You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat Tai chinh doanh nghiep’ category.

TS. TRẦN THỊ BẢO ÁNH

Trường Đại học Luật Hà Nội

Tóm tắt: Bài viết đánh giá những điểm bất cập cơ bản trong quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014 như: xác định rõ người có liên quan để tránh bỏ sót các giao dịch tư lợi trong công ty; làm rõ quy định về đối tượng có quyền góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; xác định rõ trách nhiệm tài sản của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh; đánh giá một số quy định chưa hợp lý liên quan đến định giá tài sản góp vốn và tổ chức quản lý công ty. Từ đó tác giả bài viết đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp.

Luật doanh nghiệp (Luật DN) năm 2014 được Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 26/11/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015 đã góp phần tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư. Luật DN năm 2014 có được vai trò này vì đã có những quy định quan trọng mang tính đột phá như sau:

Thứ nhất, Luật đã ghi nhận và cụ thể hoá nguyên tắc về quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư tại Điều 7 Luật DN năm 2014. Theo đó, nhà đầu tư được tự do kinh doanh trong ngành nghề mà pháp luật không cấm kinh doanh thay cho quyền chỉ được kinh doanh những ngành nghề được ghi trong giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh như quy định của Luật DN năm 2005.

Thứ hai, so với Luật DN năm 2005, Luật DN năm 2014 đã cải cách thủ tục đăng kí doanh nghiệp, cụ thể như:

Một là rút ngắn thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp từ 10 ngày xuống còn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ (khoản 2 Điều 27); bỏ ghi ngành nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp (Điều 29);

Hai là trong quá trình hoạt động khi thay đổi về ngành nghề kinh doanh thì doanh nghiệp chỉ cần thông báo với cơ quan đăng kí kinh doanh trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thay đổi chứ không cần phải đăng kí kinh doanh bổ sung như quy định của Luật DN năm 2005;

Ba là Luật DN năm 2014 chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang cơ chế hậu kiểm trong việc quản lí nhà nước đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Theo đó, trong hồ sơ đăng kí doanh nghiệp (từ các Điều 20 đến Điều 23) không có các giấy tờ xác nhận về vốn pháp định hay bản sao chứng chỉ hành nghề của một số cá nhân chủ sở hữu doanh nghiệp/người quản lí, điều hành doanh nghiệp… như quy định của Luật DN năm 2005.

Thứ ba, Luật DN năm 2014 hoàn thiện hơn các quy định về quản trị doanh nghiệp theo hướng bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư, đưa doanh nghiệp trở thành một công cụ kinh doanh an toàn hơn, hấp dẫn hơn. Theo tiêu chí đánh giá của Ngân hàng thế giới thì mức độ bảo vệ nhà đầu tư ở nước ta luôn được đánh giá ở mức thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong ba chỉ số đo lường mức độ bảo vệ nhà đầu tư thì Việt Nam đạt mức độ khá tốt về chỉ số công khai hoá giao dịch có liên quan, đạt 7/10 điểm; đạt ở mức độ kém đối với hai chỉ số còn lại: nghĩa vụ người quản lí (đạt 1/10 điểm) và mức độ dễ khởi kiện người quản lí (đạt 2/10 điểm). Khắc phục những hạn chế của Luật DN 2005 và nhằm nâng cao mức độ bảo vệ nhà đầu tư, cổ đông, Luật DN năm 2014 đã có những thay đổi quan trọng bao gồm: ([1])

– Nâng cao yêu cầu công khai hoá thông tin đối với công ti, mở rộng quyền tiếp cận thông tin cho các cổ đông, tăng cường quyền được tiếp cận thông tin, định kì hoặc theo yêu cầu, đối với mọi cổ đông không hạn chế về tỉ lệ sở hữu cổ phần, đặc biệt đối với các thông tin về quản lí và giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi của công ti.

– Xác định rõ hơn, cụ thể hơn nghĩa vụ và trách nhiệm của người quản lí công ti. Người quản lí công ti phải kê khai các lợi ích có liên quan của họ cho công ti.

– Tạo thuận lợi hơn cho cổ đông khởi kiện người quản lí trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ của mình hoặc gây thiệt hại cho công ti, cổ đông.

