rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Có thể nói, những quy định về quản lý rủi ro thanh khoản của các NHTM là nhóm quy định thường xuyên được cập nhật, thay đổi trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam. Văn bản hiện hành điều chỉnh đối với hoạt động quản lý rủi ro thanh khoản của NHTM có thể kể tới: Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Thông tư số 36/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 20/11/2014 quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thông tư số 06/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 25/05/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2014/TT-NHNN. Những quy định tại các văn bản này mặc dù còn có những khoảng cách nhất định so với thông lệ quốc tế, song đã phần nào đáp ứng được yêu cầu giám sát, quản lý của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và mục tiêu an toàn hoạt động của hệ thống NHTM. Một cách khái quát, pháp luật về quản lý rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam bao gồm những nội dung cơ bản như sau:

Đọc tiếp »

TS. ĐỖ HOÀI LINH VÀ ThS. KHÚC THẾ ANH

TRƯỜNG ĐH KINH TẾ QUỐC DÂN

Với sự phát triển của khoa học công nghệ, thương mại điện tử là một xu hướng tất yếu với các doanh nghiệp, trong đó có ngành Ngân hàng. Để tiếp cận và cung cấp dịch vụ theo yêu cầu ngày càng cao của khách hàng, các công cụ marketing cần phải thay đổi để tạo được tương tác tốt nhất. Digtital marketing – một xu hướng phát triển mới trong ngành Ngân hàng thế giới, những kinh nghiệm và bài học cho các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ được nghiên cứu trong bài viết.

1. Giới thiệu

Sự phát triển công nghệ thông tin với xu hướng bùng nổ của mạng xã hội trong đời sống dẫn đến các hoạt động marketing phải thay đổi theo hướng thích nghi với cuộc sống của một bộ phận dân cư, nhất là thế hệ đang trong giai đoạn trưởng thành thế hệ Y (Young generation – được sinh trong giai đoạn 1977 – 1994) và thế hệ trẻ (Z generation được sinh ra từ những năm 1995 trở đi); Phạm Hồng Hoa (2013) cho rằng, tiếp cận khách hàng qua các kênh trực tuyến như điện thoại di động, email, mạng xã hội… đang dần trở thành xu hướng phổ biến. Từ gần 10 năm trở lại đây, các giao dịch thông qua hệ thống máy tính điện tử trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng được đẩy mạnh, giúp ngân hàng và khách hàng tiết kiệm thời gian cũng như chi phí giao dịch kết hợp với lộ trình mở cửa nền kinh tế, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đang trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Những áp lực mà các ngân hàng trong nước phải đối mặt là việc quảng bá hình ảnh đến khách hàng cũng như lựa chọn thị trường mục tiêu đang dần bị lép vế trước những ngân hàng quốc tế như HSBC, CitiBank, ANZ… Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là các ngân hàng trong nước chưa chú trọng phát triển digital marketing – một trong những phương pháp tiếp thị trực tiếp đến người tiêu dùng thông qua những tiến bộ của công nghệ thông tin.

Khái niệm digital marketing và digital marketing trong lĩnh vực ngân hàng, xu hướng phát triển chung của tiếp thị số, từ đó bài viết đưa ra một số hàm ý đối với các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

2. Tổng quan nghiên cứu về digital marketing trong ngân hàng

2.1. Khái quát về digital marketing

Đọc tiếp »

ThS. NGUYỄN QUANG HƯƠNG TRÀ
   CỤC ĐĂNG KÝ QUỐC GIA GIAO DỊCH BẢO ĐẢM, BỘ TƯ PHÁP

          Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2017 có nhiều nội dung đổi mới, trong đó có phần nội dung về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Nhìn một cách tổng thể, nội dung phần bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã tiệm cận tốt hơn với thông lệ quốc tế và cơ bản giải quyết được những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng bảo đảm. Có thể nói, những tiếp cận mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có sự ảnh hưởng và tác động mang tính chất chi phối đến cơ chế điều chỉnh pháp luật và nhận thức pháp luật trong lĩnh vực giao dịch bảo đảm và đăng ký biện pháp bảo đảm.
          1. Bộ luật Dân sự năm 2015 lần đầu tiên ghi nhận và thể hiện được một số giá trị cốt lõi của lý thuyết vật quyền khi điều chỉnh quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong sự hài hòa hóa với lý thuyết trái quyền
          Bộ luật Dân sự năm 2005 tiếp cận biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dựa trên nền tảng của lý thuyết trái quyền. Thực tiễn cho thấy, cách tiếp cận quan hệ bảo đảm thuần túy theo lý thuyết trái quyền chưa thể giải quyết được triệt để những vướng mắc phát sinh trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm.
          Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, thì giao dịch bảo đảm (là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm được quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật này)
[1]chính là căn cứ để bên nhận bảo đảm thực thi quyền xử lý tài sản bảo đảm (Điều 336, Điều 355, Điều 721 Bộ luật Dân sự năm 2005). Đây chính là yếu tố trái quyền của quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Cách tiếp cận này luận giải được căn cứ (cơ sở) để bên nhận bảo đảm có quyền và thực thi quyền xử lý đối với tài sản bảo đảm đó chính là hợp đồng bảo đảm. Vì tài sản bảo đảm vốn dĩ không thuộc quyền sở hữu của bên nhận bảo đảm, do đó, việc thực thi quyền xử lý tài sản bảo đảm phải dựa trên thỏa thuận của các bên trong hợp đồng bảo đảm đã giao kết.[2]
          Tuy nhiên, điểm yếu của cách tiếp cận thuần túy trái quyền này là ở chỗ, quyền xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm chỉ được thực hiện thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm theo hợp đồng bảo đảm đã giao kết. Hay nói cách, quyền xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm được thực thi trong sự phụ thuộc vào ý chí của bên bảo đảm (chủ sở hữu tài sản). Bên nhận bảo đảm không có quyền “trực tiếp” mang tính chất “chi phối” và “ngay tức khắc” đối với tài sản bảo đảm. Trường hợp bên bảo đảm không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết thì bên nhận bảo đảm chỉ có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết (Điều 721 Bộ luật Dân sự năm 2005).

