PHÙNG ĐẮC LỘC

Tổng Thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

I. Những đóng góp của các Doanh nghiệp Bảo hiểm trong 20 năm qua

1. Số lượng Doanh nghiệp Bảo hiểm (DNBH) tăng nhanh từ 1 DNBH năm 1993, đến nay đã có 29 DNBH Phi nhân thọ, 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm (BH), 16 DNBH Nhân thọ, 12 doanh nghiệp Môi giới BH vừa hợp tác, vừa cạnh tranh cung cấp sản phẩm BH và chất lượng phục vụ.

2. Số lượng sản phẩm BH ngày càng đa dạng, phong phú đáp ứng cơ bản nhu cầu về BH của nền kinh tế xã hội và người dân. Từ 20 sản phẩm BH Phi nhân thọ năm 1993 đến nay đã có hơn 800 sản phẩm BH Phi nhân thọ đăng ký và báo cáo Bộ Tài chính (BTC), hơn 350 sản phẩm BH được BTC phê duyệt, 3 sản phẩm BH bắt buộc được BTC ban hành, 4 sản phẩm BH thí điểm được BTC ban hành.

3. Doanh thu phí BH có tốc độ tăng cao. Từ doanh thu 700 tỷ đồng năm 1993, đến năm 2013 doanh thu phí bảo hiểm Phi nhân thọ ước đạt 25.000 tỷ đồng (tăng trưởng khoảng 10%), Nhân thọ ước đạt 21.000 tỷ đồng (tăng trưởng khoảng 15%). Doanh thu Môi giới BH chiếm 18% phí bảo hiểm gốc Phi nhân thọ. Tốc độ tăng trưởng bình quân bảo hiểm Phi nhân thọ và Nhân thọ xấp xỉ 20%/năm.

4. Bồi thường và trả tiền BH tăng, đảm bảo an toàn tài chính, khắc phục hậu quả của thiên tai, tai nạn, sự cố bất ngờ xảy ra. Năm 2013, các DNBH Phi nhân thọ ước giải quyết bồi thường 10.000 tỷ đồng và dự phòng bồi thường cho các tổn thất đã xảy ra 5.000 tỷ đồng, DNBH Nhân thọ ước trả tiền BH 8.400 tỷ đồng trong đó 1.500 tỷ đồng bảo tức tích lũy. Bình quân hàng năm các DNBH Phi nhân thọ giải quyết bồi thường 65% doanh thu phí BH (bao gồm dự phòng bồi thường), DNBH Nhân thọ trả tiền BH 40% doanh thu phí BH bao gồm trả cho sự kiện BH, đáo hạn hợp đồng, bảo tức tích lũy và chấm dứt hợp đồng trước hạn.

5. Đối tượng tham gia BH ngày càng đông đảo. Đến nay lực lượng khách hàng tham gia BH bao gồm: hơn 500.000 cơ sở sản xuất kinh doanh (kể cả công ty thành viên, chi nhánh), 100.000 đơn vị hành chính sự nghiệp (kể cả bệnh viện, trường học), 20 triệu người BH thân thể toàn diện, 20 triệu học sinh, 7,5 triệu chủ xe máy và 1,5 triệu chủ xe ô tô, 5 triệu  hợp đồng BH Nhân thọ, 5 triệu hợp đồng BH bổ sung cho BH Nhân thọ.

Đọc tiếp »

ĐINH HOÀNG THẮNG

(TBKTSG Online, 25/3/2015)

Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á (AIIB) do Trung Quốc khởi xướng và lãnh đạo có số vốn khởi động là 50 tỉ, sẽ tăng lên 100 tỉ đô la. Mỹ từ đầu đã coi AIIB như một biểu tượng trong cuộc đối đầu Mỹ-Trung nhưng cho đến nay, các đồng minh chí cốt của Mỹ đều tham gia Ngân hàng do Trung Quốc đề xuất.

Ngày 24-3 này vừa đúng năm tháng Trung Quốc đưa sáng kiến thành lập Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á (AIIB: Asian Infrastructure Investment Bank). Ngay từ đầu, 21 quốc gia ở khu vực, trong đó có Việt Nam, đã hưởng ứng. 21 bộ trưởng tài chính đã ký kết MU (Memorandum Undestanding) để thành lập một ngân hàng rõ ràng làm đối trọng lại 3 ngân hàng lớn hiện nay của Mỹ và Nhật là Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB).

Đọc tiếp »

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN

Chương trình giảng dạy Fulbright

Việc tái cấu trúc ngân hàng đang được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiến hành song song với tiến trình xử lý nợ xấu. Điều này là cần thiết và thực tế cũng đã thu được một số thành công nhất định. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cách mà chúng ta làm đang dẫn đến một rủi ro khác, đó là hiện tượng con nợ mua luôn chủ nợ mà hệ quả là quyền của chủ nợ bị vô hiệu hóa trong khi nảy sinh thêm dạng thức sở hữu chéo mới phức tạp hơn.

Về phương diện lý thuyết, dạng sở hữu chéo đơn giản nhất là A sở hữu B và B cũng sở hữu trở lại A. Thực tế sở hữu chéo không đơn giản và “lộ liễu” như vậy mà thay vào đó là các liên kết sở hữu gián tiếp thông qua nhiều chủ thể trung gian, thậm chí thay quan hệ sở hữu (ownership) thành quan hệ tài trợ (financing). Chẳng hạn A sở hữu B nhưng B không trực tiếp sở hữu A mà lại sở hữu C, đến lượt mình C mới sở hữu A. Dạng sở hữu này được gọi là sở hữu xoay vòng (circular ownership).

Trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, có một dạng quan hệ sở hữu được biến tướng thành quan hệ tài trợ nợ (debt financing) hết sức tinh vi mà cơ quan chức năng không dễ phát hiện. Đó là khi, ngân hàng A cho B vay, rồi B dùng tiền vay này sở hữu trực tiếp ngược trở lại A, hoặc gián tiếp sở hữu A thông qua sở hữu một vài chủ thể trung gian nào đó.

Đọc tiếp »

HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM

Năm 2014, cùng với sự khởi sắc của nền kinh tế Việt Nam, thị trường bảo hiểm tiếp tục tăng trưởng tích cực.

Tính đến 31/12/2014, 61 doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) hoạt động tại Việt Nam, trong đó gồm 29 DNBH phi nhân thọ, 1 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài tại Việt Nam, 17 DNBH nhân thọ, 12 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm (DNMGBH) và 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm (DNTBH).

Năm 2014, Bộ Tài chính đã cấp phép thành lập và hoạt động cho 01 DNBH nhân thọ là Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ BIDV MetLife và 01 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài là chi nhánh Công ty Bảo hiểm Bảo lãnh Seoul tại Hà Nội (SGI). Ngoài các DNBH, có 25 Văn phòng đại diện (VPĐD) của DNBH, DNMGBH nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

Theo số liệu mới cập nhật, tổng doanh thu phí toàn thị trường năm 2014 ước đạt 54.718 tỷ đồng, tăng 14,89% so với năm 2013. Doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 27.391 tỷ đồng, tăng 12,45% so với năm 2013; doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt 27.327 tỷ đồng, tăng 17,44% so với năm 2013.

Tổng số tiền thực bồi thường và trả tiền bảo hiểm của các DNBH năm 2014 ước đạt 19.752 tỷ đồng. Trong đó, các DNBH nhân thọ ước đạt 8.976 tỷ đồng, các DNBH phi nhân thọ ước đạt 10.776 tỷ đồng.

Tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế của các DNBH năm 2014 ước đạt 131.679 tỷ đồng, tăng 15,83% so với năm 2013. Trong đó, các doanh nghiệp nhân thọ đạt khoảng 103.276 tỷ đồng, tăng 18,52% so với cùng kỳ năm 2013; các doanh nghiệp phi nhân thọ đạt khoảng 28.403 tỷ đồng, tăng 7% so với năm 2013.

Tổng tài sản toàn thị trường năm 2014 ước đạt 153.884 tỷ đồng (tăng 14,99% so với năm 2013). Trong đó, các DNBH phi nhân thọ có tổng tài sản ước đạt 39.500 tỷ đồng (tăng 6% so với năm 2013), các DNBH nhân thọ có tổng tài sản ước đạt 114.384 tỷ đồng (tăng 18,46% so với năm 2013).

Tổng nguồn vốn chủ sở hữu toàn thị trường năm 2014 ước đạt 40.893 tỷ đồng (tăng 11,17% so với năm 2013). Các DNBH phi nhân thọ có tổng vốn chủ sở hữu ước đạt 17.730 tỷ đồng, tăng 2% so với năm 2013, các DNBH nhân thọ có tổng vốn chủ sở hữu ước đạt 23.163 tỷ đồng, tăng 19,38% so với năm 2013.

Tổng dự phòng nghiệp vụ của các DNBH năm 2014 ước đạt 93.987 tỷ đồng, tăng 18,53% so với năm 2013. Trong đó, dự phòng nghiệp vụ các doanh nghiệp nhân thọ năm 2014 ước đạt 81.287 tỷ đồng, tăng 20,96% so với năm 2013, các doanh nghiệp phi nhân thọ ước đạt 12.700 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2013.

Tổng số phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới năm 2014 ước đạt 6.410 tỷ đồng, tăng 20,7%. Tổng doanh thu hoa hồng môi giới bảo hiểm năm 20148 ước đạt 482 tỷ đồng, tăng 7,8% so với thực hiện năm 2013.

Đọc tiếp »

ThS. PHAN PHƯƠNG NAM

ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Thị trường chứng khoán (TTCK) là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán, trao đổi chứng khoán. Ở thị trường này, có nhiều chủ thể tham gia với những tư cách khác nhau như tổ chức phát hành chứng khoán, nhà đầu tư, các chủ thể trung gian… nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau về vốn, lợi nhuận. Trong các quan hệ đó, sẽ có những xung đột lợi ích dẫn đến việc có những chủ thể tiến hành các hành vi xâm hại đến lợi ích của chủ thể khác. Những hành vi đó còn có thể gây nên những hệ quả tiêu cực trên TTCK nói riêng và nền kinh tế nói chung. Vì vậy, việc đảm bảo cho TTCK phát triển ổn định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia TTCK là nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước. Để thực hiện trách nhiệm này, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh và xử lý đối với những hành vi vi phạm trên TTCK.