Thứ tư, hoàn thiện quy chế pháp lí về vốn của doanh nghiệp bao gồm:

Một là Luật DN năm 2014 quy định các nguyên tắc để xác định, đăng kí vốn thực góp của công ti, giải quyết tình trạng vốn không có thực nhưng không thể xử lí được theo quy định của Luật DN năm 2005. Trong đó, điểm mới nhất là cho phép công ti trách nhiệm hữu hạn đặc biệt là công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ti cổ phần được giảm vốn điều lệ (khoản 4 Điều 48; khoản 3 Điều 74; điểm d khoản 3 Điều 112 ; khoản 1 Điều 87 Luật DN năm 2014);

Hai là Luật DN năm 2014 áp dụng thống nhất thời hạn phải thanh toán đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết tại thời điểm đăng kí thành lập đối với chủ sở hữu, thành viên, cổ đông là trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công ti được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp; đối với công ti cổ phần thời hạn cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng kí mua có thể ngắn hơn nếu điều lệ công ti hoặc hợp đồng đăng kí mua cổ phần quy định một thời hạn khác ngắn hơn. Quy định của Luật DN năm 2014 đã rút ngắn thời hạn góp vốn đối với thành viên công ti trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên so với quy định tại khoản 1 Điều 18 Nghị định của Chính phủ số 102/2010/NĐ-CP ngày 1/10/2010 hướng dẫn chi tiết quy định một số điều của Luật DN. Theo đó, thời hạn góp vốn tối đa đối với thành viên công ti trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên không vượt quá 36 tháng kể từ ngày công ti được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp.

Bên cạnh những điểm “đột phá” tạo môi trường pháp lí thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp gia nhập, hoạt động kinh doanh, tổ chức quản lí, tổ chức lại, chấm dứt hoạt động thì Luật DN năm 2014 vẫn tồn tại một số bất cập cần trao đổi để hoàn thiện hơn. Cụ thể là:

Đọc tiếp »

Advertisements

ThS. VÕ LINH GIANG (Đại học Toulouse 1)

Với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, nhu cầu góp vốn bằng tài sản là quyền sở hữu trí tuệ (STTT) ngày càng phổ biến trên khắp thế giới và cả ở Việt Nam. Tài sản là quyền SHTT là một tài sản đặc biệt và việc định giá đối với tài sản này cũng cần những phương pháp đặc biệt. Do tính đặc biệt của tài sản là quyền SHTT nên việc định giá không chính xác so với giá trị thật sự của tài sản là việc không thể tránh khỏi. Vì vậy, để quy trách nhiệm của tổ chức, cá nhân định giá nhằm hạn chế định giá sai thì quy định về định giá tài sản góp vốn phải chặt chẽ tránh những thiệt hại đáng tiếc xảy ra.

Khi góp vốn bằng quyền SHTT nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng, việc cần làm trước nhất là phải tiến hành định giá giá trị quyền tài sản góp vào doanh nghiệp. Người góp vốn thường có khuynh hướng định giá cao hơn giá trị thật sự của tài sản, điều này rất nguy hiểm vì hành vi sai trái này không chỉ ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các thành viên hoặc cổ đông khi thỏa thuận cho phép thành viên hoặc cổ đông góp vốn bằng quyền SHTT nắm giữ nhiều quyền hơn số vốn thực tế họ đã góp vào công ty, mà còn tạo nên hình ảnh sai lệch về khả năng thanh toán của công ty đối với người thứ ba[1]. Do đó, quy định về định giá tài sản góp vốn là quyền SHTT cần được quy định chặt chẽ để hạn chế tình trạng đánh giá vượt giá trị thật của quyền tài sản được góp vốn.

1. Các quy định của pháp luật Việt Nam về định giá tài sản góp vốn

Đọc tiếp »

TRƯƠNG THANH ĐỨC

LUẬT SƯ, TRỌNG TÀI VIÊN VIAC

(TBKTSG) Ngày 25-3-2015, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có Văn bản số 1821 về việc thoái vốn của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại các tổ chức tín dụng (TCTD) cổ phần. Văn bản này chủ yếu nhắc lại các quy định mà các DNNN và đơn vị có liên quan phải thực hiện khi chuyển nhượng cổ phần tại các tổ chức tín dụng. Bài viết của Luật sư Trương Thanh Đức(*) nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức chuyển nhượng vốn của DNNN tại các TCTD.

Việc thoái vốn của doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước (DNNN) tại các TCTD cổ phần đang được yêu cầu đẩy nhanh tiến độ. Đây là việc làm rất cần thiết, tuy nhiên, nghiêng về khả năng thực hiện theo cơ chế thị trường hay cơ chế hành chính là vấn đề đặt ra.

Yêu cầu thoái vốn bắt buộc

DNNN không được góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng (trừ những trường hợp đặc biệt theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) và nếu đã góp vốn, đầu tư, thì phải thoái hết số vốn đã đầu tư. Việc này đã được quy định tại khoản 1, điều 29 về “Đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp”, Nghị định số 71/2013 ngày 11-7-2013 của Chính phủ về Đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Vấn đề này cũng đã được nhắc lại trong Quyết định số 51/2014 của Thủ tướng Chính phủ, Thông báo số 85 ngày 11-3-2015 của Văn phòng Chính phủ và gần đây nhất là Công văn số 1821 ngày 25-3-2015 của NHNN.

