You are currently browsing the category archive for the ‘Chinh sach cong’ category.

TRƯƠNG TRỌNG HIẾU

TRƯỜNG ĐH KINH TẾ – LUẬT, ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM

Không ai phủ nhận sự cần thiết của việc hình thành chính sách và khung pháp lý cạnh tranh. Tuy nhiên, sự nới lỏng hay thắt chặt chính sách này cũng sẽ là nhân tố đưa nền kinh tế đi về những hướng nghịch chiều. Chính vì vậy, quá trình áp dụng chính sách cạnh tranh (competition policy) – CSCT luôn đặt song hành với chính sách công nghiệp (industrial policy) – CSCN để bảo đảm hiệu suất chung của nền kinh tế. Ở Việt Nam, những ưu trội thị trường mà đội ngũ doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hiện có được tạo dựng chính yếu từ chính sách phát triển kinh tế của quốc gia. Chính vì vậy, việc tái cấu trúc DNNN dưới ánh sáng của luật cạnh tranh không thể không xem xét đến những yếu tố đã tạo dựng nên thứ độc quyền nhà nước đó.

Bài viết giới thiệu tổng quan về thực tiễn mối quan hệ giữa CSCN với CSCT và quá trình tái cấu trúc DNNN dưới tác động của CSCT ở Việt Nam.

1. Tổng quan về chính sách công nghiệp trong mối quan hệ với chính sách cạnh tranh

1.1. CSCN và CSCT: xung đột và liên hệ

Thuật ngữ CSCN được sử dụng để diễn tả nhiều vấn đề khác nhau, tùy từng hoàn cảnh, điều kiện quốc gia lẫn quan điểm và góc độ phân tích của từng nhà nghiên cứu. Theo mô tả của OECD[1], CSCN được dùng để chỉ sự can thiệp của chính phủ làm ảnh hưởng đến các quyết định kinh doanh; sự khuyến khích các ngành/lĩnh vực cụ thể; hoặc chính sách bảo hộ quốc gia (như là đòi hỏi về cơ cấu sản phẩm nội địa trong mua sắm công, sự hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến các công ty cụ thể) hoặc là các chính sách can thiệp khác của chính phủ (như nhằm tạo ra doanh nghiệp hùng mạnh quốc gia và bảo vệ họ trước các đối thủ cạnh tranh cũng như sự thâu tóm từ nước ngoài)[2].

Khởi thuỷ, CSCN xuất hiện khi thị trường có “khuyết tật”, và để khắc phục những “khuyết tật” đó của thị trường[3]. Tuy nhiên, mục tiêu của CSCN tại các quốc gia trên thực tế đôi khi đã vượt ra khỏi nhiệm vụ mặc định này, và tùy thuộc rất nhiều việc quốc gia đó đang muốn gì trong tiến trình “chuyên môn hóa nền kinh tế” [4] của mình. Chẳng hạn, sự “can thiệp” trong CSCN của quốc gia này có thể nhắm vào khối doanh nghiệp tư nhân, nhưng ở quốc gia khác đối tượng được quan tâm nhiều có thể là doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, như Trung Quốc[5], Hàn Quốc (giai đoạn đầu)[6]

Nhưng nhìn chung, sứ mệnh chính yếu của CSCN được xác định là bảo vệ nền kinh tế nội địa trước sức ép cạnh tranh từ bên ngoài, và từ đó, tạo sức cạnh tranh cho nền kinh tế nội địa có khả năng cạnh tranh trong những hoạt động thương mại toàn cầu. Vì điều này, nội dung của CSCN cũng thường bao hàm cả “chính sách quốc gia mũi nhọn” (national champion policy) với chiến lược tạo ra và duy trì những doanh nghiệp hùng mạnh của quốc gia và bảo vệ họ trước sức cạnh tranh của đối thủ hay khả nămg thâu tóm bởi các nhà đầu tư nước ngoài[7]. Thông thường, để làm được như vậy, các quốc gia thường gia tăng, có thể là gây sức ép, để quá trình sáp nhập giữa các doanh nghiệp nội địa diễn ra. Điều này có thể hơi trái ngược với chính sách quản lý sáp nhập. Nhưng các chính phủ vẫn có thể chọn giải pháp “bẻ cong quy trình sáp nhập” để đạt được mục tiêu CSCN đề ra[8].

