NGUYỄN QUANG HIỀN

Ngân hàng là công cụ quan trọng giúp Chính phủ điều hành nền kinh tế, huy động vốn cho các dự án, là trung tâm thanh toán và thực thi chính sách tiền tệ, nơi tập trung khối lượng tiền, ngoại tệ, các giấy tờ có giá và các tài sản quý. Do đó, tội phạm luôn xác định ngân hàng là mục tiêu, điểm đến để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Hiện nay, chưa có một khái niệm chính thống và cũng chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng. Do đó, việc nhận diện đúng tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng cũng như các tình tiết liên quan có ý nghĩa rất quan trọng về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

1. Thực trạng tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng

Tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam đang diễn ra rất phức tạp, với tính chất, quy mô, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt và có chiều hướng ngày càng gia tăng. Đối tượng phạm tội ngày càng đa dạng, bao gồm người Việt Nam và cả người nước ngoài, hoạt động trong quốc gia hoặc xuyên quốc gia với công nghệ cao. Người phạm tội thường che giấu hành vi phạm tội, tiêu huỷ chứng cứ, dùng nhiều thủ đoạn để đối phó với các cơ quan quản lý, cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời lợi dụng các mối quan hệ “phức tạp” để tác động, chạy tội, gây khó khăn cho hoạt động tiến hành tố tụng.

1.1. Phương thức, thủ đoạn phạm tội

Đọc tiếp »

Trong những năm qua có một sự soán ngôi giữa loại hình kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ (KTNB), rất nhiều đơn vị sau một thời gian thiết lập đã dần thu hẹp và loại bỏ bộ phận KTNB thay vào đó là sự lựa chọn dịch vụ kiểm toán độc lập. Nguyên nhân có thể thấy từ hai phía: Thứ nhất do chất lượng của KTNB chưa đáp ứng yêu cầu của đơn vị, thứ hai bản thân nhà quản trị cũng chưa nhận thức rõ về vai trò của KTNB.

I, Kiểm toán nội bộ -hàng rào phòng thủ của các đơn vị

Theo IIA, Viện Kiểm toán Nội bộ: KTNB “là hoạt động đánh giá và tư vấn độc lập trong nội bộ tổ chức, được thiết kế nhằm cải tiến và làm tăng giá trị cho các hoạt động của tổ chức đó. Giúp tổ chức đạt được các mục tiêu bằng việc đánh giá và cải tiến một cách hệ thống và chuẩn tắc tính hiệu lực của quy trình quản trị, kiểm soát và quản lý rủi ro.” (IIA là tổ chức nghề nghiệp dành cho kiểm toán viên nội bộ thành lập năm 1941 có trụ sở chính tại Hoa Kỳ và hơn 122.000 hội viên trên toàn cầu.). Từ khái niệm trên cho thấy điểm khác biệt giữa KTNB  với kiểm toán độc lập, kiểm toán Nhà nước đó là mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán, với loại hình kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập có sự tách biệt tương đối rõ ràng giữa chủ thể và khách thể kiểm toán, với loại hình KTNB thì sự tách biệt là không có, bộ phận kiểm toán nội bộ là bộ phận nằm chính trong cơ cấu tổ chức của đơn vị khách thể kiểm toán. Khái niệm cũng nhấn mạnh vai trò, tác dụng của KTNB đối với hoạt động của đơn vị; giúp “bảo vệ giá trị cho tổ chức”, KTNB giữ vai trò “quan sát viên độc lập” nhằm đảm bảo hoạt động của tổ chức tuân thủ các quy định pháp luật quốc gia, quy định, quy tắc của tổ chức; KTNB là người “giám sát, bảo trì, nâng cấp hệ thống kiểm soát nội bộ” trong vai trò đảm bảo hiệu quả kinh doanh và xây dựng các thủ tục kiểm soát cần thiết. KTNB là công cụ giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu của hệ thống quản lý của tổ chức. Đối với các doanh nghiệp, KTNB có thể hỗ trợ ban giám đốc và hội đồng quản trị có thể kiểm soát hoạt động và quản lý rủi ro tốt hơn mọi khi quy mô và độ phức tạp của doanh nghiệp vượt quá tầm kiểm soát của họ.

Đọc tiếp »

HÀ THU (theo New York Times)

Động thái được đánh giá là một mũi tên trúng 2 đích, vừa thúc đẩy kinh tế trong nước, vừa tăng quyền lực cho đồng nhân dân tệ để củng cố vai trò của Trung Quốc trên toàn cầu.

Nhân dân tệ (NDT) đã xuống đáy 4 năm so với USD, sau động thái hạ tỷ giá tham chiếu thêm 1,6% sáng nay. Tỷ giá giao dịch tại Trung Quốc đã rơi xuống 6,44 NDT đổi một USD – thấp nhất từ tháng 8/2011. Trên thị trường quốc tế, giá này còn xuống 6,57 NDT.china-8736-1439372452.jpg

Động thái của Trung Quốc đã khiến nhiều tiền tệ châu Á mất giá theo. Rupiah Indonesia và ringgit Malaysia đã xuống đáy 17 năm so với USD. Trong khi đó, đôla Australia và đôla New Zealand xuống thấp nhất 6 năm.

Thị trường chứng khoán toàn cầu cũng không tránh khỏi ảnh hưởng. Đến 4h chiều nay, Nikkei 225 (Nhật Bản) đã mất 1,5%, Hang Seng Index trên sàn Hong Kong cũng giảm 3,9%. S&P/ASX 200 (Australia) mất 2,67%. Tại châu Âu, các thị trường mới mở cửa cũng đã phát tín hiệu giảm. FTSE 100 (Anh) mất 0,6%. Mức giảm này của DAX (Đức) là 0,9% và CAC (Pháp) là 0,6%.