Hiện nay, các quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK được quy định trong Nghị định 108/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 23/09/2013 (Nghị định 108). Văn bản này thay thế Nghị định số 85/2010/NĐ-CP ngày 02/8/2010 của Chính phủ (Nghị định 85) và đã cụ thể hóa một số quy định trong Luật Chứng khoán sửa đổi, bổ sung năm 2010. Nghị định 108 đã: (i) đưa ra những hình thức xử lý vi phạm đối với hành vi chào bán chứng khoán, bao gồm chào bán chứng khoán riêng lẻ, đại chúng trong nước và chào bán ra nước ngoài, điều này đã mở rộng hơn phạm vi điều chỉnh của pháp luật so với Nghị định 85; (ii) quy định chi tiết hơn các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả phù hợp với từng loại hành vi vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK; (iii) mức xử phạt cũng được quy định cao hơn, phù hợp với quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính (VPHC) năm 2012 và xử lý thích đáng đối với các hành vi vi phạm này. Tuy nhiên, Nghị định 108 còn có một số hạn chế như sau:

Đọc tiếp »

ThS. NGUYỄN XUÂN BANG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT

Phòng ngừa rủi ro là nội dung cơ bản đảm bảo sự an toàn và hiệu quả trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại (NHTM) . Có nhiều biện pháp phòng ngừa rủi ro bằng biện pháp kinh tế, biện pháp công nghệ, biện pháp tâm lý – văn hóa, biện pháp chính sách – nghiệp vụ và biện pháp pháp luật. Trong các biện pháp đó, pháp luật được coi là biện pháp hiệu quả nhất. Bài viết bước đầu nêu ra một số vấn đề của của pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM, bao gồm: bản chất, vai trò và các yêu cầu của pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM.

1.Bản chất của pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại

Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật…”. Trong quản lý kinh tế nói chung, quản lý hoạt động ngân hàng nói riêng và đặc biệt là bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, điều chỉnh bằng pháp luật là vô cùng quan trọng. “Thực tế đã cho thấy rằng, trong bất cứ chế độ kinh tế nào cũng cần có sự điều tiết của nhà nước bằng pháp luật để giải quyết những vấn đề mà tự thân cơ chế kinh tế không thể giải quyết được”[1]. Thật vậy, trong hoạt động ngân hàng, các NHTM không thể tự mình giải quyết hàng loạt vấn đề như: phòng ngừa rủi ro, xử lý rủi ro, cạnh tranh không lành mạnh, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng v.v.. mà thông qua pháp luật, nhà nước sẽ thực hiện vai trò điều tiết nền kinh tế, duy trì trật tự kinh doanh và đảm bảo an toàn về pháp lý cho các chủ thể trong nền kinh tế nói chung và các NHTM nói riêng.

Đọc tiếp »

TRƯƠNG TRỌNG HIẾU

TRƯỜNG ĐH KINH TẾ – LUẬT, ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM

Không ai phủ nhận sự cần thiết của việc hình thành chính sách và khung pháp lý cạnh tranh. Tuy nhiên, sự nới lỏng hay thắt chặt chính sách này cũng sẽ là nhân tố đưa nền kinh tế đi về những hướng nghịch chiều. Chính vì vậy, quá trình áp dụng chính sách cạnh tranh (competition policy) – CSCT luôn đặt song hành với chính sách công nghiệp (industrial policy) – CSCN để bảo đảm hiệu suất chung của nền kinh tế. Ở Việt Nam, những ưu trội thị trường mà đội ngũ doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hiện có được tạo dựng chính yếu từ chính sách phát triển kinh tế của quốc gia. Chính vì vậy, việc tái cấu trúc DNNN dưới ánh sáng của luật cạnh tranh không thể không xem xét đến những yếu tố đã tạo dựng nên thứ độc quyền nhà nước đó.

Bài viết giới thiệu tổng quan về thực tiễn mối quan hệ giữa CSCN với CSCT và quá trình tái cấu trúc DNNN dưới tác động của CSCT ở Việt Nam.

1. Tổng quan về chính sách công nghiệp trong mối quan hệ với chính sách cạnh tranh

1.1. CSCN và CSCT: xung đột và liên hệ

Thuật ngữ CSCN được sử dụng để diễn tả nhiều vấn đề khác nhau, tùy từng hoàn cảnh, điều kiện quốc gia lẫn quan điểm và góc độ phân tích của từng nhà nghiên cứu. Theo mô tả của OECD[1], CSCN được dùng để chỉ sự can thiệp của chính phủ làm ảnh hưởng đến các quyết định kinh doanh; sự khuyến khích các ngành/lĩnh vực cụ thể; hoặc chính sách bảo hộ quốc gia (như là đòi hỏi về cơ cấu sản phẩm nội địa trong mua sắm công, sự hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến các công ty cụ thể) hoặc là các chính sách can thiệp khác của chính phủ (như nhằm tạo ra doanh nghiệp hùng mạnh quốc gia và bảo vệ họ trước các đối thủ cạnh tranh cũng như sự thâu tóm từ nước ngoài)[2].

Khởi thuỷ, CSCN xuất hiện khi thị trường có “khuyết tật”, và để khắc phục những “khuyết tật” đó của thị trường[3]. Tuy nhiên, mục tiêu của CSCN tại các quốc gia trên thực tế đôi khi đã vượt ra khỏi nhiệm vụ mặc định này, và tùy thuộc rất nhiều việc quốc gia đó đang muốn gì trong tiến trình “chuyên môn hóa nền kinh tế” [4] của mình. Chẳng hạn, sự “can thiệp” trong CSCN của quốc gia này có thể nhắm vào khối doanh nghiệp tư nhân, nhưng ở quốc gia khác đối tượng được quan tâm nhiều có thể là doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, như Trung Quốc[5], Hàn Quốc (giai đoạn đầu)[6]

