You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat thue’ category.

ThS.ĐẶNG THỊ BẠCH VÂN – QUAN HÁN XƯƠNG 

Từ nhiều năm trước đây, các quốc gia trên thế giới đã nhanh chóng thí điểm và đi vào áp dụng cơ chế tự khai tự nộp thuế nhằm đơn giản hóa hệ thống quản lý thuế và hướng đến khuyến khích tuân thủ tự nguyện.

Cơ chế này tạo sự chủ động cho người nộp thuế, đảm bảo tờ khai thuế phù hợp hơn với thực tế hoạt động SXKD trong bối cảnh số lượng người nộp thuế lẫn mức độ phức tạp của các hoạt động kinh doanh không ngừng gia tăng. Ngoài ra, việc thực hiện cơ chế tự khai tự nộp cũng nhằm nâng cao ý thức tự giác thực hiện pháp luật thuế. Ở góc độ quản lý thuế, cơ chế tự khai tự nộp tạo động lực để tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, tạo điều kiện tổ chức, sắp xếp bộ máy quản lý chuyên sâu, chặt chẽ và hiệu quả.

Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia thực thi cơ chế tự khai tự nộp đều thật sự hữu hiệu. Kinh nghiệm quản lý thuế của Singapore dựa trên nền tảng đặt niềm tin và củng cố niềm tin cũng được phân tích làm cơ sở đưa ra những khuyến nghị cần thiết cho cơ quan thuế Việt Nam.

Lý thuyết về niềm tin và tuân thủ tự nguyện

Đọc tiếp »

  • PGS, TS. LÊ XUÂN TRƯỜNG

Ngày 26/11/2014, Quốc hội đã thông qua Luật số 70/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt với một số điểm mới quan trọng về phạm vi áp dụng, căn cứ tính thuế và thuế suất. Có nhiều việc cần làm để đưa Luật này vào thực tiễn cuộc sống, trong đó, cần ban hành các văn bản dưới luật để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật theo hướng vừa đảm bảo phù hợp với thực tiễn kinh tế – xã hội Việt Nam vừa đảm bảo nhanh chóng về thời gian để chủ động tổ chức thực hiện.

Những điểm mới chủ yếu

Những sửa đổi, bổ sung của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt được đánh giá là đảm bảo số thu cho ngân sách nhà nước một cách hợp lý trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa Nhà nước với người sản xuất, kinh doanh và với người tiêu dùng. Cụ thể:

Một là, loại bỏ khỏi đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nap-ta (naphtha), chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác để pha chế xăng. Sự sửa đổi này sẽ giải quyết được vấn đề phát sinh trong thực tiễn, gây bất lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của một số lĩnh vực, đó là nap-ta và chế phẩm tái hợp không chỉ sử dụng để sản xuất xăng mà còn được sử dụng làm dung môi để sản xuất các sản phẩm khác không thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như sơn, sợi tổng hợp, chất tẩy rửa…

Hai là, bổ sung vào đối tượng không thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích an ninh, quốc phòng. Mục tiêu điều tiết thuế tiêu thụ đặc biệt đối với tàu bay, du thuyền là nhằm điều tiết vào tàu bay, du thuyền cá nhân, sử dụng cho mục đích tiêu dùng cá nhân. Bởi vậy, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 đã quy định tàu bay, du thuyền sử dụng cho vận chuyển hàng hóa, hành khách thì không thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Việc bổ sung tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích an ninh, quốc phòng vào diện không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là nhằm đảm bảo đúng mục tiêu điều tiết của thuế tiêu thụ đặc biệt. Hơn nữa, an ninh, quốc phòng là lĩnh vực Nhà nước đảm bảo 100% ngân sách nên về kỹ thuật, việc đưa vào diện không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích an ninh, quốc phòng giúp giảm bớt các thủ tục thu, chi ngân sách.

Ba là, luật hóa quy định về giá tính thuế thuế tiêu thụ đặc biệt trong trường hợp hàng hóa vừa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt vừa chịu thuế bảo vệ môi trường: Là giá bán chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường. Quy định này trước đây do chưa kịp sửa Luật nên đã hướng dẫn trong văn bản dưới luật.

