You are currently browsing the category archive for the ‘Chinh sach cong’ category.

PGS,TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO

ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

Với sự kiện Hồ sơ Panama, các cơ quan thuế phải giám sát chặt chẽ hơn các doanh nghiệp đến từ các “thiên đường thuế”, đồng thời cần có những thông tin minh bạch về những tổ chức, cá nhân người Việt liên quan đến Hồ sơ này.

Vì sao Panama được gọi là “thiên đường thuế”

“Thiên đường thuế” là khái niệm được dịch thoát nghĩa từ thuật ngữ “tax haven” (nơi trú ẩn thuế) để chỉ các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ mà chính phủ tại đó áp dụng một mức thuế suất rất thấp đối với các hoạt động kinh doanh nói chung hoặc thậm chí là được miễn và không cần khai báo. Bên cạnh đó, tại các “thiên đường thuế”, thủ tục để đăng ký và thành lập một doanh nghiệp vô cùng đơn giản và nhanh chóng. Bất kỳ người nào cũng có thể thành lập được một công ty “5 không” tại các quốc gia này, đó là: không cần đặt chân đến đó, không cần công khai danh tính người chủ thực sự, không cần có trụ sở, không cần thuê mướn nhân viên, không cần chứng minh bất cứ điều gì về năng lực tài chính hoặc các yêu cầu về điều kiện  kỹ thuật. Chính vì lẽ đó mà các công ty được thành lập dưới dạng này tại đây thường bị gọi là công ty “ma” hoặc công ty “vỏ bọc” ở nước ngoài.

Đọc tiếp »

TS. VŨ THÀNH TỰ ANH

Chương trình Fulbright

(TBKTSG) – Trong 20 năm trở lại đây, chưa bao giờ bức tranh ngân sách xấu như bây giờ. Chi thường xuyên tăng nhanh bất thường, đặc biệt trong giai đoạn 2010-2012, khiến cho toàn bộ thu ngân sách hầu như chỉ vừa đủ cho chi thường xuyên.

Điều này cũng có nghĩa là để đầu tư phát triển buộc phải đi vay, và kết quả tất yếu là thâm hụt ngân sách triền miên, cả nợ chính phủ và nợ công đều đã vượt trần.

Thu ngân sách không đủ chi thường xuyên và trả nợ

Với sự năng nổ của ngành tài chính, tốc độ tăng thu ngân sách danh nghĩa của Việt Nam khá cao, trung bình 16% trong giai đoạn 2003-2015 (số liệu của 2014 và 2015 là ước tính), trong khi chỉ số giá tiêu dùng trung bình trong cùng giai đoạn chỉ là 8,8%. Thế nhưng ngay cả với tốc độ tăng nhanh như thế mà ngân sách hiện nay cũng không đủ để bù đắp chi thường xuyên và trả nợ.

Như minh họa trong hình 1, trong giai đoạn 2003-2011, chênh lệch giữa một bên là thu ngân sách (gồm cả viện trợ) và bên kia là chi thường xuyên và trả nợ (bao gồm cả nợ gốc và lãi) liên tục tăng. Thế nhưng trạng thái này thay đổi đột ngột từ năm 2012: từ mức thặng dư khá lớn là 112.000 tỉ đồng, thu ngân sách bị hụt so với chi thường xuyên và trả nợ tới 14.000 tỉ đồng. Xu hướng này vẫn đang tiếp tục và ước tính mức hụt của năm 2015 sẽ lên tới gần 100.000 tỉ đồng.

Khi thu ngân sách không đủ bù đắp cho chi thường xuyên và trả nợ thì hệ quả tất yếu là để có ngân sách cho đầu tư phát triển, Chính phủ buộc phải đi vay. Điều này có nghĩa là Chính phủ cứ đầu tư thêm đồng nào thì ngân sách sẽ thâm hụt thêm và nợ công sẽ tăng thêm đồng ấy.

Vì thế, Chính phủ hiện nay đang đứng trước tình thế tiến thoái lưỡng nan: Để duy trì tăng trưởng thì không thể không đầu tư, nhưng càng đầu tư thì ngân sách càng thâm hụt và nợ công càng tăng. Tình thế này càng trở nên nghiêm trọng khi ngân sách thâm hụt ở mức rất cao (trung bình 5,3%) trong một thời gian rất dài (từ năm 2000-2015), và khi mức nợ công (nếu tính đúng, tính đủ) đã vượt trần 65% từ lâu rồi. Nói tóm lại, tình trạng tài chính công hiện nay rất bấp bênh, vừa hết dư địa vừa chứa đựng nhiều bất trắc.

Chi thường xuyên tăng chóng mặt

Tại sao mức thiếu hụt của ngân sách so với chi thường xuyên và trả nợ ngày càng trở nên nghiêm trọng? Nguyên nhân chắc chắn không phải do thu ngân sách kém vì như đã chỉ ra ở trên, tốc độ tăng thu ngân sách của Việt Nam khá cao. Nguyên nhân cũng không hẳn đến từ việc trả nợ gốc và lãi, vì tốc độ tăng trả nợ danh nghĩa trong giai đoạn 2003-2015 là 15,8%, thấp hơn một chút so với tốc độ tăng thu ngân sách.
Nguyên nhân chính của tình trạng ngân sách hụt hơi là do chi thường xuyên danh nghĩa tăng với tốc độ chóng mặt, trung bình lên tới 19,6% trong giai đoạn 2003-2015. Với tốc độ tăng nhanh như thế này, tỷ lệ chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách (không kể chi trả lãi nợ vay) đã tăng từ 57,4% vào năm 2003 lên đến 80% theo ước tính lần đầu của ngân sách 2015 (hình 2).