Nhưng nhìn chung, sứ mệnh chính yếu của CSCN được xác định là bảo vệ nền kinh tế nội địa trước sức ép cạnh tranh từ bên ngoài, và từ đó, tạo sức cạnh tranh cho nền kinh tế nội địa có khả năng cạnh tranh trong những hoạt động thương mại toàn cầu. Vì điều này, nội dung của CSCN cũng thường bao hàm cả “chính sách quốc gia mũi nhọn” (national champion policy) với chiến lược tạo ra và duy trì những doanh nghiệp hùng mạnh của quốc gia và bảo vệ họ trước sức cạnh tranh của đối thủ hay khả nămg thâu tóm bởi các nhà đầu tư nước ngoài[7]. Thông thường, để làm được như vậy, các quốc gia thường gia tăng, có thể là gây sức ép, để quá trình sáp nhập giữa các doanh nghiệp nội địa diễn ra. Điều này có thể hơi trái ngược với chính sách quản lý sáp nhập. Nhưng các chính phủ vẫn có thể chọn giải pháp “bẻ cong quy trình sáp nhập” để đạt được mục tiêu CSCN đề ra[8].

Đọc tiếp »

MINH ĐỨC

Một tuần sau sự kiện Ngân hàng Nhà nước tuyên bố mua lại bắt buộc toàn bộ vốn cổ phần của Ngân hàng Xây dựng (VNCB) với giá 0 đồng/cổ phần, thị trường vẫn chưa thể định hình một hướng nhìn thống nhất.
Lần đầu tiên Việt Nam mới có trường hợp xử lý như vậy. Một tiền lệ đặc biệt! Cũng vì là lần đầu tiên, nên càng cần có nhiều phân tích, soi chiếu để đúc kết về một bài học kinh nghiệm, một luật chơi trong kinh doanh, cũng như một ứng xử của nhà quản lý.
Nói không quá, có thể xem đây là một “bước tiến hóa đặc biệt” trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.
Một tiền lệ chưa rõ ràng
Thế nhưng, cho đến nay, ngoài thông cáo vẻn vẹn trong một trang giấy của Ngân hàng Nhà nước, không có thêm những thông tin công bố chính thống cần thiết để nhìn nhận một cách đầy đủ về tiền lệ này.
Diễn biến phiên họp đại hội đồng cổ đông bất thường của VNCB cũng không được thông tin trên báo chí, dù đây là một ngân hàng đại chúng, có trên 500 cổ đông.
Nhưng những điều đó không giới hạn các góc nhìn. Với các cổ đông của VNCB, đây là tiền lệ khắc nghiệt. Với người ngoài cuộc, một số quan điểm xem là một tiền lệ chưa rõ ràng.
VnEconomy đã tham vấn quan điểm 6 lãnh đạo cao cấp ở các ngân hàng thương mại. Đó là 6 góc nhìn bước đầu khác nhau. Nói là bước đầu, bởi lần đầu tiên có tình huống xử lý như vậy, mà lại thiếu các thông tin nội tại cần thiết để định hình.
3/6 lãnh đạo nói trên đều có ý rằng, họ chưa kịp định hình và chưa nghiên cứu sự kiện này. Nhưng có một số điểm còn băn khoăn.

Đọc tiếp »

BÙI TRINH – PHẠM LÊ HOA

Nhiều chuyên gia kinh tế và cả những quan chức cao cấp đều cho rằng phải tăng cường sức mạnh của doanh nghiệp nội, chú trọng khu vực nông nghiệp và đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ, nhưng đáng tiếc là cho đến nay điều này vẫn chỉ trong lời nói hoặc trên giấy mà chưa thực sự đi vào nền kinh tế. Ví dụ như nhìn từ chính sách thuế.

Theo Luật Thuế giá trị gia tăng hiện hành, cần phân biệt hai loại hình: loại phải chịu thuế giá trị gia tăng nhưng có thuế suất là 0% và loại không phải chịu thuế giá trị gia tăng.

Hai loại này tuy có chung đặc điểm là doanh nghiệp không phải nộp thuế; nhưng loại hình thứ hai (áp dụng với một số ngành làm đầu vào của nông nghiệp) sẽ không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, trong khi sản phẩm của các ngành này bao gồm rất nhiều các loại thuế nằm lẫn trong chi phí đầu vào. Vì vậy, doanh nghiệp các ngành trong danh sách này thậm chí còn thiệt thòi hơn cả khi phải chịu một mức thuế suất nào đó. Đây cũng là nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp ấy không thể giảm giá bán và những ngành sử dụng sản phẩm của những ngành này làm chi phí đầu vào cũng không được hưởng lợi gì từ chính sách hỗ trợ nửa vời như vậy. Phía thiệt thòi vẫn là người nông dân và các doanh nghiệp nội.

Đọc tiếp »

TRẦN THANH TÙNG

Công ty Luật Phuoc & Partners

(TBKTSG) – Luật Đầu tư năm 2014 (LĐT 2014) được Quốc hội thông qua ngày 26-11-2014 thay thế Luật Đầu tư năm 2005 (LĐT 2005). So với LĐT 2005, LĐT 2014 có tinh thần mở hơn, phạm vi điều chỉnh rõ ràng hơn. Dù vậy, đâu đó vẫn còn một sự lưỡng lự giữa mong muốn thu hút đầu tư nước ngoài và bảo hộ đầu tư trong nước, giữa quyền quản lý của Nhà nước và quyền tự do đầu tư của nhà đầu tư.