Đọc tiếp »

PGS, TS. PHẠM THỊ GIANG THU  &ThS. NGUYỄN NGỌC YẾN

Vấn đề quản lý thị trường vàng đang thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội, không chỉ ở góc độ bảo đảm ổn định nền kinh tế vĩ mô, bảo đảm nguồn dự trữ ngoại hối của nhà nước, bảo đảm cán cân thương mại quốc tế… mà nó còn liên quan đến việc bảo đảm quyền sở hữu một loại tài sản có giá trị được cất trữ trong dân cư. Do đó, thị trường vàng được quản lý một cách hiệu quả là yêu cầu bức thiết đặt ra cho Nhà nước, trong đó bước đầu tiên là phải xác định một cách chính xác cơ quan Nhà nước nào được giao trách nhiệm chính trong hoạt động quản lý thị trường đặc thù này. Ở Việt Nam hiện nay, quản lý thị trường vàng được giao cho Ngân hàng Nhà nước thống nhất thực hiện. Bài viết sẽ tập trung làm rõ những cơ sở pháp lý cũng như thực tiễn cho Ngân hàng Nhà nước quản lý thị trường vàng, dựa vào đó đánh giá hiệu quả hoạt động này của Ngân hàng Nhà nước trong thực tế.

1. Ngân hàng Nhà nước quản lý thị trường vàng – trách nhiệm và sứ mệnh

Quản lý và kiểm soát thị trường vàng là vấn đề có tính lịch sử, bắt nguồn từ tư tưởng quản lý nền kinh tế theo chế độ bản vị vàng truyền thống, ngay cả khi các quốc gia sử dụng tiền giấy bất khả hoán. Để đảm bảo một cách tốt nhất cho giá trị nội tệ và tránh cú sốc kinh tế từ trong và ngoài nước, cũng như đảm bảo quyền lợi cho những chủ thể tham gia, quản lý, kiểm soát thị trường vàng là điều các quốc gia quan tâm. Tùy theo vai trò của vàng trong lãnh thổ mỗi quốc gia, vấn đề quản lý thị trường vàng sẽ được trao cho những cơ quan chuyên trách khác nhau thực hiện. Không quốc gia nào phủ nhận vai trò tiền tệ của vàng trong nền kinh tế, đặc biệt là chức năng cất trữ giá trị và chức năng tiền tệ quốc tế. Nếu đồng tiền khác nhau thường bị kiểm soát bởi quốc gia phát hành ra nó, giá trị chịu sự tác động trực tiếp bởi tăng trưởng hay suy thoái của kinh tế quốc gia, thì vàng là công cụ trao đổi, nhưng không chịu sự ảnh hưởng hay kiểm soát của bất kỳ nền kinh tế cụ thể nào. Mặt khác, vàng còn được coi là công cụ đầu tư, công cụ tích trữ có khả năng cao chống lại lạm phát và bất ổn xã hội, cũng như phương tiện dự trữ ngoại hối quan trọng của hầu hết các quốc gia. Do đó, các quốc gia đều coi chính sách và biện pháp quản lý thị trường vàng như một bộ phận cấu thành của chính sách quản lý kinh tế vĩ mô. Vì thế, vai trò quản lý quan trọng thuộc về Ngân hàng trung ương.

Đọc tiếp »

HOÀNG KHANG

(TBKTSG Online) – Nhà đấy nghèo, có lẽ là nhất xóm, vì có tên trong danh sách cứu đói của chính quyền địa phương, và vì láng giềng vẫn cứ phải thường xuyên giúp đỡ lúc thì lon gạo, lúc lại rổ khoai, do thu nhập của gia đình này hàng tháng chỉ đủ ăn trong một tuần.

Chương trình xóa đói giảm nghèo nào nhà đấy cũng được tham gia, được cấp vốn hay mượn vốn, nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo vì những đồng vốn ít ỏi ấy chẳng phải được dùng để làm ăn, mà chỉ tiêu tán hết.

Nhưng, ở nhà thì thôi, chứ mỗi lần ra phố, con cái nhà đấy lại “vận hàng hiệu” đúng kiểu, từ quần áo, giày dép đến giỏ xách. Họ chỉ tự biết với nhau rằng hàng hiệu này được mua từ những đồng tiền cứu đói.

Chuyện đó khó lòng xảy ra trong thực tế nhưng nhìn một cách nào đó, cách Sơn La đòi chi 1.400 tỉ đồng gây xôn xao dư luận mấy ngày qua cũng không khác bao nhiêu.

Con số 1.400 tỉ đồng mà chính quyền tỉnh Sơn La dự định dùng để xây cụm tượng đài Bác Hồ và những công trình liên quan thật sự gây “choáng” cho cộng đồng cả nước suốt ba ngày qua. Với nhiều thành phố lớn trên cả nước,con số 1.400 tỉ đồng này đã là vấn đề phải “nâng lên đặt xuống” nhiều lần, cân nhắc giữa đồng vốn và hiệu quả, thế mà một địa phương chạy ăn từng bữa như Sơn La lại có thể dễ dàng thông qua.