Đáng lưu ý là cho đến năm 2011, tỷ lệ chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách vẫn chỉ là 52,3%, tức là thấp hơn đáng kể so với năm 2003. Thế nhưng chỉ trong vòng một năm, từ 2011-2012, tỷ lệ này tăng vọt lên 58,3% và vẫn tiếp tục tăng nhanh trong các năm sau đó.

Nếu nhìn vào hình 2, có thể có ý kiến cho rằng tỷ lệ chi thường xuyên thực ra tăng không quá cao, mà lý do có thể là các khoản chi chuyển nguồn đang được “tạm tính” trong thành phần của chi thường xuyên. Điều này hoàn toàn có thể, song cần nhớ hai điều. Thứ nhất, tỷ lệ chi thường xuyên giảm từ 57,4% năm 2003 xuống đáy 49,3% năm 2009, song tăng liên tục lên tới 60,4% năm 2013 (là năm gần nhất có quyết toán ngân sách). Thứ hai, tỷ lệ chi thường xuyên và chi đầu tư đã tăng liên tục từ mức 1,7 lần vào năm 2003 lên tới gần 3 lần vào năm 2013 và có thể lên tới 4 lần vào năm 2015.

Tựu trung lại, tất cả bằng chứng hiện nay đều cho thấy chi thường xuyên đang tăng rất nhanh trong năm năm trở lại đây, và đó là lý do chính khiến cho ngân sách hụt hơi và làm cho tình thế “tiến thoái lưỡng nan” của Chính phủ ngày càng trở nên trầm trọng.

Ngân sách quốc gia đang rơi vào tình cảnh khó khăn nghiêm trọng. Nghiêm trọng đến nỗi Bộ trưởng Bộ Tài chính phải thốt lên “mấy năm nay, điều hành ngân sách như kiểu đi trên dây. Năm 2016 tiếp tục đi trên dây. Cứ tình hình này kéo sang năm 2017, dây mà đứt thì chúng ta chết”, còn Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cảm thán rằng với vẻn vẹn 45.000 tỉ đồng ngân sách còn lại sau khi trừ đi chi thường xuyên thì “không biết phải làm gì, chưa nói đến phải trả nợ. Trả nợ xong gần như không có tiền để làm gì cả”.

Những cảnh báo như vậy là hết sức cần thiết, song cần thiết hơn là phải nhanh chóng thiết lập được kỷ luật ngân sách và cải thiện hiệu quả chi tiêu. Ngân sách quốc gia hiện nay đã hết dư địa, hoàn toàn không còn chỗ cho những dự án “ngàn tỉ” nằm đắp chiếu, hay cho hàng loạt tượng đài “vung tay quá trán,” và cho cả những dự án tiềm ẩn nhiều rủi ro như mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Nếu không chấm dứt tình trạng này, sự sụp đổ của nền tài khóa quốc gia là điều không thể tránh khỏi.

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài gòn online, 1/4/2016, 08:30 (GMT+7)

HẢI THU

Khu vực hóa và toàn cầu hóa là kết quả tất yếu của quá trình tự do hóa kinh tế và hội nhập quốc tế. Việt Nam đã và đang tham gia một cách tích cực vào các tiến trình hội nhập quốc tế thông qua việc ký kết các hiệp định đối tác kinh tế với các nước trong khu vực. Riêng đối với TPP, đã kết thúc tiến trình đàm phán ngày 04/10/2015, dự kiến sẽ ký kết trong năm 2015. Với phạm vi rộng và mức độ cam kết sâu, TPP còn được gọi là một hiệp định của thế kỷ 21(5 đặc điểm khiến TPP trở thành hiệp định mang tính bước ngoặt của thế kỷ 21: (i) Tiếp cận thị trường một cách toàn diện thông qua việc cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan về căn bản đối với tất cả các thương mại hàng hóa và dịch vụ. Điều chỉnh toàn bộ các lĩnh vực về thương mại và đầu tư nhằm tạo ra các cơ hội và lợi ích cho doanh nghiệp và người lao động, người tiêu dùng của các nước thành viên; (ii) Tiếp cận mang tính khu vực trong việc đưa ra các cam kết hội nhập nhằm tạo thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và dây chuyền cung ứng của các nước trong khu vực; (iii) Giải quyết các thách thức đối với thương mại thông qua việc thúc đẩy đổi mới, năng suất và tính cạnh tranh; (iv) Hiệp định TPP bao gồm các yếu tố mới được đưa vào để đảm bảo rằng các nền kinh tế ở tất cả các cấp độ phát triển và doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đều có thể hưởng lợi từ thương mại; (v) Là nền tảng cho hội nhập khu vực và được xây dựng để bao hàm cả những nền kinh tế khác xuyên khu vực châu Á – Thái Bình Dương.). TPP được kỳ vọng đem lại nhiều cơ hội lớn cho Việt Nam, tuy nhiên cũng sẽ mang đến không ít thách thức đối với nền kinh tế. 