Bốn là, điều chỉnh thuế suất của một số hàng hóa, dịch vụ. Theo đó, tăng thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt của thuốc lá, rượu, bia, kinh doanh casino, trò chơi điện tử có thưởng. Ngoài ra, đối với mặt hàng xăng thì bổ sung thêm 2 mức thuế suất thấp dành cho xăng sinh học. Nhìn chung, các thay đổi về thuế suất hướng đến tăng mức thuế đối với các mặt hàng có nhiều ngoại ứng tiêu cực với đời sống xã hội, đặc biệt là thuốc lá và rượu, bia. Để góp phần thực hiện Chiến lược quốc gia về phòng chống tác hại thuốc lá đến năm 2020 (Giảm tỷ lệ hút thuốc trong nam giới từ 47,4% xuống còn 39%) thì việc tăng thuế đối với thuốc lá là rất cần thiết và hợp lý. Việc tăng thuế đối với rượu, bia nhằm góp phần giảm bớt tình trạng lạm dụng rượu, bia mà hậu quả của nó đối với trật tự an toàn xã hội và sức khỏe con người đã ở mức báo động. Việc quy định mức thuế suất thấp đối với xăng sinh học là nhằm tạo điều kiện hạ giá bán của xăng sinh học, qua đó, thúc đẩy sử dụng nhiên liệu ít gây hại môi trường. Tăng mức thuế đối với casino để phù hợp với sửa đổi về thuế thu nhập cá nhân. Theo đó, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế, trong đó, loại bỏ khỏi diện chịu thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ trúng thưởng casino do trên thực tế không thể xác định được thu nhập của người chơi khi thắng. Các thay đổi cụ thể về thuế suất thể hiện ở bảng trên.

Tóm lại, những sự sửa đổi, bổ sung về thuế tiêu thụ đặc biệt như trên nhằm phát huy tốt hơn vai trò hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng, đảm bảo đánh thuế cao vào những mặt hàng cao cấp hoặc quá trình sản xuất và tiêu dùng có nhiều ngoại ứng tiêu cực cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng xanh và bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân và điều chỉnh có lộ trình để đảm bảo sự thích ứng của các doanh nghiệp.

Những vấn đề cần chú ý khi xây dựng văn bản dưới luật

Đọc tiếp »

BÙI TRINH – PHẠM LÊ HOA

Nhiều chuyên gia kinh tế và cả những quan chức cao cấp đều cho rằng phải tăng cường sức mạnh của doanh nghiệp nội, chú trọng khu vực nông nghiệp và đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ, nhưng đáng tiếc là cho đến nay điều này vẫn chỉ trong lời nói hoặc trên giấy mà chưa thực sự đi vào nền kinh tế. Ví dụ như nhìn từ chính sách thuế.

Theo Luật Thuế giá trị gia tăng hiện hành, cần phân biệt hai loại hình: loại phải chịu thuế giá trị gia tăng nhưng có thuế suất là 0% và loại không phải chịu thuế giá trị gia tăng.

Hai loại này tuy có chung đặc điểm là doanh nghiệp không phải nộp thuế; nhưng loại hình thứ hai (áp dụng với một số ngành làm đầu vào của nông nghiệp) sẽ không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, trong khi sản phẩm của các ngành này bao gồm rất nhiều các loại thuế nằm lẫn trong chi phí đầu vào. Vì vậy, doanh nghiệp các ngành trong danh sách này thậm chí còn thiệt thòi hơn cả khi phải chịu một mức thuế suất nào đó. Đây cũng là nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp ấy không thể giảm giá bán và những ngành sử dụng sản phẩm của những ngành này làm chi phí đầu vào cũng không được hưởng lợi gì từ chính sách hỗ trợ nửa vời như vậy. Phía thiệt thòi vẫn là người nông dân và các doanh nghiệp nội.

Đọc tiếp »

Thuế và hàng hóa công

Trong đời có hai thứ mà bạn không thể tránh: chết và thuế. Có những người cho rằng thuế còn tệ hơn chết. Tại sao chúng ta phải đóng thuế? Một chánh án của tòa án tối cao Mỹ đã nói: "Thuế là cái giá ta phải trả cho một xã hội văn minh".

Nhà nước cung cấp nhiều hàng hóa và dịch vụ như quốc phòng, cầu đường, công viên. Đây là những hàng hóa "công", nghĩa là nhiều người có thể sử dụng chúng cùng một lúc. Một trái táo là một hàng hóa tư, vì nếu tôi mua và ăn trái táo này thì bạn không thể ăn nó nữa. Nhưng nếu tôi đi dạo trong công viên thì việc đó không hề cản trở bạn "sử dụng" công viên.