Như đã đăng tải trên báo chí, Hội đồng Nhân dân tỉnh Sơn La đã ra nghị quyết 127/NQ-HĐND ngày 8-7-2015, thông qua chủ trương đầu tư cho cụm tượng đài này với tổng vốn đầu tư lên đến 1.400 tỉ đồng. Dự án này bao gồm nhóm tượng đài Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc, quảng trường có sức chứa 20.000 người, đền thờ Bác Hồ, đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ, bảo tàng tổng hợp, khu nhà điều hành, đón tiếp…, tất cả đều là các công trình phi kinh tế.

Đọc tiếp »

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về lập, chấp hành, kiểm toán, quyết toán, giám sát ngân sách nhà nước; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan trong lĩnh vực ngân sách nhà nước.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị – xã hội.

2. Các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp được ngân sách nhà nước hỗ trợ theo nhiệm vụ Nhà nước giao.

3. Các đơn vị sự nghiệp công lập.

4. Các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến ngân sách nhà nước.

Điều 3. Áp dụng pháp luật

1. Việc lập, chấp hành, kiểm toán, quyết toán, giám sát ngân sách nhà nước phải tuân thủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Điều 4. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Bội chi ngân sách nhà nước bao gồm bội chi ngân sách trung ương và bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh. Bội chi ngân sách trung ương được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách trung ương không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách trung ương. Bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh là tổng hợp bội chi ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương, được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách cấp tỉnh không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương.

2. Cam kết bố trí dự toán chi ngân sách nhà nước là sự chấp thuận theo quy định của pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc bố trí dự toán chi năm sau hoặc các năm sau cho chương trình, dự án, nhiệm vụ.

3. Chi dự trữ quốc gia là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để mua hàng dự trữ theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia.

4. Chi đầu tư phát triển là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước, gồm chi đầu tư xây dựng cơ bản và một số nhiệm vụ chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật.

5. Chi đầu tư xây dựng cơ bản là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

6. Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

7. Chi trả nợ là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để trả các khoản nợ đến hạn phải trả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác phát sinh từ việc vay.

8. Dự phòng ngân sách nhà nước là một khoản mục trong dự toán chi ngân sách chưa phân bổ đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định ở từng cấp ngân sách.

9. Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị dự toán ngân sách được Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân giao dự toán ngân sách.

10. Đơn vị dự toán ngân sách là cơ quan, tổ chức, đơn vị được cấp có thẩm quyền giao dự toán ngân sách.

11. Đơn vị sử dụng ngân sách là đơn vị dự toán ngân sách được giao trực tiếp quản lý, sử dụng ngân sách.

12. Kết dư ngân sách là chênh lệch lớn hơn giữa tổng số thu ngân sách so với tổng số chi ngân sách của từng cấp ngân sách sau khi kết thúc năm ngân sách.

13. Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương.

14. Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.

15. Ngân sách trung ương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp trung ương hưởng và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp trung ương.

16. Phân cấp quản lý ngân sách là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách trong việc quản lý ngân sách nhà nước phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế – xã hội.

17. Quỹ dự trữ tài chính là quỹ của Nhà nước, hình thành từ ngân sách nhà nước và các nguồn tài chính khác theo quy định của pháp luật.

18. Quỹ ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản tiền của Nhà nước, kể cả tiền vay có trên tài khoản của ngân sách nhà nước các cấp tại một thời điểm.

19. Quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách là quỹ do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập, hoạt động độc lập với ngân sách nhà nước, nguồn thu, nhiệm vụ chi của quỹ để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.

20. Số bổ sung cân đối ngân sách là khoản ngân sách cấp trên bổ sung cho ngân sách cấp dưới nhằm bảo đảm cho chính quyền cấp dưới cân đối ngân sách cấp mình để thực hiện nhiệm vụ được giao.

21. Số bổ sung có mục tiêu là khoản ngân sách cấp trên bổ sung cho ngân sách cấp dưới để hỗ trợ thực hiện các chương trình, dự án, nhiệm vụ cụ thể.

22. Số kiểm tra dự toán thu, chi ngân sách là số thu, chi ngân sách nhà nước được cơ quan có thẩm quyền thông báo cho các cấp ngân sách, các cơ quan, tổ chức, đơn vị làm căn cứ để xây dựng dự toán ngân sách nhà nước hằng năm và kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước 03 năm.

23. Thời kỳ ổn định ngân sách địa phương là thời kỳ ổn định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân sách và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới trong thời gian 05 năm, trùng với kỳ kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 05 năm hoặc theo quyết định của Quốc hội.

24. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân sách là tỷ lệ phần trăm (%) mà từng cấp ngân sách được hưởng trên tổng số các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách.

Điều 5. Phạm vi ngân sách nhà nước

Đọc tiếp »