Đọc tiếp »

THÔNG CÁO BÁO CHÍ

Toà Trọng tài Biển Đông

(Cộng hoà Philippines và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa)

La Hay, ngày 12 tháng 7 năm 2016

Toà Trọng tài ban hành phán quyết

Phán quyết được Toà Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (sau đây gọi là "Công ước") trong vụ kiện giữa Cộng hoà Philippines và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (sau đây gọi là ‘Philippines’ và ‘Trung Quốc’) hoàn toàn nhất trí thông qua và ban hành.

Vụ kiện trọng tài này liên quan đến vai trò của các quyền lịch sử và nguồn xác định quyền hưởng các vùng biển tại Biển Đông, quy chế của một số cấu trúc cụ thể và các vùng biển của các cấu trúc này và tính hợp pháp của các hành vi của Trung Quốc mà Philippines cho là vi phạm Công ước.

Phù hợp các giới hạn của cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của Công ước, Toà Trọng tài đã nhấn mạnh Toà không phán quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ đất liền và không tiến hành phân định bất kỳ một ranh giới trên biển nào giữa các bên của vụ kiện.

Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố ‘nước này không chấp nhận cũng như không tham gia vào tiến trình trọng tài do Philippines đơn phương khởi xướng’. Tuy nhiên, Phụ lục VII quy định rằng "việc vắng mặt của một bên hoặc việc một bên không thực hiện việc biện hộ không tạo nên bất kỳ rào cản nào cho tiến trình tố tụng".

Phụ lục VII cũng quy định rằng trong trường hợp một bên không tham gia vào tiến trình tố tụng, Toà Trọng tài "phải chắc chắn rằng Toà có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp cũng như nội dung kiện phải được chứng minh đầy đủ cả về mặt pháp lý và thực tế".

Theo đó, trong suốt quá trình tố tụng, Toà Trọng tài đã thực hiện các biện pháp cần thiết để kiểm tra tính xác thực của các đệ trình do Philippines đưa ra, bao gồm cả việc yêu cầu Philippines cung cấp thêm các lập luận, đặt ra các câu hỏi cho Philippines trước và trong hai phiên tranh tụng, chỉ định các chuyên gia độc lập có nhiệm vụ báo cáo Toà về các vấn đề kỹ thuật và thu thập các bằng chứng về mặt lịch sử liên quan đến các cấu trúc tại Biển Đông và chuyển các bằng chứng này để các bên bình luận.

Trung Quốc, thông qua Bản Tuyên bố lập trường ban hành tháng 12/2014 cũng như các các tuyên bố chính thức khác, cũng tuyên bố rõ ràng rằng theo quan điểm của nước này, Toà Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ kiện. Điều 288 của Công ước quy định "Trong trường hợp xảy ra tranh chấp về việc liệu một toà hay một cơ quan trọng tài có hay không có thẩm quyền, vấn đề này sẽ do chính toà hay cơ quan trọng tài đó quyết định".

Theo đó, Toà Trọng tài đã tổ chức một phiên tranh tụng về thẩm quyền và khả năng thụ lý vụ việc vào tháng 7/2015 và ban hành một Phán quyết về thẩm quyền và khả năng thụ lý vụ việc vào ngày 29/10/2015, quyết định về một số vấn đề liên quan đến thẩm quyền và sẽ để lại một số vấn đề để tiếp tục xem xét. Toà Trọng tài sau đó tiếp tục triệu tập và tổ chức một phiên tranh tụng về các vấn đề nội dung của vụ kiện từ ngày 24 đến 30/11/2015.

Phán quyết được ban hành hôm nay giải quyết các vấn đề về thẩm quyền mà Toà chưa quyết định trong Phán quyết về thẩm quyền và khả năng thụ lý vụ việc cũng như giải quyết các vấn đề về nội dung thực chất đối với các yêu cầu của Philippines nằm trong thẩm quyền của Toà. Theo quy định tại Điều 296 của Công ước và Điều 11 của Phụ lục VII Phán quyết này có tính ràng buộc pháp lý và có tính chung thẩm.