Thị trường tư nhân thường không cung cấp những hàng hóa mang bản chất công cộng, vì khó có thể bắt mọi người phải trả tiền khi sử dụng hàng hóa này. Hoặc trong trường hợp một công viên, người ta tin rằng theo lẽ công bằng thì mọi người đều được tự do sử dụng công viên. Tôi sẽ không muốn sản xuất một mặt hàng khi không thể ngăn cản những người sử dụng không trả tiền. Nhưng những hàng hóa công này là quan trọng đối với quốc phòng và chất lượng sống, vì thế nhà nước phải vào cuộc và trả tiền cho việc tạo ra chúng, tài trợ cho những dự án này bằng nguồn thu từ thuế.

Tương tự, loại hàng hóa như giáo dục tiểu học và y tế cơ bản mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, không chỉ riêng những ai "tiêu dùng" chúng. Người được giáo dục và khỏe mạnh có năng suất cao hơn, nên việc cung cấp hàng hóa này có lợi cho tất cả chúng ta. Các nhà kinh tế gọi đây là tác động "lan tỏa" vì việc sử dụng hàng mang lại lợï ích cho mọi người, không chỉ riêng cho người sử dụng trực tiếp. Do đó, tất cả chúng ta phải cùng chia sẻ trách nhiệm tài trợ để sản xuất đầy đủ những hàng hóa này. Nhà nước sử dụng tiền thuế để trả cho những mặt hàng này để tất cả chúng ta đều có lợi.

Trách nhiệm của người đóng thuế

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt.

1. Sửa đổi điểm g khoản 1 Điều 2 như sau:

“g) Xăng các loại;”

2. Khoản 3 Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“3. Tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, khách du lịch và tàu bay sử dụng cho mục đích an ninh, quốc phòng;”

3. Đoạn đầu Điều 6 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán ra, giá cung ứng dịch vụ chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt, chưa có thuế bảo vệ môi trường và chưa có thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:”

4. Điều 7 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 7. Thuế suất

Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá, dịch vụ được quy định theo Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt sau đây:

BIỂU THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT

Đọc tiếp »

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế ngày 20 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân ngày 21 tháng 11 năm 2007; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân ngày 22 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng ngày 03 tháng 6 năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng ngày 19 tháng 6 năm 2013;

Căn cứ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 03 tháng 6 năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 19 tháng 6 năm 2013;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

Đọc tiếp »

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013, Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, Thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013, Thông tư số 85/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011,­­ Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 và Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính để cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế

clip_image003

Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 Luật sửa đi, bổ sung một số điu của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng số 31/2013/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2013;

Căn cứ Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế;

Căn cứ Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng;

Căn cứ Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010;

Căn cứ Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;

Căn cứ Nghị định số 215/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế,

Thực hiện cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế, Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số nội dung như sau:

Đọc tiếp »

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Nghị định số 08/2012/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;

Trên cơ sở Báo cáo của Bộ Tài chính (Tờ trình số 95/TTr-BTC ngày 28 tháng 7 năm 2014), thảo luận của các thành viên Chính phủ và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp thường kỳ, tổ chức ngày 30, 31 tháng 7 năm 2014,

QUYẾT NGHỊ:

I. CÁC GIẢI PHÁP VỀ THUẾ THÁO GỠ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, ĐẨY MẠNH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ:

1. Gia hạn thời hạn nộp thuế không quá 60 ngày đối với số tiền thuế giá trị gia tăng của máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư mà tổng giá trị nhập khẩu từ 100 tỷ đồng trở lên. Bộ Tài chính chỉ đạo cơ quan thuế thực hiện hoàn thuế trước kiểm tra sau chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan thuế nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị hoàn thuế của doanh nghiệp.

2. Gia hạn thời hạn nộp thuế tối đa không quá 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế đối với dự án đầu tư chưa được thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã ghi trong dự toán ngân sách nhà nước, số thuế được gia hạn không vượt quá số tiền ngân sách nhà nước còn nợ và thời gian gia hạn không vượt quá thời gian ngân sách còn nợ.

3. Doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ đối với khoản chi có tính chất phúc lợi chỉ trực tiếp cho người lao động mà doanh nghiệp có hóa đơn, chứng theo quy định; tổng số chi không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện.