FATF là một tổ chức liên chính phủ, có chức năng đưa ra các tiêu chuẩn, xây dựng và phát triển các chính sách chống rửa tiền và tài trợ khủng bố. Hiện tại FATF có 33 thành viên (gồm 31 quốc gia và chính phủ và 2 tổ chức quốc tế) cùng hơn 20 quan sát viên (có 5 cơ quan khu vực theo mô hình FATF và hơn 15 tổ chức hoặc cơ quan quốc tế khác). Danh sách các thành viên và quan sát viên được đăng tải trên website của FATF tại địa chỉ http://www.fatf-gafi.org/Members.en.htm
Các phương thức và kỹ thuật rửa tiền luôn thay đổi nhằm đối phó với các biện pháp đấu tranh chống rửa tiền. Trong những năm gần đây, Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) đã lưu ý tới những kỹ thuật tổng hợp phức tạp, ví dụ như sử dụng ngày càng nhiều các pháp nhân để che giấu quyền sở hữu và kiểm soát thực sự đối với các khoản thu bất hợp pháp và việc sử dụng ngày càng tăng các chuyên gia nhằm tư vấn và hỗ trợ trong việc tẩy rửa các khoản tiền tội phạm. Những yếu tố này, kết hợp với những kinh nghiệm thu được trong quá trình xác định Các quốc gia và vùng lãnh thổ không hợp tác của FATF, cùng những sáng kiến cấp quốc gia và quốc tế khác, đã đưa FATF đến việc rà soát và sửa đổi 40 Khuyến nghị thành một khuôn khổ mới hoàn chỉnh trong việc chống rửa tiền và tài trợ khủng bố. Hiện nay, FATF đang kêu gọi tất cả các quốc gia thực hiện các bước cần thiết để các hệ thống chống rửa tiền và tài trợ khủng bố của các quốc gia phù hợp với các Khuyến nghị mới của FATF và thực hiện có hiệu quả các biện pháp này.

Quá trình rà soát để sửa đổi 40 Khuyến nghị là một quá trình tổng hợp với sự tham gia rộng rãi của các quốc gia thành viên, không thành viên, các nước quan sát viên của FATF, các khu vực tài chính, các thành phần chịu ảnh hưởng khác và các bên quan tâm đến hoạt động tài chính. Quá trình tham vấn này đã cung cấp nguồn thông tin rộng lớn, được xem xét trong suốt quá trình sửa đổi các khuyến nghị nói trên.

40 Khuyến nghị sửa đổi hiện nay không những được áp dụng cho chống rửa tiền mà còn cho cả chống hoạt động tài trợ khủng bố, kết hợp với 8 Khuyến nghị đặc biệt chống tài trợ khủng bố đã hình thành nên một khuôn khổ các biện pháp chặt chẽ, hoàn chỉnh và thống nhất để chống rửa tiền và tài trợ khủng bố. FATF nhận thấy sự khác biệt trong hệ thống pháp luật và tài chính giữa các quốc gia khiến họ không thể sử dụng các biện pháp giống nhau để đạt được mục đích chung, đặc biệt là trong các vấn đề cụ thể. Do đó, các khuyến nghị đã đưa ra các tiêu chuẩn tối thiểu cần đạt được trong quá trình tiến hành các hoạt động cụ thể của mỗi quốc gia tùy theo điều kiện và khuôn khổ pháp lý của họ. Các khuyến nghị bao gồm tất cả các biện pháp mà các quốc gia cần phải có trong khuôn khổ hệ thống pháp lý và tư pháp hình sự của mình; các biện pháp phòng ngừa do các định chế tài chính và một số tổ chức kinh doanh và nghề nghiệp khác tiến hành; và hợp tác quốc tế.

40 Khuyến nghị đầu tiên của FATF soạn thảo năm 1990 được coi như là một sáng kiến đấu tranh chống việc lợi dụng các hệ thống tài chính của các đối tượng tẩy rửa tiền do buôn bán ma túy mà có. Những khuyến nghị này được sửa đổi lần đầu vào năm 1996 để theo kịp các cách thức rửa tiền phát triển ngày càng tinh vi. 40 khuyến nghị sửa đổi năm 1996 đã được hơn 130 nước thông qua và trở thành chuẩn mực quốc tế về chống rửa tiền.

Tháng 10/2001, FATF đã mở rộng trách nhiệm giải quyết vấn đề tài trợ cho khủng bố và đã có bước đi quan trọng trong xây dựng 8 Khuyến nghị đặc biệt chống tài trợ khủng bố. Những khuyến nghị này bao gồm hàng loạt các biện pháp đấu tranh chống tài trợ cho hoạt động khủng bố, các tổ chức khủng bố, và bổ trợ cho 40 Khuyến nghị  40 Khuyến nghị  và 8  Khuyến nghị đặc biệt của FATF đã được Quỹ tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng thế giới công nhận như là những chuẩn mực quốc tế để đấu tranh chống rửa tiền và tài trợ khủng bố.

Một yếu tố then chốt trong cuộc chiến chống rửa tiền và tài trợ khủng bố chính là việc yêu cầu các hệ thống của một quốc gia phải được quản lý và đánh giá theo các chuẩn mực quốc tế này. Các cuộc đánh giá đa phương được thực hiện bởi FATF, các tổ chức khu vực kiểu FATF, cũng như các đánh giá do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) tiến hành, là cơ chế mang tính sống còn nhằm bảo đảm các khuyến nghị của FATF được tất cả các quốc gia thực hiện có hiệu quả.

Đọc tiếp »

NGÔ TRUNG DŨNG

(Phó Tổng thư ký HHBHVN)

Theo quy định mới tại Thông tư 194/2014/TT-BTC ngày 17/12/2014 sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 124/2012/TT-BTC và Thông tư 125/2012/TT-BTC, kể từ ngày 01/01/2016, các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) phi nhân thọ, doanh nghiệp chuyên kinh doanh bảo hiểm sức khỏe, chi nhánh nước ngoài phải sử dụng chuyên gia tính toán dự phòng nghiệp vụ và khả năng thanh toán (actuary), với những tiêu chuẩn cao hơn so với quy định trước đây tại Thông tư 124.