Theo các văn bản trên, có hai trường hợp liên quan đến việc thoái vốn phải được NHNN xem xét chấp thuận theo quy định tại Luật các TCTD và Thông tư số 06/2010 ngày 26-2-2010 của Thống đốc NHNN.

Thứ nhất là trường hợp cổ đông lớn (sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên) của TCTD phải chuyển nhượng cổ phần. Thứ hai là cổ đông nhận chuyển nhượng cổ phần (dù sẽ hay không trở thành cổ đông lớn của TCTD).

Đối với trường hợp thứ nhất thì sẽ không có vướng mắc, do đơn thuần là thủ tục mang tính hình thức, vì việc chuyển nhượng là bắt buộc theo yêu cầu của Chính phủ. Vấn đề chỉ còn là bán thế nào, bán giá nào và bán cho ai? Điều này cũng đồng thời liên quan đến trường hợp thứ hai, đó là ai sẽ là người mua và nhất là ai sẽ trở thành cổ đông lớn của các ngân hàng cổ phần?

Thoái vốn thông qua thị trường

Đọc tiếp »

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN

Chương trình giảng dạy Fulbright

Việc tái cấu trúc ngân hàng đang được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiến hành song song với tiến trình xử lý nợ xấu. Điều này là cần thiết và thực tế cũng đã thu được một số thành công nhất định. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cách mà chúng ta làm đang dẫn đến một rủi ro khác, đó là hiện tượng con nợ mua luôn chủ nợ mà hệ quả là quyền của chủ nợ bị vô hiệu hóa trong khi nảy sinh thêm dạng thức sở hữu chéo mới phức tạp hơn.

Về phương diện lý thuyết, dạng sở hữu chéo đơn giản nhất là A sở hữu B và B cũng sở hữu trở lại A. Thực tế sở hữu chéo không đơn giản và “lộ liễu” như vậy mà thay vào đó là các liên kết sở hữu gián tiếp thông qua nhiều chủ thể trung gian, thậm chí thay quan hệ sở hữu (ownership) thành quan hệ tài trợ (financing). Chẳng hạn A sở hữu B nhưng B không trực tiếp sở hữu A mà lại sở hữu C, đến lượt mình C mới sở hữu A. Dạng sở hữu này được gọi là sở hữu xoay vòng (circular ownership).

Trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, có một dạng quan hệ sở hữu được biến tướng thành quan hệ tài trợ nợ (debt financing) hết sức tinh vi mà cơ quan chức năng không dễ phát hiện. Đó là khi, ngân hàng A cho B vay, rồi B dùng tiền vay này sở hữu trực tiếp ngược trở lại A, hoặc gián tiếp sở hữu A thông qua sở hữu một vài chủ thể trung gian nào đó.

Đọc tiếp »

TRƯƠNG TRỌNG HIẾU

TRƯỜNG ĐH KINH TẾ – LUẬT, ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM

Không ai phủ nhận sự cần thiết của việc hình thành chính sách và khung pháp lý cạnh tranh. Tuy nhiên, sự nới lỏng hay thắt chặt chính sách này cũng sẽ là nhân tố đưa nền kinh tế đi về những hướng nghịch chiều. Chính vì vậy, quá trình áp dụng chính sách cạnh tranh (competition policy) – CSCT luôn đặt song hành với chính sách công nghiệp (industrial policy) – CSCN để bảo đảm hiệu suất chung của nền kinh tế. Ở Việt Nam, những ưu trội thị trường mà đội ngũ doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hiện có được tạo dựng chính yếu từ chính sách phát triển kinh tế của quốc gia. Chính vì vậy, việc tái cấu trúc DNNN dưới ánh sáng của luật cạnh tranh không thể không xem xét đến những yếu tố đã tạo dựng nên thứ độc quyền nhà nước đó.

Bài viết giới thiệu tổng quan về thực tiễn mối quan hệ giữa CSCN với CSCT và quá trình tái cấu trúc DNNN dưới tác động của CSCT ở Việt Nam.

1. Tổng quan về chính sách công nghiệp trong mối quan hệ với chính sách cạnh tranh

1.1. CSCN và CSCT: xung đột và liên hệ

Thuật ngữ CSCN được sử dụng để diễn tả nhiều vấn đề khác nhau, tùy từng hoàn cảnh, điều kiện quốc gia lẫn quan điểm và góc độ phân tích của từng nhà nghiên cứu. Theo mô tả của OECD[1], CSCN được dùng để chỉ sự can thiệp của chính phủ làm ảnh hưởng đến các quyết định kinh doanh; sự khuyến khích các ngành/lĩnh vực cụ thể; hoặc chính sách bảo hộ quốc gia (như là đòi hỏi về cơ cấu sản phẩm nội địa trong mua sắm công, sự hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến các công ty cụ thể) hoặc là các chính sách can thiệp khác của chính phủ (như nhằm tạo ra doanh nghiệp hùng mạnh quốc gia và bảo vệ họ trước các đối thủ cạnh tranh cũng như sự thâu tóm từ nước ngoài)[2].