Quyền lịch sử và "đường 9 đoạn"

Đọc tiếp »

PGS,TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO

ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

Với sự kiện Hồ sơ Panama, các cơ quan thuế phải giám sát chặt chẽ hơn các doanh nghiệp đến từ các “thiên đường thuế”, đồng thời cần có những thông tin minh bạch về những tổ chức, cá nhân người Việt liên quan đến Hồ sơ này.

Vì sao Panama được gọi là “thiên đường thuế”

“Thiên đường thuế” là khái niệm được dịch thoát nghĩa từ thuật ngữ “tax haven” (nơi trú ẩn thuế) để chỉ các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ mà chính phủ tại đó áp dụng một mức thuế suất rất thấp đối với các hoạt động kinh doanh nói chung hoặc thậm chí là được miễn và không cần khai báo. Bên cạnh đó, tại các “thiên đường thuế”, thủ tục để đăng ký và thành lập một doanh nghiệp vô cùng đơn giản và nhanh chóng. Bất kỳ người nào cũng có thể thành lập được một công ty “5 không” tại các quốc gia này, đó là: không cần đặt chân đến đó, không cần công khai danh tính người chủ thực sự, không cần có trụ sở, không cần thuê mướn nhân viên, không cần chứng minh bất cứ điều gì về năng lực tài chính hoặc các yêu cầu về điều kiện  kỹ thuật. Chính vì lẽ đó mà các công ty được thành lập dưới dạng này tại đây thường bị gọi là công ty “ma” hoặc công ty “vỏ bọc” ở nước ngoài.

Đọc tiếp »

TS. VŨ THÀNH TỰ ANH

Chương trình Fulbright

(TBKTSG) – Trong 20 năm trở lại đây, chưa bao giờ bức tranh ngân sách xấu như bây giờ. Chi thường xuyên tăng nhanh bất thường, đặc biệt trong giai đoạn 2010-2012, khiến cho toàn bộ thu ngân sách hầu như chỉ vừa đủ cho chi thường xuyên.

Điều này cũng có nghĩa là để đầu tư phát triển buộc phải đi vay, và kết quả tất yếu là thâm hụt ngân sách triền miên, cả nợ chính phủ và nợ công đều đã vượt trần.

Thu ngân sách không đủ chi thường xuyên và trả nợ

Với sự năng nổ của ngành tài chính, tốc độ tăng thu ngân sách danh nghĩa của Việt Nam khá cao, trung bình 16% trong giai đoạn 2003-2015 (số liệu của 2014 và 2015 là ước tính), trong khi chỉ số giá tiêu dùng trung bình trong cùng giai đoạn chỉ là 8,8%. Thế nhưng ngay cả với tốc độ tăng nhanh như thế mà ngân sách hiện nay cũng không đủ để bù đắp chi thường xuyên và trả nợ.

Như minh họa trong hình 1, trong giai đoạn 2003-2011, chênh lệch giữa một bên là thu ngân sách (gồm cả viện trợ) và bên kia là chi thường xuyên và trả nợ (bao gồm cả nợ gốc và lãi) liên tục tăng. Thế nhưng trạng thái này thay đổi đột ngột từ năm 2012: từ mức thặng dư khá lớn là 112.000 tỉ đồng, thu ngân sách bị hụt so với chi thường xuyên và trả nợ tới 14.000 tỉ đồng. Xu hướng này vẫn đang tiếp tục và ước tính mức hụt của năm 2015 sẽ lên tới gần 100.000 tỉ đồng.

Khi thu ngân sách không đủ bù đắp cho chi thường xuyên và trả nợ thì hệ quả tất yếu là để có ngân sách cho đầu tư phát triển, Chính phủ buộc phải đi vay. Điều này có nghĩa là Chính phủ cứ đầu tư thêm đồng nào thì ngân sách sẽ thâm hụt thêm và nợ công sẽ tăng thêm đồng ấy.

Vì thế, Chính phủ hiện nay đang đứng trước tình thế tiến thoái lưỡng nan: Để duy trì tăng trưởng thì không thể không đầu tư, nhưng càng đầu tư thì ngân sách càng thâm hụt và nợ công càng tăng. Tình thế này càng trở nên nghiêm trọng khi ngân sách thâm hụt ở mức rất cao (trung bình 5,3%) trong một thời gian rất dài (từ năm 2000-2015), và khi mức nợ công (nếu tính đúng, tính đủ) đã vượt trần 65% từ lâu rồi. Nói tóm lại, tình trạng tài chính công hiện nay rất bấp bênh, vừa hết dư địa vừa chứa đựng nhiều bất trắc.

Chi thường xuyên tăng chóng mặt

Tại sao mức thiếu hụt của ngân sách so với chi thường xuyên và trả nợ ngày càng trở nên nghiêm trọng? Nguyên nhân chắc chắn không phải do thu ngân sách kém vì như đã chỉ ra ở trên, tốc độ tăng thu ngân sách của Việt Nam khá cao. Nguyên nhân cũng không hẳn đến từ việc trả nợ gốc và lãi, vì tốc độ tăng trả nợ danh nghĩa trong giai đoạn 2003-2015 là 15,8%, thấp hơn một chút so với tốc độ tăng thu ngân sách.
Nguyên nhân chính của tình trạng ngân sách hụt hơi là do chi thường xuyên danh nghĩa tăng với tốc độ chóng mặt, trung bình lên tới 19,6% trong giai đoạn 2003-2015. Với tốc độ tăng nhanh như thế này, tỷ lệ chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách (không kể chi trả lãi nợ vay) đã tăng từ 57,4% vào năm 2003 lên đến 80% theo ước tính lần đầu của ngân sách 2015 (hình 2).