Cụ thể, Thông tư 194 quy định tiêu chuẩn chuyên gia tính toán dự phòng và khả năng thanh toán như sau: a) Là thành viên (fellow) của Hội các nhà tính toán bảo hiểm đang là thành viên chính thức của Hội các nhà tính toán bảo hiểm quốc tế; hoặc b) Có tối thiểu năm (05) năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ (đối với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh nước ngoài) hoặc trong lĩnh vực bảo hiểm sức khỏe (đối với doanh nghiệp chuyên kinh doanh bảo hiểm sức khỏe), và có tối thiểu 02 chứng chỉ tính toán được cấp bởi một trong các Hội sau: Hội các nhà tính toán bảo hiểm Vương quốc Anh, Hội các nhà tính toán bảo hiểm Scotland, Hội các nhà tính toán bảo hiểm Hoa Kỳ, Hội các nhà tính toán bảo hiểm Úc, Hội các nhà tính toán bảo hiểm Ca-na-đa;c) Không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh có liên quan đến nhiệm vụ của mình;d) Chưa vi phạm quy tắc đạo đức hành nghề tính toán bảo hiểm (đối với trường hợp chuyên gia tính dự phòng và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, chi nhánh nước ngoài là thành viên của Hội các nhà tính toán bảo hiểm đang là thành viên chính thức của Hội các nhà tính toán bảo hiểm quốc tế).

Nhiều DNBH phi nhân thọ sẽ gặp khó khăn để đáp ứng được các tiêu chuẩn này, khi thời hạn 01/01/2016 đang đến gần. Để có có cái nhìn tổng quan hơn về nghề nghiệp actuary, các tiêu chuẩn về actuary được là thành viên (fellow) các Hội actuary, chúng ta hãy cùng tìm hiểu về nghề actuary, các yêu cầu tiêu chuẩn về bằng cấp, kinh nghiệm, nội dung và các cơ sở đào tạo uy tín để trở thành actuary như quy định của TT194.

Đọc tiếp »

TRƯƠNG THANH ĐỨC

LUẬT SƯ, TRỌNG TÀI VIÊN VIAC

(TBKTSG) Ngày 25-3-2015, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có Văn bản số 1821 về việc thoái vốn của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại các tổ chức tín dụng (TCTD) cổ phần. Văn bản này chủ yếu nhắc lại các quy định mà các DNNN và đơn vị có liên quan phải thực hiện khi chuyển nhượng cổ phần tại các tổ chức tín dụng. Bài viết của Luật sư Trương Thanh Đức(*) nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức chuyển nhượng vốn của DNNN tại các TCTD.

Việc thoái vốn của doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước (DNNN) tại các TCTD cổ phần đang được yêu cầu đẩy nhanh tiến độ. Đây là việc làm rất cần thiết, tuy nhiên, nghiêng về khả năng thực hiện theo cơ chế thị trường hay cơ chế hành chính là vấn đề đặt ra.

Yêu cầu thoái vốn bắt buộc

DNNN không được góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng (trừ những trường hợp đặc biệt theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) và nếu đã góp vốn, đầu tư, thì phải thoái hết số vốn đã đầu tư. Việc này đã được quy định tại khoản 1, điều 29 về “Đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp”, Nghị định số 71/2013 ngày 11-7-2013 của Chính phủ về Đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Vấn đề này cũng đã được nhắc lại trong Quyết định số 51/2014 của Thủ tướng Chính phủ, Thông báo số 85 ngày 11-3-2015 của Văn phòng Chính phủ và gần đây nhất là Công văn số 1821 ngày 25-3-2015 của NHNN.

Theo các văn bản trên, có hai trường hợp liên quan đến việc thoái vốn phải được NHNN xem xét chấp thuận theo quy định tại Luật các TCTD và Thông tư số 06/2010 ngày 26-2-2010 của Thống đốc NHNN.

Thứ nhất là trường hợp cổ đông lớn (sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên) của TCTD phải chuyển nhượng cổ phần. Thứ hai là cổ đông nhận chuyển nhượng cổ phần (dù sẽ hay không trở thành cổ đông lớn của TCTD).

Đối với trường hợp thứ nhất thì sẽ không có vướng mắc, do đơn thuần là thủ tục mang tính hình thức, vì việc chuyển nhượng là bắt buộc theo yêu cầu của Chính phủ. Vấn đề chỉ còn là bán thế nào, bán giá nào và bán cho ai? Điều này cũng đồng thời liên quan đến trường hợp thứ hai, đó là ai sẽ là người mua và nhất là ai sẽ trở thành cổ đông lớn của các ngân hàng cổ phần?

Thoái vốn thông qua thị trường

Đọc tiếp »

PHÙNG ĐẮC LỘC

Tổng Thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

I. Những đóng góp của các Doanh nghiệp Bảo hiểm trong 20 năm qua

1. Số lượng Doanh nghiệp Bảo hiểm (DNBH) tăng nhanh từ 1 DNBH năm 1993, đến nay đã có 29 DNBH Phi nhân thọ, 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm (BH), 16 DNBH Nhân thọ, 12 doanh nghiệp Môi giới BH vừa hợp tác, vừa cạnh tranh cung cấp sản phẩm BH và chất lượng phục vụ.

2. Số lượng sản phẩm BH ngày càng đa dạng, phong phú đáp ứng cơ bản nhu cầu về BH của nền kinh tế xã hội và người dân. Từ 20 sản phẩm BH Phi nhân thọ năm 1993 đến nay đã có hơn 800 sản phẩm BH Phi nhân thọ đăng ký và báo cáo Bộ Tài chính (BTC), hơn 350 sản phẩm BH được BTC phê duyệt, 3 sản phẩm BH bắt buộc được BTC ban hành, 4 sản phẩm BH thí điểm được BTC ban hành.