Khởi thuỷ, CSCN xuất hiện khi thị trường có “khuyết tật”, và để khắc phục những “khuyết tật” đó của thị trường[3]. Tuy nhiên, mục tiêu của CSCN tại các quốc gia trên thực tế đôi khi đã vượt ra khỏi nhiệm vụ mặc định này, và tùy thuộc rất nhiều việc quốc gia đó đang muốn gì trong tiến trình “chuyên môn hóa nền kinh tế” [4] của mình. Chẳng hạn, sự “can thiệp” trong CSCN của quốc gia này có thể nhắm vào khối doanh nghiệp tư nhân, nhưng ở quốc gia khác đối tượng được quan tâm nhiều có thể là doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, như Trung Quốc[5], Hàn Quốc (giai đoạn đầu)[6]

Nhưng nhìn chung, sứ mệnh chính yếu của CSCN được xác định là bảo vệ nền kinh tế nội địa trước sức ép cạnh tranh từ bên ngoài, và từ đó, tạo sức cạnh tranh cho nền kinh tế nội địa có khả năng cạnh tranh trong những hoạt động thương mại toàn cầu. Vì điều này, nội dung của CSCN cũng thường bao hàm cả “chính sách quốc gia mũi nhọn” (national champion policy) với chiến lược tạo ra và duy trì những doanh nghiệp hùng mạnh của quốc gia và bảo vệ họ trước sức cạnh tranh của đối thủ hay khả nămg thâu tóm bởi các nhà đầu tư nước ngoài[7]. Thông thường, để làm được như vậy, các quốc gia thường gia tăng, có thể là gây sức ép, để quá trình sáp nhập giữa các doanh nghiệp nội địa diễn ra. Điều này có thể hơi trái ngược với chính sách quản lý sáp nhập. Nhưng các chính phủ vẫn có thể chọn giải pháp “bẻ cong quy trình sáp nhập” để đạt được mục tiêu CSCN đề ra[8].

Đọc tiếp »

TRẦN THANH TÙNG

Công ty Luật Phuoc & Partners

(TBKTSG) – Luật Đầu tư năm 2014 (LĐT 2014) được Quốc hội thông qua ngày 26-11-2014 thay thế Luật Đầu tư năm 2005 (LĐT 2005). So với LĐT 2005, LĐT 2014 có tinh thần mở hơn, phạm vi điều chỉnh rõ ràng hơn. Dù vậy, đâu đó vẫn còn một sự lưỡng lự giữa mong muốn thu hút đầu tư nước ngoài và bảo hộ đầu tư trong nước, giữa quyền quản lý của Nhà nước và quyền tự do đầu tư của nhà đầu tư.

Luật Đầu tư chỉ quản lý dự án đầu tư

Một trong những vướng mắc lớn nhất của LĐT 2005 là tình trạng chồng lấn, giẫm chân lên Luật Doanh nghiệp. Theo quy định luật này, trong trường hợp thực hiện dự án đầu tư gắn với việc thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đầu tư bao gồm cả nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký doanh nghiệp. Khi đó, giấy chứng nhận đầu tư cũng đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Doanh nghiệp rơi vào tình trạng một cổ hai tròng, vừa phải tuân thủ LĐT vừa phải tuân thủ Luật Doanh nghiệp.

LĐT 2014 đã tách nội dung đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp ra khỏi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (hiện nay là giấy chứng nhận đầu tư), chỉ điều chỉnh các dự án đầu tư, còn việc thành lập doanh nghiệp sẽ do Luật Doanh nghiệp điều chỉnh. Do vậy, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư giờ đây chỉ ghi nhận thông tin về dự án đầu tư.

Ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh, và đầu tư kinh doanh có điều kiện

Đọc tiếp »

Bài 1: Rộ phát hành trái phiếu doanh nghiệp

Tác giả: Thành Nam (thesaigontimes.vn, thứ Năm,  6/11/2014)

(TBKTSG) – Vốn có thể đang rất thừa đối với các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu, kinh doanh dịch vụ nhưng nó chưa qua thời khan hiếm đối với bất động sản. Nhìn từ gốc rễ sâu xa này, mới thấy phát hành trái phiếu doanh nghiệp là một nửa nụ cười có phần chua chát.