Luật Đầu tư chỉ quản lý dự án đầu tư

Một trong những vướng mắc lớn nhất của LĐT 2005 là tình trạng chồng lấn, giẫm chân lên Luật Doanh nghiệp. Theo quy định luật này, trong trường hợp thực hiện dự án đầu tư gắn với việc thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đầu tư bao gồm cả nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký doanh nghiệp. Khi đó, giấy chứng nhận đầu tư cũng đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Doanh nghiệp rơi vào tình trạng một cổ hai tròng, vừa phải tuân thủ LĐT vừa phải tuân thủ Luật Doanh nghiệp.

LĐT 2014 đã tách nội dung đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp ra khỏi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (hiện nay là giấy chứng nhận đầu tư), chỉ điều chỉnh các dự án đầu tư, còn việc thành lập doanh nghiệp sẽ do Luật Doanh nghiệp điều chỉnh. Do vậy, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư giờ đây chỉ ghi nhận thông tin về dự án đầu tư.

Ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh, và đầu tư kinh doanh có điều kiện

Đọc tiếp »

Chương I

PHÂN BỔ VÀ GIAO DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2015

Điều 1. Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi đối với ngân sách địa phương

1. Năm 2015 tiếp tục thực hiện ổn định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định năm 2011; ổn định số bổ sung cân đối (nếu có) từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương theo mức đã được Quốc hội quyết định năm 2014 và bổ sung cho ngân sách địa phương để thực hiện cải cách tiền lương đến mức lương cơ sở 1.150.000 đồng/tháng và được Thủ tướng Chính phủ giao cho từng địa phương tại Quyết định số 2138/QĐ-TTg ngày 28/11/2014. Tiếp tục thực hiện thuế bảo vệ môi trường đối với hàng hóa sản xuất trong nước là khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; thuế bảo vệ môi trường từ hoạt động xuất nhập khẩu do cơ quan hải quan thu là khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%; tiền xử phạt vi phạm hành chính theo Luật xử lý vi phạm hành chính là khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%; riêng khoản thu từ tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa là khoản thu phân chia điều tiết về ngân sách trung ương 70%, ngân sách địa phương 30%.

2. Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia nguồn thu giữa các cấp ngân sách địa phương và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới thực hiện ổn định theo đúng Nghị quyết Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân đối với ngân sách địa phương trong thời kỳ ổn định ngân sách. Đồng thời, ngân sách cấp tỉnh bổ sung cân đối để thực hiện cải cách tiền lương theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp.

3. Thực hiện cơ chế dùng nguồn thu tiền sử dụng đất trong cân đối ngân sách địa phương để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, đồng thời các địa phương cần sử dụng tối thiểu 10% tổng số thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất để thực hiện công tác đo đạc, đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và đăng ký biến động, chỉnh lý hồ sơ địa chính.

Đối với nguồn vốn của Quỹ phát triển đất được ngân sách nhà nước phân bổ, bố trí vào dự toán ngân sách địa phương, được cấp khi bắt đầu thành lập, bổ sung định kỳ hàng năm; huy động từ các nguồn vốn khác, gồm: Vốn viện trợ, tài trợ, hỗ trợ hoặc ủy thác quản lý của các tổ chức quốc tế, tổ chức và cá nhân trong nước và ngoài nước theo chương trình hoặc dự án viện trợ, tài trợ, ủy thác theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định mức vốn ngân sách nhà nước cấp cho Quỹ phát triển đất khi thành lập, mức trích bổ sung cho Quỹ phát triển đất cụ thể hàng năm cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Riêng đối với tiền sử dụng đất của Bộ Quốc phòng 4.306 tỷ đồng năm 2015 phát sinh và đã giao dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, điều tiết ngân sách trung ương 100% theo Nghị quyết số 79/2014/QH13 ngày 14/11/2014 Quốc hội khóa XIII về phân bổ ngân sách trung ương năm 2015.

4. Thực hiện Nghị quyết số 68/2006/QH11 ngày 31/10/2006 của Quốc hội, nguồn thu xổ số kiến thiết không đưa vào cân đối thu, chi ngân sách địa phương, được quản lý qua ngân sách nhà nước. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tăng cường theo dõi, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động kinh doanh của các Công ty xổ số kiến thiết, đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về kinh doanh xổ số và các biện pháp kiểm soát thị trường của Bộ Tài chính; đồng thời, căn cứ khả năng thu xổ số kiến thiết năm 2014 và năm 2015, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phân bổ nguồn thu này để đầu tư các công trình thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế và phúc lợi xã hội của địa phương theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.

Điều 2. Phân bổ và giao dự toán thu ngân sách

Đọc tiếp »

PHÙNG ĐẮC LỘC

Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

Trục lợi bảo hiểm bao gồm các hành vi mang tính cố ý của các tổ chức, cá nhân nhằm thu lợi bất chính từ Quỹ bảo hiểm đóng góp của người tham gia bảo hiểm thông qua việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm.

I. Sự cần thiết phải phòng chống và xử lý trục lợi bảo hiểm

Trục lợi bảo hiểm bao gồm các hành vi mang tính cố ý của các tổ chức, cá nhân nhằm thu lợi bất chính từ Quỹ bảo hiểm đóng góp của người tham gia bảo hiểm thông qua việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm.

            1. Trục lợi bảo hiểm diễn ra trong tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm (được quy định tại Luật KDBH) bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển, bảo hiểm cháy nổ và mọi rủi ro đặc biệt, bảo hiểm tài sản kỹ thuật, bảo hiểm tàu và TNDS chủ tàu, bảo hiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểm nông nghiệp.