3. Doanh thu phí BH có tốc độ tăng cao. Từ doanh thu 700 tỷ đồng năm 1993, đến năm 2013 doanh thu phí bảo hiểm Phi nhân thọ ước đạt 25.000 tỷ đồng (tăng trưởng khoảng 10%), Nhân thọ ước đạt 21.000 tỷ đồng (tăng trưởng khoảng 15%). Doanh thu Môi giới BH chiếm 18% phí bảo hiểm gốc Phi nhân thọ. Tốc độ tăng trưởng bình quân bảo hiểm Phi nhân thọ và Nhân thọ xấp xỉ 20%/năm.

4. Bồi thường và trả tiền BH tăng, đảm bảo an toàn tài chính, khắc phục hậu quả của thiên tai, tai nạn, sự cố bất ngờ xảy ra. Năm 2013, các DNBH Phi nhân thọ ước giải quyết bồi thường 10.000 tỷ đồng và dự phòng bồi thường cho các tổn thất đã xảy ra 5.000 tỷ đồng, DNBH Nhân thọ ước trả tiền BH 8.400 tỷ đồng trong đó 1.500 tỷ đồng bảo tức tích lũy. Bình quân hàng năm các DNBH Phi nhân thọ giải quyết bồi thường 65% doanh thu phí BH (bao gồm dự phòng bồi thường), DNBH Nhân thọ trả tiền BH 40% doanh thu phí BH bao gồm trả cho sự kiện BH, đáo hạn hợp đồng, bảo tức tích lũy và chấm dứt hợp đồng trước hạn.

5. Đối tượng tham gia BH ngày càng đông đảo. Đến nay lực lượng khách hàng tham gia BH bao gồm: hơn 500.000 cơ sở sản xuất kinh doanh (kể cả công ty thành viên, chi nhánh), 100.000 đơn vị hành chính sự nghiệp (kể cả bệnh viện, trường học), 20 triệu người BH thân thể toàn diện, 20 triệu học sinh, 7,5 triệu chủ xe máy và 1,5 triệu chủ xe ô tô, 5 triệu  hợp đồng BH Nhân thọ, 5 triệu hợp đồng BH bổ sung cho BH Nhân thọ.

Đọc tiếp »

ĐINH HOÀNG THẮNG

(TBKTSG Online, 25/3/2015)

Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á (AIIB) do Trung Quốc khởi xướng và lãnh đạo có số vốn khởi động là 50 tỉ, sẽ tăng lên 100 tỉ đô la. Mỹ từ đầu đã coi AIIB như một biểu tượng trong cuộc đối đầu Mỹ-Trung nhưng cho đến nay, các đồng minh chí cốt của Mỹ đều tham gia Ngân hàng do Trung Quốc đề xuất.

Ngày 24-3 này vừa đúng năm tháng Trung Quốc đưa sáng kiến thành lập Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á (AIIB: Asian Infrastructure Investment Bank). Ngay từ đầu, 21 quốc gia ở khu vực, trong đó có Việt Nam, đã hưởng ứng. 21 bộ trưởng tài chính đã ký kết MU (Memorandum Undestanding) để thành lập một ngân hàng rõ ràng làm đối trọng lại 3 ngân hàng lớn hiện nay của Mỹ và Nhật là Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB).

Đọc tiếp »

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN

Chương trình giảng dạy Fulbright

Việc tái cấu trúc ngân hàng đang được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiến hành song song với tiến trình xử lý nợ xấu. Điều này là cần thiết và thực tế cũng đã thu được một số thành công nhất định. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cách mà chúng ta làm đang dẫn đến một rủi ro khác, đó là hiện tượng con nợ mua luôn chủ nợ mà hệ quả là quyền của chủ nợ bị vô hiệu hóa trong khi nảy sinh thêm dạng thức sở hữu chéo mới phức tạp hơn.

Về phương diện lý thuyết, dạng sở hữu chéo đơn giản nhất là A sở hữu B và B cũng sở hữu trở lại A. Thực tế sở hữu chéo không đơn giản và “lộ liễu” như vậy mà thay vào đó là các liên kết sở hữu gián tiếp thông qua nhiều chủ thể trung gian, thậm chí thay quan hệ sở hữu (ownership) thành quan hệ tài trợ (financing). Chẳng hạn A sở hữu B nhưng B không trực tiếp sở hữu A mà lại sở hữu C, đến lượt mình C mới sở hữu A. Dạng sở hữu này được gọi là sở hữu xoay vòng (circular ownership).

Trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, có một dạng quan hệ sở hữu được biến tướng thành quan hệ tài trợ nợ (debt financing) hết sức tinh vi mà cơ quan chức năng không dễ phát hiện. Đó là khi, ngân hàng A cho B vay, rồi B dùng tiền vay này sở hữu trực tiếp ngược trở lại A, hoặc gián tiếp sở hữu A thông qua sở hữu một vài chủ thể trung gian nào đó.

Đọc tiếp »

HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM

Năm 2014, cùng với sự khởi sắc của nền kinh tế Việt Nam, thị trường bảo hiểm tiếp tục tăng trưởng tích cực.

Tính đến 31/12/2014, 61 doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) hoạt động tại Việt Nam, trong đó gồm 29 DNBH phi nhân thọ, 1 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài tại Việt Nam, 17 DNBH nhân thọ, 12 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm (DNMGBH) và 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm (DNTBH).