Dịch vụ tài chính

Đọc tiếp »

PHẠM THỊ LY

Vấn đề cổ phần hóa các trường đại học (ĐH) công đã được chính thức đưa ra xem xét lần đầu năm 2007, với dự định chọn 15-20 trường để làm thí điểm, như là một biện pháp nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục. Lúc đó, do bị nhiều tầng lớp xã hội phản ứng nên vấn đề này đã bị tạm gác lại.

Nay, nó lại được đưa ra, dựa trên một thực tế là ngân sách nhà nước không đủ sức bao cấp cho các trường công hiện nay. Đồng thời, hệ thống này cần được tái cấu trúc theo hướng tăng cường sự đa dạng, trong đó chỉ còn một số ít trường công được duy trì với mức kinh phí thỏa đáng hơn, số còn lại sẽ chuyển sang cổ phần hóa, mà thực chất là tư nhân hóa.

Khác với năm 2007, vấn đề cổ phần hóa trường công lần này, không được đặt ra riêng biệt mà nằm trong bộ khung pháp lý chung của việc cổ phần hóa các đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm bệnh viện, cơ sở giáo dục đào tạo, các viện và trung tâm nghiên cứu (Quyết định 22/2015/QĐ-TTg ngày 22-6-2015 của Thủ tướng Chính phủ).

Thực ra Quyết định 22 khá dè dặt khi đề cập đến trường đại học: khoản 2, điều 1 nói về đối tượng áp dụng chỉ cho phép thí điểm cổ phần hóa một số trường và vẫn khích lệ hình thức trường công lập tự chủ tài chính.

Trước đó, dự thảo Tờ trình Thủ tướng Chính phủ về việc này, do Bộ Tài chính soạn vào tháng 12-2014 cho biết, sẽ tiến hành cổ phần hóa 30 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc các tập đoàn, tổng công ty của các bộ, trong đó có hai bệnh viện và 28 trường ĐH- cao đẳng/viện nghiên cứu. Giá trị thương hiệu và tiềm năng phát triển không tính vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa. Sau cổ phần hóa, các trường ĐH-cao đẳng sẽ hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và Luật Giáo dục đại học (GDĐH)

Lợi thì có lợi…

Đọc tiếp »

ThS.ĐẶNG THỊ BẠCH VÂN – QUAN HÁN XƯƠNG 

Từ nhiều năm trước đây, các quốc gia trên thế giới đã nhanh chóng thí điểm và đi vào áp dụng cơ chế tự khai tự nộp thuế nhằm đơn giản hóa hệ thống quản lý thuế và hướng đến khuyến khích tuân thủ tự nguyện.

Cơ chế này tạo sự chủ động cho người nộp thuế, đảm bảo tờ khai thuế phù hợp hơn với thực tế hoạt động SXKD trong bối cảnh số lượng người nộp thuế lẫn mức độ phức tạp của các hoạt động kinh doanh không ngừng gia tăng. Ngoài ra, việc thực hiện cơ chế tự khai tự nộp cũng nhằm nâng cao ý thức tự giác thực hiện pháp luật thuế. Ở góc độ quản lý thuế, cơ chế tự khai tự nộp tạo động lực để tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, tạo điều kiện tổ chức, sắp xếp bộ máy quản lý chuyên sâu, chặt chẽ và hiệu quả.

Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia thực thi cơ chế tự khai tự nộp đều thật sự hữu hiệu. Kinh nghiệm quản lý thuế của Singapore dựa trên nền tảng đặt niềm tin và củng cố niềm tin cũng được phân tích làm cơ sở đưa ra những khuyến nghị cần thiết cho cơ quan thuế Việt Nam.

Lý thuyết về niềm tin và tuân thủ tự nguyện

Đọc tiếp »

TS. LÊ XUÂN SANG

PHÓ VIỆN TRƯỞNG VIỆN KINH TẾ VIỆT NAM

1. Thông lệ trên thế giới trong việc Chính phủ vay Ngân hàng Trung ương khi gặp khó khăn về ngân sách

Trên thế giới, việc Ngân hàng Trung ương (NHTW) cho Chính phủ vay để giải quyết những khó khăn về tài khóa được quy định theo các điều khoản pháp lý khác nhau. Khảo sát toàn cầu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tại 152 nước theo các trình độ phát triển, vị trí địa lý và chế độ tỷ giá khác nhau cho thấy kết quả như sau: có tới 51/152 nước được khảo sát cấm NHTW cho Chính phủ vay; 41/152 (27%) nước được phép cho Chính phủ vay và 57/152 (37,5%) cho Chính phủ ứng trước, nói cách khác, có 98 nước hay gần 2/3 số nước được khảo sát được phép cho Chính phủ vay dài hạn và ứng trước (vay ngắn hạn); còn lại chỉ có 3 quốc gia là không có điều khoản pháp lý quy định về vấn đề này.

Dưới đây chi tiết hóa các quy định cụ thể.

Đọc tiếp »

(TBKTSG Online) – “Lãi suất và thị trường là hai mấu chốt đang có vấn đề thực sự mà doanh nghiệp cần chú ý từ nay đến cuối năm và có thể cả năm sau”, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, hiện là thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, nhấn mạnh trong cuộc trả lời phỏng vấn TBKTSG.

Ông nói: “Dự báo mới nhất của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) làm tôi lo ngại. Họ không còn nói kinh tế thế giới tăng trưởng chậm hoặc phục hồi chậm như trước, mà dùng từ suy giảm dài hạn”.