            2. Trục lợi bảo hiểm diễn ra tại tất cả các doanh nghiệp bảo hiểm đang được phép hoạt động tại Việt Nam kể cả doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần của Việt Nam trong đó có doanh nghiệp bảo hiểm vốn nhà nước chiếm chi phối.

            3. Trục lợi bảo hiểm ngày càng phổ biến, lây lan nhanh, tuyên truyền học tập lẫn nhau để trục lợi bảo hiểm. Một tai nạn xảy ra hoặc một người đau ốm thương tật nằm viện chưa mua bảo hiểm có thể được những người khác (gara sửa chữa ô tô, bác sĩ điều trị…) hướng dẫn cho cách hợp thức hóa để được bảo hiểm hoặc đã mua bảo hiểm thì hướng dẫn cho cách được bồi thường nhiều tiền hơn trên cơ sở hai bên cùng có lợi. Có những cơ quan hoặc thôn xóm có đến gần một nửa số người được điều trị cùng một thời gian, cùng một bệnh lý, tại cùng một cơ sở điều trị (do thân quen) để nhận tiền bảo hiểm thậm chí vẫn chấm công đi làm để hưởng lương.

            4. Trục lợi bảo hiểm ngày càng phức tạp từ việc lấy tiền thanh toán điều trị (thuốc chữa bệnh và viện phí) đến việc khai tăng khai khống thiệt hại (gara sửa chữa ô tô, hóa đơn mua và sửa chữa tài sản bị thiệt hại, tiếp theo là dựng hiện trường giả, tai nạn giả hoặc mua bảo hiểm sau khi tai nạn xảy ra khai báo lâu ngày xảy ra tai nạn để hợp thức hóa hồ sơ yêu cầu bồi thường. Thậm chí còn tự hủy hoại tài sản để đòi bồi thường (phá hủy thêm tài sản sau tai nạn, đốt cháy ô tô ra cho lao xuỗng sông xuống vực, gây chập điện làm cháy nổ kho tàng tài sản).

            5. Trục lợi bảo hiểm ngày càng tinh vi khiến cho bộ phận giải quyết bồi thường khó có thể phát hiện ra được. Bộ hồ sơ yêu cầu bồi thường với các hóa đơn chứng từ thể hiện rất hoàn hảo: Mua bảo hiểm lắp biển số của xe bị tai nạn vào xe cùng chủng loại không bị tai nạn chụp ảnh lưu giữ sau đó đòi bồi thường, gây tai nạn đâm va giữa ô tô và con bò (ô tô hư hỏng nặng nhưng con bò không bị sao), gây cháy tại các kho độc lập xa nhà xưởng chữa hàng tồn kho ế đọng không bán được vào ban đêm ông chủ không có mặt tại hiện trường cháy….

            6. Trục lợi bảo hiểm ngày càng có đông đảo lực lượng tham gia. Từ người mua bảo hiểm đến các đại lý nhân viên bảo hiểm, các cơ quan tổ chức cá nhân có thẩm quyền (như chính quyền địa phương nơi xảy ra tai nạn, cơ quan công an, cơ quan giám định, trường học, bệnh viện, gara sửa chữa, hiệu thuốc) xác nhận thời gian, địa điểm, nguyên nhân, mức độ thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm hoặc cung cấp các hồ sơ, chứng từ, tài liệu “ hợp lý hợp lệ” để đòi tiền bảo hiểm thậm chí có sự câu kết ăn chia trong số tiền trục lợi.

            7. Hậu quả của trục lợi bảo hiểm là kẻ trục lợi đã ăn cắp một cách công khai số tiền bồi thường (bảo hiểm tài sản), trả tiền bảo hiểm (bảo hiểm nhân thọ, sức khỏe và tai nạn con người) lấy từ Quỹ bảo hiểm đóng góp từ phí bảo hiểm của các tổ chức cá nhân tham gia bảo hiểm (không phải là tiền của DNBH người có vài trò trung gian trong huy động quỹ và phân phối quỹ bảo hiểm). Hậu quả trực tiếp sẽ làm cho doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh thua lỗ phải ngừng triển khai sản phẩm bảo hiểm (điều 40 Thông tư 124/2012/BTC).

Đọc tiếp »

PHÙNG ĐẮC LỘC

Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

Quản trị doanh nghiệp bảo hiểm là việc lựa chọn, ra quyết định, triển khai thực hiện, tổ chức kiểm tra giám sát, thu thập phân tích thông tin để điều chỉnh các giải pháp mang tính ngắn hạn, trung hạn, dài hạn nhằm mục tiêu phát triển doanh nghiệp, tăng trưởng an toàn, hiệu quả trên cơ sở khai thác và huy động triệt để nguồn nhân lực của doanh nghiệp (vốn, công nghệ, nhân lực…) trong bối cảnh cạnh tranh trong ngành và tác động từ yếu tố bên ngoài (kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, pháp luật, môi trường kinh doanh…).

1.  Môi trường bên ngoài tác động vào doanh nghiệp bảo hiểm

Các doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng được kế hoạch kinh doanh hàng năm và chiến lược kinh doanh trung và dài hạn. Kế hoạch và chiến lược kinh doanh được xây dựng trên cơ sở khai thác hết tiềm năng của doanh nghiệp (sẵn có và có thể huy động thêm) nhưng phải thực sự khách quan khi lường hết được tác động từ bên ngoài:

-Yếu tố kinh tế: tăng trưởng GDP, xuất khẩu, nhập khẩu, CPI, FDI, ODA, tín dụng, chứng khoán, bất động sản, tình hình tài chính của các doanh nghiệp có nhu cầu bảo hiểm.