Năm 2014, Bộ Tài chính đã cấp phép thành lập và hoạt động cho 01 DNBH nhân thọ là Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ BIDV MetLife và 01 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài là chi nhánh Công ty Bảo hiểm Bảo lãnh Seoul tại Hà Nội (SGI). Ngoài các DNBH, có 25 Văn phòng đại diện (VPĐD) của DNBH, DNMGBH nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

Theo số liệu mới cập nhật, tổng doanh thu phí toàn thị trường năm 2014 ước đạt 54.718 tỷ đồng, tăng 14,89% so với năm 2013. Doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 27.391 tỷ đồng, tăng 12,45% so với năm 2013; doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt 27.327 tỷ đồng, tăng 17,44% so với năm 2013.

Tổng số tiền thực bồi thường và trả tiền bảo hiểm của các DNBH năm 2014 ước đạt 19.752 tỷ đồng. Trong đó, các DNBH nhân thọ ước đạt 8.976 tỷ đồng, các DNBH phi nhân thọ ước đạt 10.776 tỷ đồng.

Tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế của các DNBH năm 2014 ước đạt 131.679 tỷ đồng, tăng 15,83% so với năm 2013. Trong đó, các doanh nghiệp nhân thọ đạt khoảng 103.276 tỷ đồng, tăng 18,52% so với cùng kỳ năm 2013; các doanh nghiệp phi nhân thọ đạt khoảng 28.403 tỷ đồng, tăng 7% so với năm 2013.

Tổng tài sản toàn thị trường năm 2014 ước đạt 153.884 tỷ đồng (tăng 14,99% so với năm 2013). Trong đó, các DNBH phi nhân thọ có tổng tài sản ước đạt 39.500 tỷ đồng (tăng 6% so với năm 2013), các DNBH nhân thọ có tổng tài sản ước đạt 114.384 tỷ đồng (tăng 18,46% so với năm 2013).

Tổng nguồn vốn chủ sở hữu toàn thị trường năm 2014 ước đạt 40.893 tỷ đồng (tăng 11,17% so với năm 2013). Các DNBH phi nhân thọ có tổng vốn chủ sở hữu ước đạt 17.730 tỷ đồng, tăng 2% so với năm 2013, các DNBH nhân thọ có tổng vốn chủ sở hữu ước đạt 23.163 tỷ đồng, tăng 19,38% so với năm 2013.

Tổng dự phòng nghiệp vụ của các DNBH năm 2014 ước đạt 93.987 tỷ đồng, tăng 18,53% so với năm 2013. Trong đó, dự phòng nghiệp vụ các doanh nghiệp nhân thọ năm 2014 ước đạt 81.287 tỷ đồng, tăng 20,96% so với năm 2013, các doanh nghiệp phi nhân thọ ước đạt 12.700 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2013.

Tổng số phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới năm 2014 ước đạt 6.410 tỷ đồng, tăng 20,7%. Tổng doanh thu hoa hồng môi giới bảo hiểm năm 20148 ước đạt 482 tỷ đồng, tăng 7,8% so với thực hiện năm 2013.

Đọc tiếp »

ThS. PHAN PHƯƠNG NAM

ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Thị trường chứng khoán (TTCK) là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán, trao đổi chứng khoán. Ở thị trường này, có nhiều chủ thể tham gia với những tư cách khác nhau như tổ chức phát hành chứng khoán, nhà đầu tư, các chủ thể trung gian… nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau về vốn, lợi nhuận. Trong các quan hệ đó, sẽ có những xung đột lợi ích dẫn đến việc có những chủ thể tiến hành các hành vi xâm hại đến lợi ích của chủ thể khác. Những hành vi đó còn có thể gây nên những hệ quả tiêu cực trên TTCK nói riêng và nền kinh tế nói chung. Vì vậy, việc đảm bảo cho TTCK phát triển ổn định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia TTCK là nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước. Để thực hiện trách nhiệm này, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh và xử lý đối với những hành vi vi phạm trên TTCK.

Hiện nay, các quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK được quy định trong Nghị định 108/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 23/09/2013 (Nghị định 108). Văn bản này thay thế Nghị định số 85/2010/NĐ-CP ngày 02/8/2010 của Chính phủ (Nghị định 85) và đã cụ thể hóa một số quy định trong Luật Chứng khoán sửa đổi, bổ sung năm 2010. Nghị định 108 đã: (i) đưa ra những hình thức xử lý vi phạm đối với hành vi chào bán chứng khoán, bao gồm chào bán chứng khoán riêng lẻ, đại chúng trong nước và chào bán ra nước ngoài, điều này đã mở rộng hơn phạm vi điều chỉnh của pháp luật so với Nghị định 85; (ii) quy định chi tiết hơn các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả phù hợp với từng loại hành vi vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK; (iii) mức xử phạt cũng được quy định cao hơn, phù hợp với quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính (VPHC) năm 2012 và xử lý thích đáng đối với các hành vi vi phạm này. Tuy nhiên, Nghị định 108 còn có một số hạn chế như sau:

Đọc tiếp »

ThS. NGUYỄN XUÂN BANG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT

Phòng ngừa rủi ro là nội dung cơ bản đảm bảo sự an toàn và hiệu quả trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại (NHTM) . Có nhiều biện pháp phòng ngừa rủi ro bằng biện pháp kinh tế, biện pháp công nghệ, biện pháp tâm lý – văn hóa, biện pháp chính sách – nghiệp vụ và biện pháp pháp luật. Trong các biện pháp đó, pháp luật được coi là biện pháp hiệu quả nhất. Bài viết bước đầu nêu ra một số vấn đề của của pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM, bao gồm: bản chất, vai trò và các yêu cầu của pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM.