Đọc tiếp »

PGS., TS. CHÚC ANH TÚ – Học viện Tài chính

Luattaichinh: bình luận về tác giả hoặc nội dung bài viết là không đúng với tiêu chí của Luattaichinh. Nhưng với bài viết này, cần phải có hai nhận xét: 1) Nội dung bài viết của tác giả chỉ thuần túy cung cấp thông tin, không có vấn đề học thuật; 2) Công thức xác định thu nhập tính thuế được đưa trong bài là không chính xác: thứ nhất, lỗ kết chuyển được trừ đi khỏi thu nhập chịu thuế chứ không phải cộng vào; thứ hai, DN có thể được trừ đi  thêm một khoản, đó là trích lập Quỹ Phát triển Khoa học công nghệ theo Thông tư 15/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Sau đây là toàn văn bài viết:

Trước thực tế phát sinh những khoản chênh lệch (chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn) giữa kế toán và thuế, bài viết này sẽ tập trung phân tích làm rõ hơn các khoản thu nhập theo quy định hiện hành đã làm phát sinh chênh lệch với mục đích giúp những đối tượng quan tâm có được cái nhìn đơn giản hơn về vấn đề này.

Luật số 32/2013/QH 13 ngày 09/06/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN); Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN; Thông tư 78/2014/TT – BTC ngày 18/06/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định 218/2013/NĐ – CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN. Những quy định hiện hành trên, đã làm phát sinh những khoản chênh lệch (chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn) giữa kế toán và thuế:

Công thức xác định thuế TNDN như sau:

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ, bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà DN được hưởng không phân biệt đã thu hay chưa thu được tiền. Một số điều khoản quy định của Luật thuế TNDN và của kế toán có sự khác biệt dẫn đến phát sinh khoản chênh lệch, đó là:

Đọc tiếp »

PHAN HUY CHÚ

Luattaichinh: Lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú được xem là Bách khoa toàn thư thời kỳ trung đại ở Việt Nam. Những thông tin và lời bàn của ông cho thấy, nhà nước phong kiến Việt Nam cũng có những quan niệm khá hiện đại về thuế và quản lý thuế khá chặt chẽ, cùng thời điểm Châu Âu bắt đầu bình minh của khoa học kinh tế. Tuy nhiên, việc kỳ thị đối với hoạt động thương mại là một hạn chế lớn trong quản lý kinh tế thời kỳ này.

Sau đây là phần I của phần Quốc dụng chí (Quyển XXXI).

———————————————————

ĐÁNH THUẾ CHUYÊN LỢI

THUẾ CHUYÊN LỢI VỀ QUẾ

Lê Dụ Tông, năm Vĩnh thịnh thứ 11[1715], thả lệnh cấm về vỏ quế, cho nhân dân được thông hành buôn bán. Cho phép nhân dân được thông hành buôn bán. Cho phép các nơi có thổ sản được bóc nộp, cho người thuê bóc một nửa, nộp vào nhà nước một nửa. Người thuê bóc được 500 cân thì cho 50 quan tiền mà trưng mua số quế.