Công ty cổ phần Phát triển hạ tầng kỹ thuật (IJC-Hose) cuối tuần qua công bố nghị quyết hội đồng quản trị phát hành 400 tỉ đồng trái phiếu kỳ hạn năm năm cho Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank), với lãi suất năm đầu 12,2%, những năm sau lãi suất thả nổi cộng biên độ 4%/năm. Trước đó, cuối tháng 9-2014, IJC cũng thông qua phương án phát hành 600 tỉ đồng trái phiếu nhằm thực hiện dự án Sunflower II.

IJC không phải đơn vị đầu tiên hay duy nhất phát hành trái phiếu doanh nghiệp năm nay. Thị trường đã chứng kiến hàng chục ngàn tỉ đồng trái phiếu được các công ty niêm yết phát hành như Công ty cổ phần Năm Bảy Bảy; tập đoàn Sao Mai; Công ty cổ phần Ngân Sơn; tập đoàn Vingroup; tập đoàn Đại Dương; tập đoàn Masan; Tổng công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc… Ngay cả những “đại gia” không thiếu tiền mặt như Công ty Chứng khoán Sài Gòn cũng vừa quyết định phát hành 1.000-1.500 tỉ đồng trái phiếu không chuyển đổi để mở rộng hoạt động tự doanh và ký quỹ.

Đọc tiếp »

Luật gia TRẦN VŨ HẢI

Vụ đại án Nguyễn Đức Kiên rất đáng quan tâm nhưng có lẽ cần thêm thời gian để có được thông tin mới có thể bình luận sâu hơn. Cảm nhận ban đầu là: Sự rắc rối của những giao dịch vốn đã được minh chứng trên mái tóc bạc của bầu Kiên chăng?
Ở đây, người viết chỉ bàn đến một điểm: đó là liệu việc mua bán cổ phiếu của một doanh nghiệp có phải là hành vi kinh doanh hay không? Nếu được xem là hành vi kinh doanh, thì việc không đăng ký kinh doanh có bị coi là kinh doanh trái phép?
Hãy bắt đầu bằng một câu hỏi: tại sao Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán không có định nghĩa rõ ràng về nhà đầu tư trong hoạt động mua, bán cổ phần, cổ phiếu (thật ra trong Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán có định nghĩa, nhưng có cũng như không vì không chỉ ra được những đặc trưng bản chất nào.). Có lẽ vì lý do đơn giản: bất cứ ai cũng có quyền đầu tư nên việc đưa ra một định nghĩa chỉ làm cho hạn hẹp quyền đầu tư của các chủ thể này mà thôi.

Đọc tiếp »

Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Bảo Hiểm

Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường trong các phân ngành dịch vụ bảo hiểm sau:

  • Bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm y tế);
  • Bảo hiểm phi nhân thọ;
  • Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;
  • Trung gian bảo hiểm (môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm);
  • Các dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường).

Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có thể thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam theo những hình thức nào?

Theo cam kết trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm, các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài được quyền hiện diện ở Việt Nam dưới các hình thức:

  1. Văn phòng đại diện (tuy nhiên các văn phòng đại diện không được phép kinh doanh sinh lời trực tiếp);
  2. Liên doanh với đối tác Việt Nam;
  3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (với những hạn chế về loại dịch vụ được phép cung cấp theo lộ trình);
  4. Chi nhánh (với điều kiện mở sau 11/1/2012 và chi nhánh chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ).

Hộp 1 – Hạn chế về loại dịch vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài được phép cung cấp
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc, bao gồm:
– Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba;
– Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt;
– Bảo hiểm các công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường.
Cũng theo cam kết thì tất cả các hạn chế này phải được bãi bỏ từ ngày 1/1/2008.

Tỷ lệ góp vốn tối đa dưới hình thức mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam là bao nhiêu?

Đọc tiếp »

Hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính – kế toán và chứng khoán

Để áp dụng đúng và thống nhất các qui định của Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS) về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính – kế toán và chứng khoán, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính thống nhất hướng dẫn như sau:

Điều 1. Về tội trốn thuế (Điều 161 BLHS)

1. Người phạm tội trốn thuế là người thực hiện một trong các hành vi được qui định tại Điều 108 của Luật quản lý thuế, đồng thời thỏa mãn các dấu hiệu được qui định tại Điều 161 của BLHS.

2. Phạm tội trốn thuế trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác qui định tại khoản 3 Điều 161 của BLHS được hiểu là trường hợp tuy số tiền trốn thuế có giá trị từ 300 triệu đồng đến dưới 600 triệu đồng, nhưng người phạm tội đồng thời thực hiện một trong các hành vi liên quan khác mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm độc lập, như: đưa hối lộ; chống người thi hành công vụ; gây thương tích cho người thi hành công vụ; hủy hoại tài sản của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế và các cơ quan nhà nước khác có trách nhiệm trong việc thực hiện quản lý thuế. Trường hợp các hành vi này có đủ yếu tố cấu thành tội phạm khác thì ngoài tội trốn thuế, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng.