Đáng lưu ý là cho đến năm 2011, tỷ lệ chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách vẫn chỉ là 52,3%, tức là thấp hơn đáng kể so với năm 2003. Thế nhưng chỉ trong vòng một năm, từ 2011-2012, tỷ lệ này tăng vọt lên 58,3% và vẫn tiếp tục tăng nhanh trong các năm sau đó.

Nếu nhìn vào hình 2, có thể có ý kiến cho rằng tỷ lệ chi thường xuyên thực ra tăng không quá cao, mà lý do có thể là các khoản chi chuyển nguồn đang được “tạm tính” trong thành phần của chi thường xuyên. Điều này hoàn toàn có thể, song cần nhớ hai điều. Thứ nhất, tỷ lệ chi thường xuyên giảm từ 57,4% năm 2003 xuống đáy 49,3% năm 2009, song tăng liên tục lên tới 60,4% năm 2013 (là năm gần nhất có quyết toán ngân sách). Thứ hai, tỷ lệ chi thường xuyên và chi đầu tư đã tăng liên tục từ mức 1,7 lần vào năm 2003 lên tới gần 3 lần vào năm 2013 và có thể lên tới 4 lần vào năm 2015.

Tựu trung lại, tất cả bằng chứng hiện nay đều cho thấy chi thường xuyên đang tăng rất nhanh trong năm năm trở lại đây, và đó là lý do chính khiến cho ngân sách hụt hơi và làm cho tình thế “tiến thoái lưỡng nan” của Chính phủ ngày càng trở nên trầm trọng.

Ngân sách quốc gia đang rơi vào tình cảnh khó khăn nghiêm trọng. Nghiêm trọng đến nỗi Bộ trưởng Bộ Tài chính phải thốt lên “mấy năm nay, điều hành ngân sách như kiểu đi trên dây. Năm 2016 tiếp tục đi trên dây. Cứ tình hình này kéo sang năm 2017, dây mà đứt thì chúng ta chết”, còn Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cảm thán rằng với vẻn vẹn 45.000 tỉ đồng ngân sách còn lại sau khi trừ đi chi thường xuyên thì “không biết phải làm gì, chưa nói đến phải trả nợ. Trả nợ xong gần như không có tiền để làm gì cả”.

Những cảnh báo như vậy là hết sức cần thiết, song cần thiết hơn là phải nhanh chóng thiết lập được kỷ luật ngân sách và cải thiện hiệu quả chi tiêu. Ngân sách quốc gia hiện nay đã hết dư địa, hoàn toàn không còn chỗ cho những dự án “ngàn tỉ” nằm đắp chiếu, hay cho hàng loạt tượng đài “vung tay quá trán,” và cho cả những dự án tiềm ẩn nhiều rủi ro như mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Nếu không chấm dứt tình trạng này, sự sụp đổ của nền tài khóa quốc gia là điều không thể tránh khỏi.

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài gòn online, 1/4/2016, 08:30 (GMT+7)

NGUYỄN NGỌC HIỆU

Đại học Indiana Bloomington, Hoa Kỳ

Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề rộng và rất phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, được các quốc gia luật hóa phù hợp với đặc thù về mô hình tổ chức bộ máy nhà nước, quan điểm quản lý cũng như điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể của mỗi nước. Bài viết không thống kê chi tiết và đầy đủ về ngân sách của từng bang, địa phương ở Hoa Kỳ, chỉ trình bày một số nguyên tắc, đặc trưng chung nhất của hệ thống ngân sách Hoa Kỳ (tập trung vào cấp liên bang và cấp bang), qua đó làm rõ sự khác biệt với hệ thống ngân sách của Việt Nam theo Luật NSNN (Luật 2015) mới được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua – góp phần cung cấp thêm tư liệu cho các nhà quản lý tham khảo.

1. Mô hình tổ chức ngân sách và niên độ ngân sách

a) Mô hình tổ chức NSNN

Hoa Kỳ là quốc gia rộng lớn, tổ chức nhà nước theo mô hình Liên bang và tổ chức theo mô hình ngân sách phân tán, các đơn vị thuộc Chính phủ có ngân sách được thực hiện xác lập tự chủ về ngân sách. Theo số liệu năm 2012 của Tổng cục Thống kê Hoa Kỳ, số lượng các đơn vị ngân sách của quốc gia này như sau:

– Ngân sách Liên bang;

– Ngân sách của 50 bang;