-Yếu tố chính trị: những chủ trương, chính sách, nghị quyết, giải pháp mới của Đảng, Nhà nước, Chính phủ tác động đến nền kinh tế nói chung, ngành bảo hiểm nói riêng có thể là cơ hội hoặc thách thức như kiềm chế lạm phát, thắt chặt tín dụng, quản lý chặt chẽ đầu tư công hay kích cầu nhà ở xã hội 30.000 tỷ đồng, phát triển khai thác hải sản, phát triển bảo hiểm hưu trí tự nguyện,…

-Yếu tố pháp luật: các văn bản pháp luật mới ban hành và có hiệu lực tác động đến bảo hiểm như Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Đầu tư công, Luật Phòng chống thiên tai, Luật Bảo vệ môi trường,… Các cơ chế chính sách, thủ tục mới ban hành như chính sách thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân,… Các văn bản hướng dẫn hoạt động kinh doanh như chế độ kế toán, tiêu chí đánh giá xếp hạng doanh nghiệp bảo hiểm, sửa đổi bổ sung Thông tư 124, Thông tư 125, bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, bảo hiểm tàu thuyền và thuyền viên khai thác hải sản, bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bán bảo hiểm qua ngân hàng,…

-Yếu tố xã hội: thu nhập, cách sử dụng tiền, thái độ với rủi ro và bảo hiểm của các tầng lớp dân cư, vùng miền.

Đọc tiếp »

LS. TÔN THẤT HỒ NGHỊ

(TBKTSG Online) – Vụ án Huyền Như (đang được xử phúc thẩm) là vụ án có nhiều tranh cãi pháp lý về tội danh và trách nhiệm dân sự.

Bên cạnh bị cáo Huỳnh Thị Huyền Như còn có các bị cáo Lương Thị Việt Yên, Hồ Hải Sỹ, Lê Thị Ngọc Lợi (cán bộ, nhân viên phòng giao dịch Võ Văn Tần, Vietinbank chi nhánh Nhà Bè) bị truy tố, đưa ra xét xử về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, với bản án sơ thẩm từ bốn đến bảy năm tù.

Các bị cáo này bị phạt vì hành vi mở tài khoản cho khách hàng mà không có mặt của khách hàng để ký chữ ký mẫu, từ đó tạo điều kiện để Huyền Như làm hồ sơ giả với chữ ký giả chiếm đoạt 50 tỉ đồng của khách hàng.

Nhằm làm rõ hành vi phạm tội của các bị cáo này, trên cơ sở đó xác định tội danh và quyết định mức hình phạt theo đúng luật định, bài viết này phân tích vấn đề mấu chốt trong vụ án, liên quan đến tiền gửi thanh toán.

Để có thể thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt 50 tỉ đồng của Dương Thị Nguyệt và Nguyễn Thị Bé Năm, các bị cáo phải hội đủ hai điều kiện. Điều kiện cần là trong tài khoản của Dương Thị Nguyệt và Nguyễn Thị Bé Năm có 50 tỉ đồng và có lệnh chi giả do Huyền Như làm. Điều kiện đủ: Có sai sót nghiệp vụ trong việc thực hiện lệnh chi tiền.

Chúng ta cần xác định ai chỉ đạo, ai thực hiện lệnh chi, chuyển 50 tỉ đồng từ tài khoản Dương Thị Nguyệt và Nguyễn Thị Bé Năm sang tài khoản Trần Thị Tố Quyên để từ đó Quyên và Huyền Như chiếm đoạt.

Tiền chuyển từ Tố Quyên đi cho các cá nhân, tổ chức có nguồn gốc bất hợp pháp cần phải được thu hồi.

Bắt đầu từ giải đáp tài khoản thanh toán là gì?

Đọc tiếp »

TS. VŨ THÀNH TỰ ANH

Trong giai đoạn 1986-2012, tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp được duy trì ở mức khá cao, trung bình đạt 8,3%. Năng lực cạnh tranh quốc tế của sản phẩm công nghiệp chế biến được cải thiện đáng kể và cấu trúc của nó cũng trở nên khá đa dạng.

Sau gần ba thập niên phát triển theo chiều rộng, động năng tăng trưởng công nghiệp của Việt Nam đã chững lại và đang trên đà suy giảm, đa số doanh nghiệp Việt Nam chỉ dừng lại ở các hoạt động gia công đơn giản hay giá trị gia tăng thấp.

Đằng sau kết quả này tất nhiên là có nhiều nguyên nhân, song một trong những nguyên nhân quan trọng nhất nằm ở mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Là một nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, sự ưu ái doanh nghiệp nhà nước (DNNN), đồng thời phân biệt đối xử đối với doanh nghiệp tư nhân là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, tình trạng phân biệt đối xử này phụ thuộc vào mức độ gay gắt của sự đánh đổi giữa một bên là ý thức hệ chính trị và bên kia là tính chính đáng kinh tế, vào cấu trúc nội tại của nhà nước, và vào tầm vóc của lãnh đạo.