Điều 2. Về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 164a BLHS)

Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

ThS LÊ VŨ TOÀN – Trường Quản lý KH&CN, Bộ KH&CN

Hiện nay tổng đầu tư cho khoa học và công nghệ (KH&CN) ở nước ta đạt mức 0,6% GDP, trong đó, chủ yếu từ ngân sách nhà nước (0,5% GDP). Mức đầu tư này hiện đang thấp hơn rất nhiều so với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới (năm 2010, Nhật Bản đầu tư cho KH&CN là 3,3% GDP, Hàn Quốc là 3%, Mỹ 2,7%, Đức 2,3%, Singapore 2,2%). Do vậy, việc gia tăng tỷ lệ đầu tư cho KH&CN, đặc biệt, việc huy động từ phía doanh nghiệp là vấn đề quan trọng đang được đặt ra. Một trong những hình thức huy động được áp dụng là khuyến khích doanh nghiệp thành lập Quỹ phát triển KH&CN để phục vụ cho việc đổi mới công nghệ tại chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc thành lập loại hình Quỹ này ở nước ta hiện còn gặp nhiều khó khăn, cần có những giải pháp tháo gỡ kịp thời.

Đặt vấn đề

Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp là một trong những loại hình Quỹ được đề cập đầu tiên tại nước ta trong Luật KH&CN [1] năm 2000. Điều 38.2 Luật KH&CN quy định: “Doanh nghiệp được lập Quỹ phát triển KH&CN để chủ động đầu tư phát triển KH&CN”. Luật Chuyển giao công nghệ (CGCN) (2006) [2], Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (2008) [3] tiếp tục bổ sung và đưa ra những quy định cụ thể. Trên cơ sở quy định của các Luật trên, Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể: Quyết định 36 [4], Thông tư 15 [5], Thông tư 105 [6]. Có thể nói, đây là các văn bản pháp lý quan trọng để Quỹ hình thành và đi vào hoạt động.

Tuy nhiên, theo Báo cáo tại Hội thảo về việc triển khai thực hiện Quỹ trên địa bàn tỉnh Bình Phước ngày 26.4.2013 [7]: “Việc hình thành Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp hiện nay đang gặp nhiều khó khăn, ít về số lượng (khoảng 15%), lại không đồng đều, như tại Bình Phước có doanh nghiệp trích 10% lợi nhuận trước thuế chỉ được khoảng 20 triệu đồng, có doanh nghiệp lại lên đến 189 tỷ đồng”.

Đọc tiếp »

TRẦN VŨ HẢI

Các bạn sinh viên ngành luật thường không nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp, nên tôi có một số ý ngắn gọn để giúp các bạn hiểu rõ hơn về Báo cáo tài chính khi học môn pháp luật tài chính doanh nghiệp.

Báo cáo tài chính và ý nghĩa của nó

Báo cáo tài chính thường bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Báo cáo thu nhập, có thể kèm theo Thuyết minh báo cáo tài chính.

Báo cáo tài chính được Ban giám đốc dùng để báo cáo với cổ đông, cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan, tổ chức liên quan.

Ý nghĩa cơ bản của từng loại như sau:

Bảng cân đối kế toán cho ta biết tổng giá trị sổ sách của tài sản trong doanh nghiệp và nguồn vốn tạo ra những tài sản ấy trong năm tài chính. Nó cũng cho ta biết những thông tin cơ bản về cấu trúc vốn và cấu trúc tài sản của doanh nghiệp. Bảng cân đối kế toán là bức ảnh chụp về thông tin kế toán vào cuối ngày 31/12 của năm tài chính. Do đó, để hiểu rõ hơn, người ta thường so sánh giữa số liệu đầu kỳ (ngày 31/12 của năm tài chính trước tức ngày 1/1 của năm tài chính hiện hành) và số liệu cuối kỳ hay nói cách khác, bảng cân đối kế toán thường sử dụng là gộp giữa hai bảng cân đối kế toán, đầu kỳ và cuối kỳ. Còn sự vận động của dòng tiền, tài sản trong năm thì nó mù tịt.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho ta biết dòng tiền đã chuyển dịch như thế nào trong năm tài chính, hay nói cách khác, nó cho biết lãnh đạo DN đã sử dụng tiền và tài sản như thế nào. Còn việc dùng tiền và tài sản có tạo ra được thu nhập hay không thì nó không được thể hiện.

Báo cáo thu nhập cho biết trong năm doanh nghiệp lỗ hay lãi bằng cách so sánh doanh thu và chi phí. Báo cáo thu nhập cũng cho biết thu nhập có được từ những hoạt động nào của doanh nghiệp.