– Ngân sách cấp dưới bang: Có 90.056 đơn vị ngân sách, chia làm hai loại: thứ nhất là 38.910 đơn vị hành chính cấp quận, thành phố và thị trấn, được phân chia theo lãnh thổ (tương tự như các cấp ủy ban nhân dân ở Việt Nam); thứ hai là là 51.146 đơn vị thực hiện cung cấp một hoặc một số dịch vụ công theo nhiệm vụ do cấp có thẩm quyền thành lập giao (special-purpose governments)[1], được thành lập bởi hội đồng bang hoặc thành phố, có quyền đánh thuế để hình thành ngân sách riêng. Các tổ chức này có hội đồng và cơ quan điều hành riêng, điển hình là các trường công lập, các ban quản lý… Các đơn vị này có quy mô khác nhau, có thể nằm trong một đơn vị hành chính hoặc trải trên nhiều đơn vị hành chính (các đơn vị này về bản chất là các đơn vị sự nghiệp nhưng hoạt động tự chủ, độc lập về mặt tài chính, có ngân sách riêng, có quyền thu thuế, bên cạnh việc thu các khoản phí, lệ phí và có quyền đi vay).

Ngân sách của Liên bang và các bang về cơ bản là độc lập với nhau, mỗi cấp có quyền khai thác nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí, tài nguyên và các khoản thu khác trong phạm vi quản lý để thực hiện các nhiệm vụ chi riêng của mình. Cơ chế tổ chức ngân sách của các bang do Hiến pháp hoặc Luật Ngân sách của bang quy định, mỗi bang có những điểm đặc thù khác nhau. Vì vậy, hệ thống ngân sách khá đa dạng, từ hình thức tổ chức (các cơ quan, đơn vị và nhiệm vụ, quyền hạn trong hệ thống ngân sách), thời gian (năm ngân sách), chu trình ngân sách (các bước trong chu trình, các cơ quan tham gia, thời gian của các bước), các loại thuế (tên gọi, mức thuế, cơ sở thuế, miễn, giảm thuế) và các nhiệm vụ chi[2]. Tính độc lập về NSNN giữa các cấp ở Hoa Kỳ thể hiện ở việc tổ chức theo hướng ngân sách cấp nào có nguồn thu riêng trên địa bàn cấp đó quản lý, dùng để chi cho các nhiệm vụ chi trên địa bàn.

Khác với Hoa Kỳ, Việt Nam tổ chức nhà nước theo mô hình nhà nước thống nhất, có phân công, phân cấp và quy định mối quan hệ giữa các ngành, giữa cấp trên và cấp dưới trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. NSNN ở Việt Nam tổ chức theo mô hình ngân sách thống nhất, bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương (ngân sách địa phương gồm ngân sách của 63 đơn vị cấp tỉnh, ngân sách của 708 đơn vị cấp huyện và ngân sách của 11.161 đơn vị cấp xã[3]). Sự thống nhất này thể hiện ở việc tổ chức NSNN theo hướng lồng ghép và chấp hành các nguyên tắc chung về quản lý NSNN. Theo đó, nguồn thu được phân chia giữa ngân sách các cấp, có sự điều tiết, bổ sung của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới, và nhiệm vụ chi được phân cấp cho các bộ, ngành, địa phương, thống nhất về các khoản thu và mức thu của NSNN; thống nhất về tiêu chuẩn, chế độ, định mức chi; thống nhất về phân cấp quản lý, thực hiện chu trình NSNN và tổng hợp dự toán, quyết toán chung theo cùng niên độ ngân sách; xử lý các vấn đề bội chi, vay, trả nợ, kết dư ngân sách theo các nguyên tắc được quy định chung trong Luật NSNN…

Đọc tiếp »

HỒNG PHÚC

(TBKTSG) – Cam kết hội nhập tài chính-ngân hàng theo TPP sẽ theo nguyên tắc “chọn bỏ”, “chỉ tiến, không lùi”. Giới kinh doanh tài chính giờ không nói đến chuyện lớn hay nhỏ nữa, họ chỉ nói tới chuyện nhanh hay chậm mà thôi.

TPP nói gì?

Nhìn chung, nội dung cam kết về ngành ngân hàng tài chính trong TPP gồm các điểm chính: mở rộng cam kết về mở cửa thị trường, trong đó lưu ý các tổ chức tài chính trong 12 nước được cung cấp và nhận dịch vụ xuyên biên giới; tăng cường minh bạch hóa; bảo hộ đầu tư với cơ chế giải quyết tranh chấp minh bạch, rõ ràng và có hiệu quả; không phân biệt quốc tịch nhân sự cấp cao; cho phép áp dụng các ngoại lệ và các quy định quản lý thận trọng; cam kết không chạy đua phá giá tiền tệ; thành lập Ủy ban Dịch vụ tài chính của khối TPP.

Diễn giải cụ thể hơn những điểm chính này, chúng tôi trao đổi với ông Cấn Văn Lực, chuyên gia nghiên cứu về ngân hàng. Ông cho biết, các quy định với ngành ngân hàng tài chính của WTO so với TPP về cơ bản không khác nhau nhiều, tuy nhiên yêu cầu của TPP buộc các tổ chức ngân hàng tài chính phải cởi mở hơn và có ba điểm nổi bật.