Đọc tiếp »

MINH ĐỨC

Một tuần sau sự kiện Ngân hàng Nhà nước tuyên bố mua lại bắt buộc toàn bộ vốn cổ phần của Ngân hàng Xây dựng (VNCB) với giá 0 đồng/cổ phần, thị trường vẫn chưa thể định hình một hướng nhìn thống nhất.
Lần đầu tiên Việt Nam mới có trường hợp xử lý như vậy. Một tiền lệ đặc biệt! Cũng vì là lần đầu tiên, nên càng cần có nhiều phân tích, soi chiếu để đúc kết về một bài học kinh nghiệm, một luật chơi trong kinh doanh, cũng như một ứng xử của nhà quản lý.
Nói không quá, có thể xem đây là một “bước tiến hóa đặc biệt” trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.
Một tiền lệ chưa rõ ràng
Thế nhưng, cho đến nay, ngoài thông cáo vẻn vẹn trong một trang giấy của Ngân hàng Nhà nước, không có thêm những thông tin công bố chính thống cần thiết để nhìn nhận một cách đầy đủ về tiền lệ này.
Diễn biến phiên họp đại hội đồng cổ đông bất thường của VNCB cũng không được thông tin trên báo chí, dù đây là một ngân hàng đại chúng, có trên 500 cổ đông.
Nhưng những điều đó không giới hạn các góc nhìn. Với các cổ đông của VNCB, đây là tiền lệ khắc nghiệt. Với người ngoài cuộc, một số quan điểm xem là một tiền lệ chưa rõ ràng.
VnEconomy đã tham vấn quan điểm 6 lãnh đạo cao cấp ở các ngân hàng thương mại. Đó là 6 góc nhìn bước đầu khác nhau. Nói là bước đầu, bởi lần đầu tiên có tình huống xử lý như vậy, mà lại thiếu các thông tin nội tại cần thiết để định hình.
3/6 lãnh đạo nói trên đều có ý rằng, họ chưa kịp định hình và chưa nghiên cứu sự kiện này. Nhưng có một số điểm còn băn khoăn.

Đọc tiếp »

BÙI TRINH – PHẠM LÊ HOA

Nhiều chuyên gia kinh tế và cả những quan chức cao cấp đều cho rằng phải tăng cường sức mạnh của doanh nghiệp nội, chú trọng khu vực nông nghiệp và đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ, nhưng đáng tiếc là cho đến nay điều này vẫn chỉ trong lời nói hoặc trên giấy mà chưa thực sự đi vào nền kinh tế. Ví dụ như nhìn từ chính sách thuế.

Theo Luật Thuế giá trị gia tăng hiện hành, cần phân biệt hai loại hình: loại phải chịu thuế giá trị gia tăng nhưng có thuế suất là 0% và loại không phải chịu thuế giá trị gia tăng.

Hai loại này tuy có chung đặc điểm là doanh nghiệp không phải nộp thuế; nhưng loại hình thứ hai (áp dụng với một số ngành làm đầu vào của nông nghiệp) sẽ không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, trong khi sản phẩm của các ngành này bao gồm rất nhiều các loại thuế nằm lẫn trong chi phí đầu vào. Vì vậy, doanh nghiệp các ngành trong danh sách này thậm chí còn thiệt thòi hơn cả khi phải chịu một mức thuế suất nào đó. Đây cũng là nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp ấy không thể giảm giá bán và những ngành sử dụng sản phẩm của những ngành này làm chi phí đầu vào cũng không được hưởng lợi gì từ chính sách hỗ trợ nửa vời như vậy. Phía thiệt thòi vẫn là người nông dân và các doanh nghiệp nội.

Đọc tiếp »

TS. VŨ THÀNH TỰ ANH

Trong giai đoạn 1986-2012, tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp được duy trì ở mức khá cao, trung bình đạt 8,3%. Năng lực cạnh tranh quốc tế của sản phẩm công nghiệp chế biến được cải thiện đáng kể và cấu trúc của nó cũng trở nên khá đa dạng.

Sau gần ba thập niên phát triển theo chiều rộng, động năng tăng trưởng công nghiệp của Việt Nam đã chững lại và đang trên đà suy giảm, đa số doanh nghiệp Việt Nam chỉ dừng lại ở các hoạt động gia công đơn giản hay giá trị gia tăng thấp.