Thuyết minh báo cáo tài chính giúp người đọc/cổ đông hiểu rõ hơn về báo cáo tài chính bằng việc diễn giải các số liệu. Việc thuyết minh sẽ có sức thuyết phục bằng cách sử dụng các chỉ số tài chính, ví dụ như tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tài sản lưu động hoặc các chỉ số mà các nhà đầu tư quan tâm như ROA, ROE, P/E, EPS, v.v.. Những chỉ số này cũng sẽ cho thấy có sự liên hệ giữa các báo cáo với nhau.

Đọc tiếp »

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về thanh toán bằng tiền mặt và quản lý nhà nước về thanh toán bằng tiền mặt trong một số giao dịch thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng của Nghị định này gồm: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước), tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Kho bạc Nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến thanh toán bằng tiền mặt.

Đọc tiếp »

Thực tiễn thời gian qua đặt ra khá nhiều yêu cầu về hiệu quả của quản lý chi tiêu công ở nước ta như: đầu tư công dàn trải, phân bổ vốn chậm, tỷ lệ đầu tư cao, tăng trưởng kinh tế thấp, cơ chế quản lý chất lượng, hiệu quả đầu tư còn lỏng lẻo, sự lãng phí các nguồn lực ở các doanh nghiệp nhà nước, sự kém hiệu quả về kinh tế – xã hội của các Chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án,… Điều này đòi hỏi hoạt động kiểm toán phải có những tiêu chí rõ ràng khi đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của các dự án đầu tư để từ đó phát hiện, ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những lãng phí, kém hiệu quả đó.

Tuy nhiên, trong thực tế, việc xác định tiêu chí đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả trong kiểm toán các Dự án đầu tư xây dựng công trình vẫn còn gặp một số khó khăn:

Thứ nhất, đặc thù công trình xây dựng mang tính đơn chiếc, đặc biệt là các công trình nhóm A, B nên việc so sánh tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả giữa các công trình gặp nhiều khó khăn.

Thứ hai, hầu hết công tác kiểm toán các dự án đầu tư mới chỉ dừng lại ở việc xác định chi phí đầu tư vào công trình, chưa thực sự kiểm toán một giai đoạn, hay một vòng đời của dự án. Do đó, kết quả kiểm toán khó có thể đưa ra ý kiến đánh giá được dự án hiệu quả hay không, có đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư hay không.

Thứ ba, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình nên Kiểm toán Nhà nước (KTNN) chủ yếu thực hiện kiểm toán các công trình công. Do đó, khó đánh giá được lợi ích kinh tế tính được bằng tiền, nhiều công trình mang yếu tố chính trị, xã hội. Tính kinh tế hay không phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của kiểm toán viên.

Thứ tư, kinh nghiệm về kiểm toán hoạt động của KTNN Việt Nam chưa nhiều.Hiện nay, KTNN chưa có các quy định, hướng dẫn cụ thể về phương pháp xây dựng các tiêu chí đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong kiểm toán hoạt động.

Thứ năm, hệ thống các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành liên quan về quản lý đầu tư chưa đồng bộ, thường xuyên có sự điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với thực tế.

Thứ sáu, hiểu biết về vai trò, tác dụng của kiểm toán hoạt động tại các đơn vị được kiểm toán chưa cao.Điều này tạo ra những khó khăn vướng mắc trong việc phối hợp xây dựng tiêu chí kiểm toán cho các cuộc kiểm toán hoạt động của KTNN trong những năm tới đây.

Một số chỉ tiêu cơ bản trong xây dựng tiêu chí kiểm toán tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình

Đọc tiếp »

LƯƠNG THỊ HỒNG NGÂN

Với hệ thống hơn 100 ngân hàng hiện đang có mặt tại Việt Nam bao gồm cả ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần(TMCP), ngân hàng nước ngoài, đặc biệt sự phát triển nóng của các ngân hàng TMCP trong thời gian vừa qua đang là bài toán thách thức đối với quản trị ngân hàng. Sức ép tăng vốn điều lệ, tăng trưởng mạnh về tổng tài sản, sự tăng trưởng nhanh về tín dụng, nợ xấu tăng cao, sự mở rộng các chi  nhánh/phòng giao dịch… đang là những vấn đề cần bàn trong quản trị ngân hàng. Hơn nữa hội nhập quốc tế đòi hỏi các ngân hàng phải quản trị theo thông lệ quốc tế trong đó hình thành nên bộ phận kiểm toán nội bộ là một vấn đề tất yếu. Kiểm toán nội bộ là công cụ quản trị hữu hiệu trong thời kỳ hội nhập. Trong phạm vi bài viết này tác giả muốn làm rõ hai khái niệm kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ đồng thời chỉ ra lợi ích của hoạt động kiểm toán nội bộ và đề xuất một số giải pháp xây dựng chiến lược kiểm toán nội bộ hiện đại trong các ngân hàng thương mại.