Thứ nhất, TPP cho phép 12 nước thành viên cung cấp các dịch vụ ngân hàng xuyên biên giới trong nội khối, tức khai thác chung khách hàng. Cá nhân, tổ chức tại Việt Nam có thể sử dụng dịch vụ của ngân hàng ở Mỹ hay ở bất kỳ ngân hàng nào trong 12 nước TPP mà ngân hàng đó không cần mở chi nhánh tại Việt Nam như trước. Trước đây WTO cho phép các ngân hàng mở chi nhánh 100% vốn nước ngoài tại thị trường nước thành viên chứ chưa cho phép cung cấp dịch vụ ngân hàng trực tiếp như TPP. Khi các ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ từ xa sang thị trường nước khác qua mobile banking và internet banking và các công cụ khác, cạnh tranh chắc chắn sẽ khốc liệt hơn trên quy mô lớn.

Đọc tiếp »

BỘ TÀI CHÍNH

Luật NSNN được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2015, có hiệu lực từ năm ngân sách 2017 (sau đây gọi tắt là Luật NSNN năm 2015), thay thế Luật NSNN số 01/2002/QH11 (sau đây gọi tắt là Luật NSNN năm 2002). Luật NSNN năm 2015 tiếp tục kế thừa các quy định của Luật NSNN hiện hành bảo đảm tính thống nhất của NSNN và vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương (NSTW); tăng cường phân cấp quản lý ngân sách, phát huy tính chủ động của ngân sách các cấp chính quyền địa phương trong quản lý và sử dụng NSNN. Đồng thời, khắc phục những tồn tại về phân cấp quản lý NSNN của Luật NSNN năm 2002, Luật NSNN năm 2015 có một số nội dung thay đổi như sau:

Về phân cấp nguồn thu giữa NSTW và ngân sách địa phương (NSĐP), Luật NSNN năm 2015 bổ sung, sửa đổi một số nội dung sau:

Đọc tiếp »

HẢI THU

Khu vực hóa và toàn cầu hóa là kết quả tất yếu của quá trình tự do hóa kinh tế và hội nhập quốc tế. Việt Nam đã và đang tham gia một cách tích cực vào các tiến trình hội nhập quốc tế thông qua việc ký kết các hiệp định đối tác kinh tế với các nước trong khu vực. Riêng đối với TPP, đã kết thúc tiến trình đàm phán ngày 04/10/2015, dự kiến sẽ ký kết trong năm 2015. Với phạm vi rộng và mức độ cam kết sâu, TPP còn được gọi là một hiệp định của thế kỷ 21(5 đặc điểm khiến TPP trở thành hiệp định mang tính bước ngoặt của thế kỷ 21: (i) Tiếp cận thị trường một cách toàn diện thông qua việc cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan về căn bản đối với tất cả các thương mại hàng hóa và dịch vụ. Điều chỉnh toàn bộ các lĩnh vực về thương mại và đầu tư nhằm tạo ra các cơ hội và lợi ích cho doanh nghiệp và người lao động, người tiêu dùng của các nước thành viên; (ii) Tiếp cận mang tính khu vực trong việc đưa ra các cam kết hội nhập nhằm tạo thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và dây chuyền cung ứng của các nước trong khu vực; (iii) Giải quyết các thách thức đối với thương mại thông qua việc thúc đẩy đổi mới, năng suất và tính cạnh tranh; (iv) Hiệp định TPP bao gồm các yếu tố mới được đưa vào để đảm bảo rằng các nền kinh tế ở tất cả các cấp độ phát triển và doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đều có thể hưởng lợi từ thương mại; (v) Là nền tảng cho hội nhập khu vực và được xây dựng để bao hàm cả những nền kinh tế khác xuyên khu vực châu Á – Thái Bình Dương.). TPP được kỳ vọng đem lại nhiều cơ hội lớn cho Việt Nam, tuy nhiên cũng sẽ mang đến không ít thách thức đối với nền kinh tế. 

Dịch vụ tài chính

Đọc tiếp »

ThS. NGUYỄN VĂN THỌ – ThS. NGUYỄN NGỌC LINH

I- Tổng quan về Basel II và thực trạng triển khai tại Việt Nam

1. Tổng quan về Basel II

Năm 1988, BCBS (Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng) đã giới thiệu một khung rủi ro tín dụng (Basel I) xác định các tiêu chuẩn về vốn để hạn chế rủi ro kinh doanh của các ngân hàng và tăng cường hệ thống tài chính. Để đáp ứng các yêu cầu của phát triển liên tục trong ngành Ngân hàng, các quy định này đã được sửa đổi và vào tháng 6 năm 2004, một hiệp ước về vốn mới (Basel II) được ban hành.

– Mục tiêu của Basel II: Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế; tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro.

– Basel II sử dụng khái niệm “Ba trụ cột”:

(1) Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc. Theo đó, tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I. Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường.

(2) Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel II cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I. Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk).

(3) Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường. Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này.

2. Thực trạng triển khai tại Việt Nam

Đọc tiếp »

PHẠM THỊ LY

Vấn đề cổ phần hóa các trường đại học (ĐH) công đã được chính thức đưa ra xem xét lần đầu năm 2007, với dự định chọn 15-20 trường để làm thí điểm, như là một biện pháp nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục. Lúc đó, do bị nhiều tầng lớp xã hội phản ứng nên vấn đề này đã bị tạm gác lại.