1.Bản chất của pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại

Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật…”. Trong quản lý kinh tế nói chung, quản lý hoạt động ngân hàng nói riêng và đặc biệt là bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, điều chỉnh bằng pháp luật là vô cùng quan trọng. “Thực tế đã cho thấy rằng, trong bất cứ chế độ kinh tế nào cũng cần có sự điều tiết của nhà nước bằng pháp luật để giải quyết những vấn đề mà tự thân cơ chế kinh tế không thể giải quyết được”[1]. Thật vậy, trong hoạt động ngân hàng, các NHTM không thể tự mình giải quyết hàng loạt vấn đề như: phòng ngừa rủi ro, xử lý rủi ro, cạnh tranh không lành mạnh, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng v.v.. mà thông qua pháp luật, nhà nước sẽ thực hiện vai trò điều tiết nền kinh tế, duy trì trật tự kinh doanh và đảm bảo an toàn về pháp lý cho các chủ thể trong nền kinh tế nói chung và các NHTM nói riêng.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Chín 2015
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 8    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,318,614 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Tám tháng, chi ngân sách vượt thu gần 20% 02/09/2015
    (TBKTSG Online) - Tính đến hết tháng 8, Bộ Tài chính đã thu ngân sách được 578.200 tỉ đồng nhưng đã chi ra 690.800 tỉ đồng.
  • Chính phủ trả lời về Ngân hàng Đông Á 01/09/2015
    (TBKTSG Online) - Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ - Người phát ngôn của Chính phủ Nguyễn Văn Nên trả lời một số vấn đề mà báo chí và dư luận quan tâm tại cuộc họp báo diễn ra chiều 1-9. Thời báo Kinh tế Sài Gòn lược đăng.
  • Người cũ của Vietcombank làm Phó TGĐ NH Xây dựng 01/09/2015
    (TBKTSG Online) -  Ông Bùi Thanh Bình, Giám đốc Khối ngân hàng bán lẻ của Ngân hàng Xây Dựng (CB) hôm 1-9 đã được bổ nhiệm làm tân Phó Tổng giám đốc của CB với nhiệm kỳ 5 năm.
  • Nước ngoài tiếp tục bán mạnh trái phiếu 01/09/2015
    (TBKTSG Online) - Giao dịch của khối ngoại trên thị trường trái phiếu thứ cấp tuần qua tiếp tục trạng thái bán ròng tuần thứ năm liên tiếp. Giá trị nhà đầu tư nước ngoài bán ròng trong tuần đã lên tới 2.121 tỉ đồng, là mức bán ròng lớn nhất từ đầu năm tới nay.
  • Họp thường kỳ Chính phủ: Tỷ giá đã được điều hành linh hoạt 31/08/2015
    (TBKTG Online) - Theo thông tin tại Cổng thông tin điện tử Chính phủ, trong cuộc Họp thường kỳ chính phủ về tình hình kinh tế vĩ mô tháng 8, báo cáo của Bộ Kế hoạch Đầu tư cho thấy đã có nhiều yếu tố tích cực như tín dụng tăng trưởng cao hơn cùng kỳ, mặt bằng lãi suất duy trì ở mức ổn định, tỷ giá được điều chỉnh linh hoạt... […]
  • Chứng khoán: phiên điều chỉnh 31/08/2015
    (TBKTSG Online) - Thị trường chính thức có phiên điều chỉnh đầu tiên, sau khi đã hồi phục liên tiếp 4 phiên trước đó. Nhu cầu chốt lời là rất rõ ràng khi tất cả lượng hàng tính từ T+3 trở lên hầu hết đều đã có lời đáng kể trở lại. Thị trường giằng co khá mạnh trong buổi sáng khi hai bên mua bán thay nhau kiểm soát tình hình, dù vậy phần thằng đã thuộc về bên […]
  • Kinh tế không bị ảnh hưởng nhiều bởi tỷ giá nhân dân tệ 31/08/2015
    (TBKTSG Online) - Thị trường tiền tệ nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung không bị ảnh hưởng “trực tiếp, và nhiều” do việc Trung Quốc điều chỉnh tỷ giá đồng nhân dân tệ (NDT) vừa qua, theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.
  • TPHCM: DN tăng vay tiền đồng, giảm vay ngoại tệ 31/08/2015
    (TBKTSG Online) - Theo báo cáo 8 tháng đầu năm của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TPHCM, dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước tăng khoảng 6,5% so với cuối 2014. Đây là mức tăng cao nhất trong 3 năm trở lại đây.
  • Thuế - phí nội địa trong cán cân tăng giảm 29/08/2015
    (TBKTSG) - Thuế và phí, chiếm 26,3% GDP trong tổng thu ngân sách (2007-2011), đã giảm xuống còn 19,7% (2014), và sẽ còn tiếp tục giảm khi Việt Nam thực hiện đầy đủ hơn 10 cam kết hội nhập theo các hiệp định thương mại tự do (FTA). Lúc này nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu sẽ giảm và gánh nặng bù hụt thu sẽ chuyển dần sang các khoản thu thuế-phí nội địa của do […]
  • Tỷ giá vẫn thiếu sự chủ động 28/08/2015
    (TBKTSG) - Trong vòng một tuần, từ ngày 12 đến 19-8-2015, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã hai lần nâng biên độ giao dịch tỷ giá đồng Việt Nam so với đô la Mỹ (VND/USD) từ 1% lên 2%, rồi 3%. Đồng thời, NHNN còn phá giá VND/USD 1%.
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 182 other followers