Năm Bảo – thái thứ 1 [1720], Nhân vương [Trịnh Cương] cùng với tể thần bấy giờ là bọn Nguyễn Công Kháng bàn rằng cây quế là sản vật của nhà nước mà lệ cũ cho nhân dân buôn bán riêng với nhau, mối lợi về bọn lái buôn, việc chi dùng của nhà nước không được lợi gì, bèn định thi hành phép thuế chuyên lợi về quế, sai quan trông nom công việc. Phàm có nhân dân buôn bán tự nguyện đi bóc quế thì phải làm tờ khai xin phép và cung tiến lễ mừng. Quan giám đương hầu chỉ cấp bằng cho làm quế hộ. Các quế hộ vào rừng lấy quế, trước hết phải đến quan trình bằng và nộp lễ mừng 10 quan tiền quý. Quan hỏi người ấy định đi lấy quế ở địa phương nào, rồi làm giấy cho phép điền rõ số đi lấy là bao nhiêu cân, lại sai người đi trước đến báo cho xã dân ấy biết, cho sao bản giấy phép giữ lấy làm bằng để tiện xét nghiệm, rồi quế hộ mới được đi lấy quế. Số quế lấy được bao nhiêu cân, lại báo cho xã dân ấy ghi chép làm bằng, đem đựng vào sọt, mỗi sọt nặng 100 cân, đem đến trình quan bản trấn cân lại đúng số rồi cấp cho bài chỉ rõ ràng. Khi đi đường qua các quan tuần y, cứ chiếu bài chỉ kiểm tra lại thấy đúng số thì cấp giấy cho đi. Khi đến kinh đô, đem bài chỉ của trấn quan và giấy của tuần ty trình quan giám đương chiếu số kiểm lại đúng rồi bổ thuế. Cứ mỗi 100 cân định giá là 100 quan tiền quý thì đánh thuế 5 phần 10, rồi cho quế hộ đem về cất giữ. Khi nào có thuyền buôn đến mua, thì làm tờ khải nộp quan giám đương đệ lên chúa xem và hầu chỉ, cho mua bao nhiêu cần thì tính theo thời giá chuẩn cho nộp thuế, cứ mỗi 100 cân quế định giá 100 quan tiền quý thì đánh 5 phần 10, tức 1 quan tiền quý thì nộp 5 tiền. Quế hộ đem số quế phần của mình cất giữ tính thuế mà bán ra. Khách buôn khi trở về thì trấn quan sai binh lính đưa ra khỏi địa hạt, cứ mỗi lần phải nộp lộ phí 10 quan tiền quý.

Đọc tiếp »

Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Bảo Hiểm

Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường trong các phân ngành dịch vụ bảo hiểm sau:

  • Bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm y tế);
  • Bảo hiểm phi nhân thọ;
  • Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;
  • Trung gian bảo hiểm (môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm);
  • Các dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường).

Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có thể thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam theo những hình thức nào?

Theo cam kết trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm, các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài được quyền hiện diện ở Việt Nam dưới các hình thức:

  1. Văn phòng đại diện (tuy nhiên các văn phòng đại diện không được phép kinh doanh sinh lời trực tiếp);
  2. Liên doanh với đối tác Việt Nam;
  3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (với những hạn chế về loại dịch vụ được phép cung cấp theo lộ trình);
  4. Chi nhánh (với điều kiện mở sau 11/1/2012 và chi nhánh chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ).

Hộp 1 – Hạn chế về loại dịch vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài được phép cung cấp
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc, bao gồm:
– Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba;
– Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt;
– Bảo hiểm các công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường.
Cũng theo cam kết thì tất cả các hạn chế này phải được bãi bỏ từ ngày 1/1/2008.

Tỷ lệ góp vốn tối đa dưới hình thức mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam là bao nhiêu?

Đọc tiếp »

NGUYỄN DUY NHÂN

Chúng ta đang sống trong một đất nước mà bia, rượu, thuốc lá được bán rẻ mạt. Những thứ độc hại này không những giết dần giết mòn tất cả những người sử dụng mà còn gián tiếp gây bao tác hại khôn lường cho hàng chục triệu người xung quanh.

Khi đọc những tin tức đại loại như “giá bia Việt Nam rẻ nhất thế giới”, “Việt Nam thuộc top những nước tiêu thụ bia nhiều nhất thế giới” hoặc “giá nông sản từ Đà Lạt về HCM tăng gấp chục lần”, xăng tăng giá, sữa bột tăng giá, ăn uống tăng giá, người lao động lao đao… các bạn có cảm giác như thế nào?

Tôi là người được may mắn thường xuyên công tác và du lịch bụi nước ngoài. Bất cứ khi nào có dịp, tôi lại quan sát, so sánh giá cả với Việt Nam và cảm nhận.

Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ lấy ví dụ cụ thể về sự khác biệt kỳ dị trong tương quan giữa thu nhập bình quân đầu người với giá bia, giá thuốc lá, giá bữa ăn hàng quán hàng ngày và giá sữa tươi tại Việt Nam và tại Singapore. Tất cả đều có hình minh họa kèm theo.

Tại các quán ăn bình dân, tập trung đa số dân văn phòng ngay các khu trung tâm Singapore, giá một bữa ăn trưa có chất lượng tươm tất, bắt mắt như cơm gà, mì, bún … hiện dao động  từ 4 đến 5 SGD (đôla Singapore , bằng khoảng 17.000 đồng VN) .

Giá một chai bia cùng nhãn hiệu và dung tích tại Việt Nam ngay quán ăn đó hoặc các quán nhậu bình dân tương đương là 7 SGD .