Vào đầu thập niên 1980, nền kinh tế kế hoạch tập trung theo kiểu Xô viết rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, thách thức tính chính đáng của sự lãnh đạo của Đảng. Dưới sự lãnh đạo của quyền Tổng bí thư Đảng Trường Chinh, Việt Nam đã tiến hành đổi mới theo định hướng thị trường vào năm 1986. Khu vực doanh nghiệp tư nhân, cả trong nước lẫn nước ngoài, mặc dầu vẫn ở bên lề nhưng lần đầu tiên chính thức được chấp nhận như một thành phần kinh tế. Nhờ năng lực sẵn có, lại trung tính về chính trị nên các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FIEs) được chào mời liên doanh với các DNNN. Chỉ trong vòng một thập niên, khu vực FDI đã vượt qua khu vực nhà nước để trở thành khu vực đóng góp nhiều nhất cho tăng trưởng công nghiệp của Việt Nam.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 5-2014

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Tư 2015
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 3    
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,217,719 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Tỷ giá đồng/đô la Mỹ lại tiến sát trần 01/04/2015
    (TBKTSG Online) – Tỷ giá đồng/đô la Mỹ đang tăng nhanh trở lại, tiến đến sát mức trần do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quy định (21.672 đồng/đô la Mỹ), mặc dù trước đó tỷ giá đã giảm mạnh sau tuyên bố của NHNN cho biết tiếp tục mục tiêu không tăng tỷ giá quá 2% cho cả năm nay.
  • Chứng khoán 1-4: Khối nội bán quyết liệt 01/04/2015
    (TBKTSG Online) - Đà tăng của thị trường đã không thể kéo dài trong hôm nay. Gắng gượng giữ mức tham chiếu trong khoảng 30 phút đầu của phiên, cả hai sàn đổ dốc rất nhanhsau đó và gần như không có bất kỳ sự hồi phục trở lại nào trong suốt thời gian giao dịch.
  • Nhật Bản cho Việt Nam vay 112,414 tỉ yên vốn ODA 31/03/2015
    (TBKTSG Online) Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh và Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Hiroshi Fukada đã thay mặt chính phủ hai nước ký công hàm trao đổi khoản ODA vốn vay của Chính phủ Nhật Bản dành cho Việt Nam tài khóa 2014 chiều 31-3 tại Hà Nội.
  • Cổ phiếu Đạm Cà Mau chào sàn HOSE 31/03/2015
    (TBKTSG Online) - Công ty cổ phần Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC) sáng 31-3 đã niêm yết hơn 529 triệu cổ phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HOSE).
  • Ngân hàng Qatar vào thị trường Việt Nam 31/03/2015
    (TBKTSG Online) - Ngân hàng Qatar National Bank (QNB) tối 30-3 công bố chính thức bắt đầu hoạt động văn phòng đại diện tại Việt Nam với nhiệm vụ kinh doanh trọng tâm là xúc tiến và thúc đẩy thương mại giữa Qatar và Việt Nam.
  • Chứng khoán 30-3: Lực bán chủ yếu từ khối nội 30/03/2015
    (TBKTSG Online) - Bước sang tuần giao dịch mới, thị trường vẫn chưa thể thoát khỏi sắc đỏ duy trì trọn vẹn trong tuần trước. Gắng gượng xanh điểm trong buổi sáng, thị trường bắt đầu yếu nhanh trở lại sau 11 giờ và bên bán vẫn hoàn toàn làm chủ thị trường cho đến giai đoạn kết thúc phiên, cả hai chỉ số đóng cửa tại vùng thấp nhất trong ngày. […]
  • Nước ngoài bán mạnh trái phiếu và cổ phiếu 30/03/2015
    (TBKTSG Online) - Tuần qua, theo thống kê của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), các nhà đầu tư nước ngoài đã bán ròng tới gần 1.700 tỉ đồng trái phiếu Chính phủ, mức cao nhất trong 4 tháng trở lại đây. Năm ngoái họ đã liên tục chốt lời trái phiếu đầu quí 4 dẫn đến đợt rút vốn trị giá hàng trăm triệu đô la Mỹ, nhưng sau đó đã ngưng bán. Việc họ bán mạnh […]
  • Câu hỏi về việc quản lý ấn chỉ 29/03/2015
    (TBKTSG) - Vụ gửi tiết kiệm 400.000 euro không rút được tiền tại Agribank - chi nhánh Mạc Thị Bưởi mà báo chí đã đề cập hồi tuần rồi cho thấy việc quản lý ấn chỉ quá yếu kém tại ngân hàng này. Đây là nguyên nhân quan trọng gây rủi ro tác nghiệp không lường hết được trong hoạt động ngân hàng. […]
  • Mở room tới 100%? 29/03/2015
    (TBKTSG) - “Sẽ giải quyết dứt điểm vấn đề nới room (tỷ lệ sở hữu của nước ngoài trong một công ty niêm yết) trong một vài tháng tới” - đại diện Bộ Tài chính khẳng định trong cuộc trao đổi gần đây với TBKTSG. Và để minh chứng cho điều này, tuần qua một số hội thảo lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 58/2012 hướn […]
  • LienVietPostBank: Lợi nhuận 2014 giảm, 2015 đặt mục tiêu gấp đôi 28/03/2015
    (TBKTSG Online) - Đại hội đồng cổ đông của Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) diễn ra ngày 28-3 đã thông qua chỉ tiêu 2015, trong đó lợi nhuận trước thuế mà ngân hàng này đặt ra là 936 tỉ đồng, cao gần gấp đôi so với con số thực hiện được của năm 2014 là 535 tỉ đồng. […]
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 156 other followers