TBKTSG: Có phải ý ông muốn đề cập đến giá hàng hóa cơ bản trên thị trường quốc tế vẫn đang đi xuống không?

– Ông Lê Xuân Nghĩa: Đúng vậy. Trên thị trường quốc tế sáu tháng đầu năm giá hàng hóa cơ bản giảm 6%, nhất là nông sản. Doanh nghiệp Việt Nam cách đây hai năm đầu tư nhiều để chuẩn bị đón đầu các hiệp định thương mại tự do. Họ đầu tư công nghệ theo kiểu nửa hiện đại, nửa cổ điển. Thí dụ máy xén giấy, họ mua dao cắt, phần điều khiển của Mỹ, của châu Âu, phần còn lại họ mua của Trung Quốc vì rẻ. Đó là cách đầu tư “liệu cơm gắp mắm” của người Việt, cũng tốt. Nhưng đáng lo là tất cả những khoản đầu tư đó đều hướng đến xuất khẩu. Nếu năm nay là đáy của giá hàng hóa, thì năm sau giá có thể lên. Tuy nhiên theo dự báo của IMF, năm nay có thể chưa là đáy, năm sau giá vẫn nằm ngang như thế, thì nhiều doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu.

Đọc tiếp »

NGUỒN: BỘ CÔNG THƯƠNG

Ngày 05 tháng 10 năm 2015, Bộ trưởng của 12 nước tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) gồm Ốt-xtrây-lia, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po, Hoa Kỳ và Việt Nam, đã tuyên bố kết thúc đàm phán. Kết quả đàm phán là một hiệp định chất lượng cao, tham vọng, toàn diện và cân bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; hỗ trợ tạo ra và duy trì việc làm; thúc đẩy việc đổi mới, năng suất và tính cạnh tranh; nâng cao mức sống; giảm nghèo tại các nước; và nâng cao minh bạch hóa, quản trị tốt cũng như bảo hộ lao động và bảo vệ môi trường. Chúng tôi coi việc kết thúc đàm phán hiệp định này với các tiêu chuẩn mới và cao về thương mại và đầu tư tại khu vực châu Á Thái Bình Dương là một bước quan trọng để tiến tới mục tiêu cao nhất về thương mại tự do và hội nhập trên toàn khu vực.

CÁC ĐẶC ĐIỂM CHÍNH

Có 5 đặc điểm chính làm TPP trở thành một hiệp định mang tính bước ngoặc của thế kỷ 21, tạo ra một tiêu chuẩn mới cho thương mại toàn cầu trong khi vẫn đề cập tới các vấn đề mang tính thế hệ mới. Các đặc điểm đó bao gồm:

· Tiếp cận thị trường một cách toàn diện. Hiệp định TPP cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế về căn bản đối với tất cả thương mại hàng hóa và dịch vụ và điều chỉnh toàn bộ các lĩnh vực về thương mại trong đó có thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư nhằm tạo ra các cơ hội và lợi ích mới cho doanh nghiệp, người lao động và người tiêu dùng của các nước thành viên.

· Tiếp cận mang tính khu vực trong việc đưa ra các cam kết. Hiệp định TPP tạo thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và dây chuyền cung ứng, cũng như thương mại không gián đoạn, đẩy mạnh tính hiệu quả và hỗ trợ thực hiện mục tiêu về tạo việc làm, nâng cao mức sống, thúc đẩy các nỗ lực bảo tồn và tạo thuận lợi cho việc hội nhập qua biên giới cũng như mở cửa thị trường trong nước.

· Giải quyết các thách thức mới đối với thương mại. Hiệp định TPP thúc đẩy việc đổi mới, năng suất và tính cạnh tranh thông qua việc giải quyết các vấn đề mới, trong đó bao gồm việc phát triển nền kinh tế số và vai trò ngày càng tăng của các doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế toàn cầu.

· Bao hàm toàn bộ các yếu tố liên quan đến thương mại. Hiệp định TPP bao gồm các yếu tố mới được đưa ra để bảo đảm rằng các nền kinh tế ở tất cả các cấp độ phát triển và doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đều có thể hưởng lợi từ thương mại. Hiệp định bao gồm các cam kết nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiểu rõ về Hiệp định, tận dụng được những cơ hội mà Hiệp định mang lại và nêu lên những thách thức đáng chú ý tới chính phủ các nước thành viên. Hiệp định cũng bao gồm những cam kết cụ thể về phát triển và nâng cao năng lực thương mại để đảm bảo rằng tất cả các Bên đều có thể đáp ứng được những cam kết trong Hiệp định và tận dụng được đầy đủ những lợi ích của Hiệp định.

· Nền tảng cho hội nhập khu vực. Hiệp định TPP được ra đời để tạo ra nền tảng cho việc hội nhập kinh tế khu vực và được xây dựng để bao hàm cả những nền kinh tế khác xuyên khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

PHẠM VI

Đọc tiếp »

ĐẬU ANH TUẤN

TRƯỞNG BAN PHÁP CHẾ

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Đẩy mạnh phát triển kinh tế và chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả là một trong những định hướng quan trọng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta.