Đọc tiếp »

Luật gia TRẦN VŨ HẢI

Tổng Cục Thuế có công văn số 1133/TCT-TNCN trả lời vướng mắc về thuế TNCN đối với chuyển nhượng BĐS trong đó giải thích về việc một bên ủy quyền cho người khác toàn quyền quản lý, chuyển nhượng đối với bất động sản thì phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Mục đích của công văn này là hướng dẫn các cơ quan thuế phòng tránh việc trốn thuế chuyển nhượng bất động sản bằng cách không lập hợp đồng mua, bán mà là hợp đồng ủy quyền.

Tuy nhiên, người viết cho rằng công văn này là trái những nguyên tắc chung của pháp luật vì những lý do chính sau đây:

1. Tổng Cục thuế cho rằng, những người đủ năng lực dân sự để thực hiện giao dịch thì không thể được ủy quyền, mà luôn coi ủy quyền này là mua, bán là một suy diễn vô lý. Một là, nếu không đủ năng lực dân sự thì không thể ủy quyền được. Hai là, ủy quyền là quyền năng dân sự được Bộ luật Dân sự cho phép, không thể bị hạn chế trong những trường hợp thông thường.

2. Pháp luật thuế không giải thích việc ủy quyền dân sự theo hướng này, việc Tổng Cục thuế giải thích một cách áp đặt, không có trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng đồng nghĩa với việc cơ quan này lạm quyền ban hành quy định, trong khi đó, trách nhiệm hướng dẫn thi hành Luật phải thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính.

3. Mặc dù trên thực tế, việc lợi dụng hợp đồng ủy quyền để trốn thuế Thu nhập cá nhân đáng bị xử lý, nhưng Tổng Cục thuế không được quyền đánh đồng mọi hợp đồng ủy quyền đều là giao dịch giả tạo. Việc trốn thuế cần phải được cơ quan quản lý thuế chứng minh bằng những bằng chứng đáng tin cậy, việc võ đoán theo kiểu "nhìn mặt, bắt hình dong" là xâm phạm đến nguyên tắc tự do của công dân.

4. Và ngay cả đối với giao dịch giả tạo, thì chức năng tuyên một hợp đồng vô hiệu do giả tạo cũng thuộc về cơ quan Tòa án, chứ không phải là cơ quan thuế.

———————————–

Sau đây là toàn văn công văn 1133/TCT-TNCN

Đọc tiếp »

Tên đề tài: Pháp luật tài chính công Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Cấp đề tài: Đề tài cấp Bộ, do Viện Khoa học Pháp lý chủ trì.

Chủ nhiệm đề tài: PGS,TS.Phạm Thị Giang Thu.

Thư ký đề tài: ThS.Trần Vũ Hải và TS.Nguyễn Minh Hằng.

Tập thể tác giả: Bao gồm các chuyên gia đến từ Quốc hội, Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Bộ Công Thương, Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam và các giảng viên Bộ môn Luật Tài chính Ngân hàng (Đại học Luật Hà Nội).

Đề tài đã bảo vệ thành công vào tháng 12/2013, xếp loại xuất sắc.

Bạn đọc có thể tham khảo tại Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội, Thư viện Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và Thư viện Học viện Tài chính.

Sau đây là tóm tắt nội dung đề tài.

Đọc tiếp »

Hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính – kế toán và chứng khoán

Để áp dụng đúng và thống nhất các qui định của Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS) về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính – kế toán và chứng khoán, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính thống nhất hướng dẫn như sau:

Điều 1. Về tội trốn thuế (Điều 161 BLHS)

1. Người phạm tội trốn thuế là người thực hiện một trong các hành vi được qui định tại Điều 108 của Luật quản lý thuế, đồng thời thỏa mãn các dấu hiệu được qui định tại Điều 161 của BLHS.

2. Phạm tội trốn thuế trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác qui định tại khoản 3 Điều 161 của BLHS được hiểu là trường hợp tuy số tiền trốn thuế có giá trị từ 300 triệu đồng đến dưới 600 triệu đồng, nhưng người phạm tội đồng thời thực hiện một trong các hành vi liên quan khác mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm độc lập, như: đưa hối lộ; chống người thi hành công vụ; gây thương tích cho người thi hành công vụ; hủy hoại tài sản của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế và các cơ quan nhà nước khác có trách nhiệm trong việc thực hiện quản lý thuế. Trường hợp các hành vi này có đủ yếu tố cấu thành tội phạm khác thì ngoài tội trốn thuế, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng.