1. Kiểm toán nội bộ và lợi ích của hệ thống kiểm toán nội bộ

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Chín 2017
H B T N S B C
« Th7    
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,750,090 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Không dễ mua DNNN 23/09/2017
    (TBKTSG) - Quá trình cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thường xuyên được thúc đẩy bởi các chương trình tái cơ cấu DNNN trong suốt sáu năm qua, với mục tiêu và chi phí không nhỏ, song kết quả đạt được không tương xứng. Nhà đầu tư vẫn khẳng định: không dễ mua DNNN
  • Giải ngân cho dự án trọng điểm: lắm cha con khó lấy chồng 22/09/2017
    (TBKTSG) - Với dự án tuyến metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên (TPHCM), trong khi phía cung cấp vốn ODA là Nhật Bản đã chuẩn bị nguồn vốn sẵn sàng thì có gì đó không ổn trong việc điều phối vốn của các cơ quan quản lý nhà nước phía Việt Nam.
  • Tâm lý thận trọng tiếp diễn 21/09/2017
    (TBKTSG Online) - Thị trường mở cửa phiên giao dịch tiếp tục với tâm lý khá thận trọng. Có thể thấy sự suy yếu của các vốn hóa lớn như PLX, SAB, VNM, VIC, STB, DHG,… tạo áp lực khá lớn lên thị trường. Tạm dừng phiên giao dịch buổi sáng, chỉsố VN-Index giảm 2,68 điểm (-0,33%) xuống 803,18 điểm, trong khi HNX-Index tăng 0,34 điểm (+0,33%) lên 105,52 điểm. […]
  • Tâm lý thận trọng 20/09/2017
    (TBKTSG Online) - Thị trường mở cửa với tâm lý khá thận trọng tiếp nối sự điều chỉnh giảm điểm của cuối phiên hôm qua. Các cổ phiếu vốn hoá lớn như SAB, BHN, PLX, VNM, VIC, HPG, HSG, GAS… đồng loạt giảm điểm. Các cổ phiếu thép như HPG, HSG, NKG, POM, SMC,… nhìn chung đã hạ nhiệt sau vài phiên tăng gần đây. […]
  • Đà tăng chững lại 19/09/2017
    (TBKTSG Online) - Thị trường mở cửa phiên sáng với tâm lý thận trọng hơn và chứng kiến sự phân hóa tại nhóm cổ phiếu trụ cột. Đặc biệt, VCB trở thành tâm điểm khi bị khối ngoại bán ròng với số lượng gần 880.000 đơn vị. Cuối phiên sáng, nhóm cổ phiếu lớn vẫn chiếm ưu thế với các mã như BID, FPT, VIC, ROS, MSN, KDC,... giúp duy trì sắc xanh trên thị trường. Tạ […]
  • Cơ hội từ việc thoái vốn tại DNNN 19/09/2017
    (TBKTSG) - Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, mới đây Phó thủ tướng Vương Đình Huệ đã ký Quyết định số 1232/QĐ-TTg phê duyệt danh mục doanh nghiệp mà Nhà nước sẽ thực hiện thoái vốn và tỷ lệ thoái vốn tối thiểu theo từng năm của doanh nghiệp có vốn nhà nước giai đoạn 2017-2020. […]
  • FPT Retail sẽ lên sàn trước tháng 4-2018 19/09/2017
    (TBKTSG Online) - Theo thông tin từ Tập đoàn FPT, Công ty cổ phần bán lẻ kỹ thuật số (FPT Retail) dự kiến sẽ niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE) trước tháng 4-2018.
  • Những hệ lụy từ chuyện thừa tiền 19/09/2017
    (TBKTSG) - Báo cáo về tình hình kinh tế và thị trường tài chính của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (NFSC) trong tháng 8-2017 cho thấy số dư tiền gửi của Kho bạc Nhà nước (KBNN) tại các ngân hàng thương mại (NHTM) đang vào khoảng 160.000 tỉ đồng, tăng tới 68% so với cuối năm 2016. Tuy nhiên, nếu tính thêm số tiền gửi của KBNN tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) […]
  • Chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng cần ý kiến của Bộ Chính trị 18/09/2017
    (TBKTSG Online) - Quy định chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng, điều khoản đáng quan tâm nhất trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng, sẽ cần thêm ý kiến của Bộ Chính trị để được đưa ra kỳ họp Quốc hội cuối năm nay.
  • Tháng 11, Habeco sẽ hoàn tất đàm phán bán cổ phần cho Carlsberg 17/09/2017
    (TBKTSG Online) -  Đại diện Công ty cổ phần Bia-Rượu-Nước giải khát Hà Nội (Habeco) cho biết, cuộc đàm phán bán thêm cổ phần cho đối tác là hãng bia Carlsberg sẽ hoàn tất vào ngày 15-11.