Thời gian qua, Chính phủ đã ký kết và thực thi nhiều hiệp định mở cửa thương mại quan trọng, trong đó đáng kể là Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA), gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và 10 Hiệp định thương mại tự do (FTA). Sắp tới đây sẽ là những FTA thế hệ mới với một loạt các đối tác thương mại hàng đầu thế giới như Hoa Kỳ, EU… được ký kết.

Các Hiệp định này mở ra con đường hội nhập thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam cũng như toàn bộ nền kinh tế với các đối tác thương mại lớn. Đồng thời thông qua việc thực thi các cam kết trong đó, môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam cũng được cải thiện mạnh mẽ, tạo điều kiện để doanh nghiệp tự do sáng tạo, kinh doanh, làm giàu cho mình và cho đất nước.

Mặc dù vậy, có một thực tế đầy lo ngại là dường như những lợi ích tiềm tàng to lớn từ những Hiệp định, thỏa thuận thương mại này đã chưa được hiện thực hóa bao nhiêu trên thực tế. Ở thị trường xuất khẩu, chỉ mới khoảng 30% hàng hóa Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA. Trong khi đó thị trường nội địa lại chứng kiến sự đổ bộ nhanh chóng của hàng hóa, dịch vụ nước ngoài. Dường như doanh nghiệp Việt Nam sau hai thập kỷ hội nhập tính từ thời điểm gia nhập ASEAN đến nay vẫn đang loay hoay, lúng túng trong việc tìm ra cách thức để hội nhập hiệu quả.

Tất nhiên lời giải cho bài toán này trước hết nằm ở doanh nghiệp, trong việc tìm biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập.

Dù vậy, từ góc độ khác, sự hỗ trợ từ Nhà nước là rất cần thiết để các doanh nghiệp Việt Nam, vốn còn nhỏ bé, non trẻ và yếu ớt trong cuộc chơi với các đối thủ sừng sỏ, dày dạn kinh nghiệm, có thể tồn tại, lớn lên kiên cường và cạnh tranh sòng phẳng trong nền kinh tế toàn cầu hóa này.

Ở đây tôi chỉ xin đề cập tới 02 vấn đề lớn nhất mà doanh nghiệp đang rất cần sự hỗ trợ từ Nhà nước để hội nhập hiệu quả:

I. Doanh nghiệp cần Nhà nước hỗ trợ về cơ chế để có các tổ chức đại diện mạnh và hiệu quả

Đọc tiếp »

VŨ THÀNH TỰ ANH (*)

(TBKTSG) – Kiến thiết một nền giáo dục đại học thực thụ và tạo sinh khí cho nó là điều kiện tiên quyết để đưa nước ta trở nên giàu mạnh và văn minh. Không thể có một nền đại học thực thụ nếu không có tự do học thuật.

Tuy có hơn 300 trường đại học nhưng nước ta vẫn chưa có một nền đại học thực thụ. Do vậy không đáng ngạc nhiên khi các trường đại học của ta lạc hậu ngay cả với các trường đại học trong khu vực Đông Nam Á. Với một đất nước hơn 90 triệu dân, lại đang ở cuối thời kỳ dân số vàng, đây là một cơ hội bị bỏ lỡ, đồng thời là một bất lợi to lớn khi hội nhập và cạnh tranh toàn cầu. Kinh nghiệm thế giới cho thấy bên cạnh năng suất và thể chế, giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng là một trụ cột cho phát triển kinh tế.

Tự do học thuật – thành tố thiết yếu của một nền đại học thực thụ

Đọc tiếp »

HÀ THU (theo New York Times)

Động thái được đánh giá là một mũi tên trúng 2 đích, vừa thúc đẩy kinh tế trong nước, vừa tăng quyền lực cho đồng nhân dân tệ để củng cố vai trò của Trung Quốc trên toàn cầu.

Nhân dân tệ (NDT) đã xuống đáy 4 năm so với USD, sau động thái hạ tỷ giá tham chiếu thêm 1,6% sáng nay. Tỷ giá giao dịch tại Trung Quốc đã rơi xuống 6,44 NDT đổi một USD – thấp nhất từ tháng 8/2011. Trên thị trường quốc tế, giá này còn xuống 6,57 NDT.china-8736-1439372452.jpg

Động thái của Trung Quốc đã khiến nhiều tiền tệ châu Á mất giá theo. Rupiah Indonesia và ringgit Malaysia đã xuống đáy 17 năm so với USD. Trong khi đó, đôla Australia và đôla New Zealand xuống thấp nhất 6 năm.

Thị trường chứng khoán toàn cầu cũng không tránh khỏi ảnh hưởng. Đến 4h chiều nay, Nikkei 225 (Nhật Bản) đã mất 1,5%, Hang Seng Index trên sàn Hong Kong cũng giảm 3,9%. S&P/ASX 200 (Australia) mất 2,67%. Tại châu Âu, các thị trường mới mở cửa cũng đã phát tín hiệu giảm. FTSE 100 (Anh) mất 0,6%. Mức giảm này của DAX (Đức) là 0,9% và CAC (Pháp) là 0,6%.

Đọc tiếp »

HOÀNG KHANG

(TBKTSG Online) – Nhà đấy nghèo, có lẽ là nhất xóm, vì có tên trong danh sách cứu đói của chính quyền địa phương, và vì láng giềng vẫn cứ phải thường xuyên giúp đỡ lúc thì lon gạo, lúc lại rổ khoai, do thu nhập của gia đình này hàng tháng chỉ đủ ăn trong một tuần.