Nay, nó lại được đưa ra, dựa trên một thực tế là ngân sách nhà nước không đủ sức bao cấp cho các trường công hiện nay. Đồng thời, hệ thống này cần được tái cấu trúc theo hướng tăng cường sự đa dạng, trong đó chỉ còn một số ít trường công được duy trì với mức kinh phí thỏa đáng hơn, số còn lại sẽ chuyển sang cổ phần hóa, mà thực chất là tư nhân hóa.

Khác với năm 2007, vấn đề cổ phần hóa trường công lần này, không được đặt ra riêng biệt mà nằm trong bộ khung pháp lý chung của việc cổ phần hóa các đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm bệnh viện, cơ sở giáo dục đào tạo, các viện và trung tâm nghiên cứu (Quyết định 22/2015/QĐ-TTg ngày 22-6-2015 của Thủ tướng Chính phủ).

Thực ra Quyết định 22 khá dè dặt khi đề cập đến trường đại học: khoản 2, điều 1 nói về đối tượng áp dụng chỉ cho phép thí điểm cổ phần hóa một số trường và vẫn khích lệ hình thức trường công lập tự chủ tài chính.

Trước đó, dự thảo Tờ trình Thủ tướng Chính phủ về việc này, do Bộ Tài chính soạn vào tháng 12-2014 cho biết, sẽ tiến hành cổ phần hóa 30 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc các tập đoàn, tổng công ty của các bộ, trong đó có hai bệnh viện và 28 trường ĐH- cao đẳng/viện nghiên cứu. Giá trị thương hiệu và tiềm năng phát triển không tính vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa. Sau cổ phần hóa, các trường ĐH-cao đẳng sẽ hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và Luật Giáo dục đại học (GDĐH)

Lợi thì có lợi…

Đọc tiếp »

ThS. CHU THỊ THU THUỶ

Thực tế trên thị trường chứng khoán cho thấy, tỷ lệ sở hữu nước ngoài và thông tin kế toán có tác động tích cực đến giá chứng khoán của các công ty cổ phần niêm yết. Qua việc sử dụng số liệu của 712 công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2014, kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng tỷ lệ sở hữu nước ngoài và thông tin kế toán có tác động tích cực đến giá chứng khoán của các công ty này. Nghiên cứu này một lần nữa khẳng định ý nghĩa đúng đắn của việc nới “room” cho nhà đầu tư ngoại mới đây của Chính phủ và Bộ Tài chính.

Kinh nghiệm quốc tế

Ảnh hưởng của thông tin kế toán đối với giá cổ phiếu

Trong những năm qua, trên thế giới, có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm xem xét tác động của thông tin kế toán đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên các thị trường chứng khoán (TTCK). Các nghiên cứu này đều chỉ ra rằng, giá trị của thông tin kế toán đối với giá cổ phiếu rất quan trọng và ngày càng có xu hướng tác động mạnh hơn. Đặc biệt, trong bối cảnh hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế nói chung và hệ thống chuẩn mực kế toán của các quốc gia nói riêng ngày càng được cải tiến và thống nhất với nhau làm cho thông tin kế toán ngày càng minh bạch, đáng tin cậy và dễ tiếp cận hơn.

Ngoài ra, thông tin kế toán cũng giúp các nhà đầu tư (NĐT) đánh giá tình hình tài chính, dự đoán dòng tiền, dòng lợi nhuận trong tương lai mà các công ty niêm yết trên TTCK đem lại chính xác hơn. Trên cơ cở đó, các NĐT đưa ra quyết định đúng đắn về việc mua hay bán cổ phiếu đang nắm giữ, vì vậy tác động trực tiếp đến cung – cầu về cổ phiếu, dẫn đến sự thay đổi trong giá của cổ phiếu trên thị trường. Những nghiên cứu chứng minh cho quan điểm này có thể kể đến như nghiên cứu của Collins, Maydew và Weiss (1997), Barth, Beaver và Landsman (1998), Keener (2011)…

Đọc tiếp »

ThS.ĐẶNG THỊ BẠCH VÂN – QUAN HÁN XƯƠNG 

Từ nhiều năm trước đây, các quốc gia trên thế giới đã nhanh chóng thí điểm và đi vào áp dụng cơ chế tự khai tự nộp thuế nhằm đơn giản hóa hệ thống quản lý thuế và hướng đến khuyến khích tuân thủ tự nguyện.

Cơ chế này tạo sự chủ động cho người nộp thuế, đảm bảo tờ khai thuế phù hợp hơn với thực tế hoạt động SXKD trong bối cảnh số lượng người nộp thuế lẫn mức độ phức tạp của các hoạt động kinh doanh không ngừng gia tăng. Ngoài ra, việc thực hiện cơ chế tự khai tự nộp cũng nhằm nâng cao ý thức tự giác thực hiện pháp luật thuế. Ở góc độ quản lý thuế, cơ chế tự khai tự nộp tạo động lực để tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, tạo điều kiện tổ chức, sắp xếp bộ máy quản lý chuyên sâu, chặt chẽ và hiệu quả.

Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia thực thi cơ chế tự khai tự nộp đều thật sự hữu hiệu. Kinh nghiệm quản lý thuế của Singapore dựa trên nền tảng đặt niềm tin và củng cố niềm tin cũng được phân tích làm cơ sở đưa ra những khuyến nghị cần thiết cho cơ quan thuế Việt Nam.

Lý thuyết về niềm tin và tuân thủ tự nguyện

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Mười Hai 2016
M T W T F S S
« Nov    
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,610,970 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Tỷ giá đang trên đà giảm 09/12/2016
    (TBKTSG Online) - Thị trường ngoại hối liên ngân hàng trong vài ngày qua chứng kiến sự suy giảm của tỷ giá sau chuỗi ngày tăng nóng.
  • Lãi suất liên ngân hàng liên tục leo dốc 09/12/2016
    (TBKTSG Online) – Lãi suất cho vay tiền đồng giữa các ngân hàng liên tục leo dốc trong tuần qua, đạt đỉnh cao nhất trong vòng 7 tháng qua trên thị trường tiền tệ.
  • Thoái vốn nhà nước và nỗi lo dòng vốn ngoại 09/12/2016
    (TBKTSG) - Sắp tới, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) sẽ thoái vốn nhà nước nắm giữ tại một số doanh nghiệp lớn qua hình thức chào bán thỏa thuận trên sàn chứng khoán. Mở đầu cho đợt thoái vốn này là Vinamilk (VNM) vào ngày 12-12, với giá khởi điểm là 144.000 đồng/cổ phần. […]
  • Vì sao giá vàng giảm nhẹ dù giao dịch ảm đạm? 08/12/2016
    (TBKTSG Online) – Trong khi giá vàng thế giới thời gian qua đã giảm mạnh và hiện ở mức thấp nhất trong vòng 10 tháng trở lại đây, thì giá vàng trong nước giảm khá chậm và có lúc cao hơn giá thế giới trên 4 triệu đồng mặc dù tình hình mua bán vàng miếng ảm đạm, với khối lượng giao dịch giảm 20% so với cùng kỳ năm ngoái. […]
  • DAS Capital muốn rót 150 triệu đô la Mỹ vào ITA 07/12/2016
    (TBKTSG Online) - Quỹ đầu tư tài chính của Mỹ DAS Capital có kế hoạch sẽ rót khoảng 150 triệu đô la Mỹ để trở thành cổ đông chiến lược của Công ty cổ phần Đầu tư và Công nghiệp Tân Tạo (mã chứng khoán ITA).
  • UB Giám sát Tài chính QG: Lãi suất ổn định, biến động tỷ giá chỉ là tạm thời 07/12/2016
    (TBKTSG Online) - Lãi suất cho vay của nhiều ngân hàng thương mại đối với 5 lĩnh vực ưu tiên đã về sát mức 6%/năm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thuộc những lĩnh vực này ổn định sản xuất kinh doanh, tuy nhiên các điều kiện để giảm lãi suất cho vay đang bớt thuận lợi hơn, theo Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia. […]
  • Giải quyết nợ xấu vướng ở xử lý tài sản đảm bảo 06/12/2016
    (TBKTSG Online) - Hiện nợ xấu có tài sản bảo đảm (TSBĐ) đang chiếm phần lớn trong tổng nợ xấu, nhưng khâu xử lý TSBĐ của ngân hàng gặp nhiều vướng mắc nên tốc độ xử lý nợ xấu còn rất chậm. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 1-1-2017 chưa có quy định cụ thể về việc thu giữ TSBĐ. […]
  • Năm nay kiều hối về TPHCM giảm 06/12/2016
    (TBKTSG Online) – Trong những năm qua, lượng kiều hối về TPHCM thường tăng 10%/năm, tuy nhiên, do những diễn biến không thuận lợi về kinh tế, chính trị trên thế giới trong thời gian gần đây, lượng kiều hối chuyển về TPHCM năm nay dự kiến sẽ sụt giảm.
  • Sabeco niêm yết, gia nhập nhóm cổ phiếu có mức vốn hóa hàng đầu 06/12/2016
    (TBKTSG Online) - Cổ phiếu được thị trường trông đợi từ lâu có mã SAB của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) sáng nay 6-12 đã chính thức chào sàn giao dịch cổ phiếu tập trung và được coi là một trong những cổ phiếu của doanh nghiệp có mức vốn hóa lớn hàng đầu thị trường chứng khoán Việt Nam. […]
  • Chứng khoán: Thị trường chờ đợi Sabeco 05/12/2016
    (TBKTSG Online) - Thị trường chứng khoán có một phiên giao dịch với áp lực bán tiếp tục chiếm ưu thế. Mức điểm giảm mở đầu phiên ở con số khiêm tốn nhưng tăng nhanh dần theo thời gian giao dịch suốt buổi sáng. VN-Index mau chóng lùi về vùng 680 điểm (với HNX-Index là vùng 80,5 điểm) vào giai đoạn trước giờ nghỉ trưa, đây cũng là các mức điểm thấp nhất trong […]