Điều 2. Về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 164a BLHS)

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Năm 2016
M T W T F S S
« Apr    
 1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,494,131 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • BIDV đề xuất hỗ trợ ngư dân các tỉnh bị cá chết 01/05/2016
    (TBKTSG Online) - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa đề xuất lên Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp hỗ trợ ngư dân vay vốn theo Nghị định 67 tại các địa phương có hiện tượng cá chết hàng loạt.
  • VAMC được hợp vốn để mua nợ xấu và chuyện tiếp theo... 01/05/2016
    (TBKTSG) - Các nguồn vốn Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) được sử dụng để mua nợ xấu theo giá thị trường vừa được nới rộng, ngoài vốn điều lệ, còn có thể là các quỹ, trái phiếu VAMC phát hành, các nguồn hợp vốn hoặc nhận ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước khác và các công cụ tài chính hợp pháp khác. […]
  • Để người dân thực sự tham gia vào quy trình ngân sách 30/04/2016
    (TBKTSG) - Tại diễn đàn Đối tác phát triển Việt Nam ngày 5-12-2015, khi được giám đốc quốc gia của Ngân hàng Thế giới hỏi “Việt Nam sẽ lấy nguồn ở đâu ra để phát triển cho những năm tới?”, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời rằng “chúng tôi coi nhân dân chúng tôi là người quyết định sự thành công hay thất bại của sự nghiệp phát triển”. […]
  • Cổ tức ngân hàng: bên có, bên không 29/04/2016
    (TBKTSG) - Có những chi tiết trong các cuộc đấu giá mà nhà đầu tư chỉ còn biết... bó tay. Tổng công ty Viễn thông MobiFone bán đấu giá 33,4 triệu cổ phần của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) ngày 25-4-2016 tại sàn Hà Nội với giá khởi điểm thấp hơn mệnh giá và không có ai đăng ký mua. […]
  • Một số ngân hàng giảm lãi suất cho vay 29/04/2016
    (TBKTSG Online) – Một số ngân hàng, trong đó có các ngân hàng thương mại lớn như BIDV, Vietcombank, hôm nay thông báo giảm lãi suất cho vay đối với các khoản vay mới để hỗ trợ doanh nghiệp, chủ yếu tập trung vào những doanh nghiệp tốt.
  • Eximbank lần đầu tiên phải hoãn họp đại hội đồng cổ đông 29/04/2016
    (TBKTSG Online) - Sáng nay 29-4, lần đầu tiên, đại hội đồng cổ đông của Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu (Eximbank) không diễn ra như kế hoạch.
  • Không hiệu quả vì thiếu minh bạch 29/04/2016
    (TBKTSG) - Thông tấn xã Việt Nam đưa tin, hôm 18-4, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu các cơ quan chức năng đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử một số vụ án đặc biệt nghiêm trọng, trong đó có các vụ án trong lĩnh vực ngân hàng.
  • Bộ Nông nghiệp thoái vốn khỏi Vilico, thu về gần 400 tỉ 28/04/2016
    (TBKTSG Online) - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ thu về gần 400 tỉ đồng từ việc thoái 37,59 % vốn khỏi Tổng Công ty Chăn nuôi Việt Nam.
  • Tập đoàn PAN bỏ room với vốn ngoại 27/04/2016
    (TBKTSG Online) – Cổ đông của Công ty cổ phần tập đoàn Pan (PAN), một công ty niêm yết trên HOSE được chú ý thời gian qua trong lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm sạch, đã đồng ý bỏ hạn chế tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài (room) tại đại hội đồng cổ đông hôm qua, 26-4, tại TPHCM. […]
  • Chứng khoán: Cản trở tại “ngưỡng tâm lý” 600 27/04/2016
    (TBKTSG Online) - Đối mặt gần hơn với “vùng cản tâm lý” 600 điểm  kết hợp với kỳ nghỉ lễ kéo dài 4 ngày đang đến gần, tâm lý thận trọng của nhà đầu tư rõ ràng có tăng lên và hoạt động chốt lời do đó cũng xảy ra quyết liệt hơn trong hôm nay.
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 220 other followers