Chương trình xóa đói giảm nghèo nào nhà đấy cũng được tham gia, được cấp vốn hay mượn vốn, nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo vì những đồng vốn ít ỏi ấy chẳng phải được dùng để làm ăn, mà chỉ tiêu tán hết.

Nhưng, ở nhà thì thôi, chứ mỗi lần ra phố, con cái nhà đấy lại “vận hàng hiệu” đúng kiểu, từ quần áo, giày dép đến giỏ xách. Họ chỉ tự biết với nhau rằng hàng hiệu này được mua từ những đồng tiền cứu đói.

Chuyện đó khó lòng xảy ra trong thực tế nhưng nhìn một cách nào đó, cách Sơn La đòi chi 1.400 tỉ đồng gây xôn xao dư luận mấy ngày qua cũng không khác bao nhiêu.

Con số 1.400 tỉ đồng mà chính quyền tỉnh Sơn La dự định dùng để xây cụm tượng đài Bác Hồ và những công trình liên quan thật sự gây “choáng” cho cộng đồng cả nước suốt ba ngày qua. Với nhiều thành phố lớn trên cả nước,con số 1.400 tỉ đồng này đã là vấn đề phải “nâng lên đặt xuống” nhiều lần, cân nhắc giữa đồng vốn và hiệu quả, thế mà một địa phương chạy ăn từng bữa như Sơn La lại có thể dễ dàng thông qua.

Như đã đăng tải trên báo chí, Hội đồng Nhân dân tỉnh Sơn La đã ra nghị quyết 127/NQ-HĐND ngày 8-7-2015, thông qua chủ trương đầu tư cho cụm tượng đài này với tổng vốn đầu tư lên đến 1.400 tỉ đồng. Dự án này bao gồm nhóm tượng đài Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc, quảng trường có sức chứa 20.000 người, đền thờ Bác Hồ, đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ, bảo tàng tổng hợp, khu nhà điều hành, đón tiếp…, tất cả đều là các công trình phi kinh tế.

Đọc tiếp »

TRƯƠNG THANH ĐỨC

LUẬT SƯ, TRỌNG TÀI VIÊN VIAC

(TBKTSG) Ngày 25-3-2015, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có Văn bản số 1821 về việc thoái vốn của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại các tổ chức tín dụng (TCTD) cổ phần. Văn bản này chủ yếu nhắc lại các quy định mà các DNNN và đơn vị có liên quan phải thực hiện khi chuyển nhượng cổ phần tại các tổ chức tín dụng. Bài viết của Luật sư Trương Thanh Đức(*) nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức chuyển nhượng vốn của DNNN tại các TCTD.

Việc thoái vốn của doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước (DNNN) tại các TCTD cổ phần đang được yêu cầu đẩy nhanh tiến độ. Đây là việc làm rất cần thiết, tuy nhiên, nghiêng về khả năng thực hiện theo cơ chế thị trường hay cơ chế hành chính là vấn đề đặt ra.

Yêu cầu thoái vốn bắt buộc

DNNN không được góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng (trừ những trường hợp đặc biệt theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) và nếu đã góp vốn, đầu tư, thì phải thoái hết số vốn đã đầu tư. Việc này đã được quy định tại khoản 1, điều 29 về “Đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp”, Nghị định số 71/2013 ngày 11-7-2013 của Chính phủ về Đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Vấn đề này cũng đã được nhắc lại trong Quyết định số 51/2014 của Thủ tướng Chính phủ, Thông báo số 85 ngày 11-3-2015 của Văn phòng Chính phủ và gần đây nhất là Công văn số 1821 ngày 25-3-2015 của NHNN.

Theo các văn bản trên, có hai trường hợp liên quan đến việc thoái vốn phải được NHNN xem xét chấp thuận theo quy định tại Luật các TCTD và Thông tư số 06/2010 ngày 26-2-2010 của Thống đốc NHNN.

Thứ nhất là trường hợp cổ đông lớn (sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên) của TCTD phải chuyển nhượng cổ phần. Thứ hai là cổ đông nhận chuyển nhượng cổ phần (dù sẽ hay không trở thành cổ đông lớn của TCTD).

Đối với trường hợp thứ nhất thì sẽ không có vướng mắc, do đơn thuần là thủ tục mang tính hình thức, vì việc chuyển nhượng là bắt buộc theo yêu cầu của Chính phủ. Vấn đề chỉ còn là bán thế nào, bán giá nào và bán cho ai? Điều này cũng đồng thời liên quan đến trường hợp thứ hai, đó là ai sẽ là người mua và nhất là ai sẽ trở thành cổ đông lớn của các ngân hàng cổ phần?

Thoái vốn thông qua thị trường

Đọc tiếp »

TRƯƠNG TRỌNG HIẾU

TRƯỜNG ĐH KINH TẾ – LUẬT, ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM

Không ai phủ nhận sự cần thiết của việc hình thành chính sách và khung pháp lý cạnh tranh. Tuy nhiên, sự nới lỏng hay thắt chặt chính sách này cũng sẽ là nhân tố đưa nền kinh tế đi về những hướng nghịch chiều. Chính vì vậy, quá trình áp dụng chính sách cạnh tranh (competition policy) – CSCT luôn đặt song hành với chính sách công nghiệp (industrial policy) – CSCN để bảo đảm hiệu suất chung của nền kinh tế. Ở Việt Nam, những ưu trội thị trường mà đội ngũ doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hiện có được tạo dựng chính yếu từ chính sách phát triển kinh tế của quốc gia. Chính vì vậy, việc tái cấu trúc DNNN dưới ánh sáng của luật cạnh tranh không thể không xem xét đến những yếu tố đã tạo dựng nên thứ độc quyền nhà nước đó.

Bài viết giới thiệu tổng quan về thực tiễn mối quan hệ giữa CSCN với CSCT và quá trình tái cấu trúc DNNN dưới tác động của CSCT ở Việt Nam.

1. Tổng quan về chính sách công nghiệp trong mối quan hệ với chính sách cạnh tranh

1.1. CSCN và CSCT: xung đột và liên hệ

Thuật ngữ CSCN được sử dụng để diễn tả nhiều vấn đề khác nhau, tùy từng hoàn cảnh, điều kiện quốc gia lẫn quan điểm và góc độ phân tích của từng nhà nghiên cứu. Theo mô tả của OECD[1], CSCN được dùng để chỉ sự can thiệp của chính phủ làm ảnh hưởng đến các quyết định kinh doanh; sự khuyến khích các ngành/lĩnh vực cụ thể; hoặc chính sách bảo hộ quốc gia (như là đòi hỏi về cơ cấu sản phẩm nội địa trong mua sắm công, sự hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến các công ty cụ thể) hoặc là các chính sách can thiệp khác của chính phủ (như nhằm tạo ra doanh nghiệp hùng mạnh quốc gia và bảo vệ họ trước các đối thủ cạnh tranh cũng như sự thâu tóm từ nước ngoài)[2].

Khởi thuỷ, CSCN xuất hiện khi thị trường có “khuyết tật”, và để khắc phục những “khuyết tật” đó của thị trường[3]. Tuy nhiên, mục tiêu của CSCN tại các quốc gia trên thực tế đôi khi đã vượt ra khỏi nhiệm vụ mặc định này, và tùy thuộc rất nhiều việc quốc gia đó đang muốn gì trong tiến trình “chuyên môn hóa nền kinh tế” [4] của mình. Chẳng hạn, sự “can thiệp” trong CSCN của quốc gia này có thể nhắm vào khối doanh nghiệp tư nhân, nhưng ở quốc gia khác đối tượng được quan tâm nhiều có thể là doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, như Trung Quốc[5], Hàn Quốc (giai đoạn đầu)[6]

Nhưng nhìn chung, sứ mệnh chính yếu của CSCN được xác định là bảo vệ nền kinh tế nội địa trước sức ép cạnh tranh từ bên ngoài, và từ đó, tạo sức cạnh tranh cho nền kinh tế nội địa có khả năng cạnh tranh trong những hoạt động thương mại toàn cầu. Vì điều này, nội dung của CSCN cũng thường bao hàm cả “chính sách quốc gia mũi nhọn” (national champion policy) với chiến lược tạo ra và duy trì những doanh nghiệp hùng mạnh của quốc gia và bảo vệ họ trước sức cạnh tranh của đối thủ hay khả nămg thâu tóm bởi các nhà đầu tư nước ngoài[7]. Thông thường, để làm được như vậy, các quốc gia thường gia tăng, có thể là gây sức ép, để quá trình sáp nhập giữa các doanh nghiệp nội địa diễn ra. Điều này có thể hơi trái ngược với chính sách quản lý sáp nhập. Nhưng các chính phủ vẫn có thể chọn giải pháp “bẻ cong quy trình sáp nhập” để đạt được mục tiêu CSCN đề ra[8].

Đọc tiếp »

MINH ĐỨC

Một tuần sau sự kiện Ngân hàng Nhà nước tuyên bố mua lại bắt buộc toàn bộ vốn cổ phần của Ngân hàng Xây dựng (VNCB) với giá 0 đồng/cổ phần, thị trường vẫn chưa thể định hình một hướng nhìn thống nhất.
Lần đầu tiên Việt Nam mới có trường hợp xử lý như vậy. Một tiền lệ đặc biệt! Cũng vì là lần đầu tiên, nên càng cần có nhiều phân tích, soi chiếu để đúc kết về một bài học kinh nghiệm, một luật chơi trong kinh doanh, cũng như một ứng xử của nhà quản lý.
Nói không quá, có thể xem đây là một “bước tiến hóa đặc biệt” trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.
Một tiền lệ chưa rõ ràng
Thế nhưng, cho đến nay, ngoài thông cáo vẻn vẹn trong một trang giấy của Ngân hàng Nhà nước, không có thêm những thông tin công bố chính thống cần thiết để nhìn nhận một cách đầy đủ về tiền lệ này.
Diễn biến phiên họp đại hội đồng cổ đông bất thường của VNCB cũng không được thông tin trên báo chí, dù đây là một ngân hàng đại chúng, có trên 500 cổ đông.
Nhưng những điều đó không giới hạn các góc nhìn. Với các cổ đông của VNCB, đây là tiền lệ khắc nghiệt. Với người ngoài cuộc, một số quan điểm xem là một tiền lệ chưa rõ ràng.
VnEconomy đã tham vấn quan điểm 6 lãnh đạo cao cấp ở các ngân hàng thương mại. Đó là 6 góc nhìn bước đầu khác nhau. Nói là bước đầu, bởi lần đầu tiên có tình huống xử lý như vậy, mà lại thiếu các thông tin nội tại cần thiết để định hình.
3/6 lãnh đạo nói trên đều có ý rằng, họ chưa kịp định hình và chưa nghiên cứu sự kiện này. Nhưng có một số điểm còn băn khoăn.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Năm 2016
M T W T F S S
« Apr    
 1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,512,833 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • NHNN sẽ xin ý kiến Thủ tướng về yêu cầu cổ tức của Bộ Tài chính 31/05/2016
    (TBKTSG Online) – Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ gửi công văn xin ý kiến của Thủ tướng Chính phủ sau khi Bộ Tài chính mới đây đề nghị NHNN chỉ đạo người đại diện phần vốn nhà nước tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) biểu quyết chia cổ tức năm tài chính 2015 bằng tiền mặt và nộp toàn bộ số […]
  • Ưu tiên giải ngân cho khách hàng vay gói 30.000 tỉ ký trước 31-3 31/05/2016
    (TBKTSG Online) – Những khách hàng cá nhân, hộ gia đình vay gói 30.000 tỉ đồng đã ký hợp đồng vay trước ngày 31-3-2016 sẽ được ưu tiên giải ngân, với điều kiện phải mua, thuê, thuê mua nhà ở, xây dựng mới, cải tạo sửa chữa lại nhà ở trước ngày 31-12-2016, theo một phương án về gia hạn Chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở vừa được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trình […]
  • Bộ Tài chính yêu cầu BIDV và Vietinbank chia lãi tiền mặt 31/05/2016
    (TBKTSG Online) - “Bộ Tài chính đề nghị Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo người đại diện phần vốn Nhà nước tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển (BIDV) và Ngân hàng TMCP Công thương (Vietinbank) biểu quyết chia cổ tức năm tài chính 2015 bằng tiền mặt và nộp toàn bộ số cổ tức được chia cho phần vốn Nhà nước tại hai ngân hàng trên vào ngân sách nhà nước” – đây là n […]
  • Tỷ giá giảm nhẹ 31/05/2016
    (TBKTSG Online) – Tỷ giá giữa tiền đồng Việt Nam và đô la Mỹ niêm yết tại các ngân hàng thương mại cũng như trên thị trường tự do đã giảm trở lại trong ngày hôm nay, 31-5, mặc dù tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố vẫn tiếp tục tăng.
  • Thị trường: NHNN đã chọn GDP! 31/05/2016
    (TBKTSG Online) - Nhận định ban đầu của các tổ chức tài chính, ngân hàng về Thông tư 06 và 07 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho rằng NHNN với thống đốc mới đã chọn GDP thay vì tiếp tục tập trung trực diện vào sức khỏe hệ thống tổ chức tín dụng.
  • Lấp ló nỗi lo lạm phát 30/05/2016
    (TBKTSG) - Không ít nhà đầu tư đã và đang hy vọng giá dầu thô thế giới sẽ chạm ngưỡng 50 rồi sau đó có thể là 55, thậm chí 60 đô la Mỹ/thùng để cổ phiếu dầu khí trở lại được mức giá của một nửa cách đây 2-3 năm. Nhưng một bộ phận khác nhà đầu tư lại không nghĩ thế. Họ biết rằng sự tăng giá dầu thô có thể dẫn đến một kết cục không mấy dễ chịu cho chứng khoán. […]
  • Được “nới cương”, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục hạ 30/05/2016
    (TBKTSG Online) - Sau khi Thông tư 06 nới lỏng hơn các “dây cương” về tỷ lệ an toàn của các  tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhá nước (NHNN) ban hành cuối tuần qua, sức ép thanh khoản đối với các ngân hàng tiếp tục được giảm bớt.
  • Tái cơ cấu ngành ngân hàng: Đến lúc cần có nhà đầu tư nước ngoài 30/05/2016
    (TBKTSG) - “Trong giai đoạn cải cách mạnh mẽ sắp tới, tôi mong muốn các nhà đầu tư nước ngoài tham gia tích cực hơn nữa vào quá trình tái cơ cấu cùng các ngân hàng trong nước”, tân Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam Lê Minh Hưng đã bày tỏ như thế tại Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo ngân hàng châu Á lần thứ 17 vừa qua diễn ra ở Hà Nội. […]
  • Tỷ giá lên mức cao nhất hơn 4 tháng 30/05/2016
    (TBKTSG Online) - Tỷ giá giữa tiền đồng Việt Nam và đô la Mỹ (USD/VND) được niêm yết tại các ngân hàng hôm nay, 30-5, tăng lên mức cao nhất trong hơn 4 tháng qua, xoay quanh mức 22.450-22.455 đồng/đô la Mỹ tại một số ngân hàng, tăng khoảng 100 đồng so với đầu tuần trước.
  • Chuyện hợp nhất hai sàn chứng khoán 29/05/2016
    (TBKTSG) - Bộ chỉ số chung đầu tiên của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đang được Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE) và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) xây dựng, dự kiến đưa ra thị trường trong năm nay. Bước đi này được giới chứng khoán hiểu là khởi đầu của việc đưa hai sở giao dịch chứng khoán về chung mái nhà - một kế hoạch đã được khởi độn […]
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 227 other followers