Đằng sau kết quả này tất nhiên là có nhiều nguyên nhân, song một trong những nguyên nhân quan trọng nhất nằm ở mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Là một nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, sự ưu ái doanh nghiệp nhà nước (DNNN), đồng thời phân biệt đối xử đối với doanh nghiệp tư nhân là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, tình trạng phân biệt đối xử này phụ thuộc vào mức độ gay gắt của sự đánh đổi giữa một bên là ý thức hệ chính trị và bên kia là tính chính đáng kinh tế, vào cấu trúc nội tại của nhà nước, và vào tầm vóc của lãnh đạo.

Vào đầu thập niên 1980, nền kinh tế kế hoạch tập trung theo kiểu Xô viết rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, thách thức tính chính đáng của sự lãnh đạo của Đảng. Dưới sự lãnh đạo của quyền Tổng bí thư Đảng Trường Chinh, Việt Nam đã tiến hành đổi mới theo định hướng thị trường vào năm 1986. Khu vực doanh nghiệp tư nhân, cả trong nước lẫn nước ngoài, mặc dầu vẫn ở bên lề nhưng lần đầu tiên chính thức được chấp nhận như một thành phần kinh tế. Nhờ năng lực sẵn có, lại trung tính về chính trị nên các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FIEs) được chào mời liên doanh với các DNNN. Chỉ trong vòng một thập niên, khu vực FDI đã vượt qua khu vực nhà nước để trở thành khu vực đóng góp nhiều nhất cho tăng trưởng công nghiệp của Việt Nam.

Đọc tiếp »

Luattaichinh

Giá dầu thế giới đang giảm mạnh kéo theo những quan ngại về thâm hụt ngân sách của Việt Nam trong tài khóa 2015. Trong khi giá dầu bình quân ngày 11/12/2014 chỉ khoảng 55 USD/thùng thì Bộ Tài chính đã dự báo trung bình 100 USD/thùng khi xây dựng dự toán ngân sách 2015

http://vneconomy.vn/thoi-su/kich-ban-nao-cho-viet-nam-khi-gia-dau-giam-chong-mat-20141211091334675.htm

Đã đến lúc Chính phủ cần xây dựng Báo cáo về rủi ro tài khóa khi đệ trình Quốc hội về dự thảo ngân sách hàng năm. Điều đó sẽ giúp Quốc hội quyết nghị ngân sách đúng đắn hơn và việc điều hành của Chính phủ cũng có nhiều thuận lợi.

——————————————

Báo cáo về Rủi ro tài khoá

Đọc tiếp »

Lập dự toán thấp để được thưởng vì vượt thu cao

Nhà báo Việt Lâm:Đúng là nhà nghèo thì phải đi vay mượn. Nhưng nếu nhà nghèo mà vung tay quá trán thì rất đáng lo. Nhiều ĐBQH đã lên tiếng lo ngại về tình trạng kỷ cương ngân sách lỏng lẻo. Tôi xin trích lời phát biểu của ĐB Trần Du Lịch: “Tôi không thấy ở đâu sử dụng ngân sách tùy tiện như ở nước mình, có lần tôi đi thăm một nước vào cuối tháng 12 họ không mời được cơm vì ngân sách chưa có, còn nước ta thì ăn nhậu vô tội vạ, thậm chí quyết toán được hết”. Tại sao lại có tình trạng này, thưa ông?

Ts Vũ Đình Ánh: Là người làm trong lĩnh vực tài chính gần hai chục năm và quan sát cả cấp TƯ lẫn địa phương, tôi rất chia sẻ với lo ngại của ĐB Trần Du Lịch về kỷ luật ngân sách. Không những kỷ luật chi mà cả kỷ luật thu ngân sách của chúng ta đều có vấn đề.

Chúng ta thường xuyên kêu ca về nạn thất thu ngân sách, trốn lậu thuế. Nhưng vấn đề ở chỗ người ta thường xây dựng một dự toán thu ngân sách ở địa phương rất thấp để họ có thể vượt dự toán thu đó. Nhờ khoản vượt thu này mà họ được thưởng. Nói cách khác, họ cố tình kéo dự toán thu thấp hơn khả năng đạt được. Thêm vào đó, những địa phương này còn có dư địa rất lớn để đạt được dự toán cho năm sau. Dư địa này là khoản thất thu ngân sách và trốn lậu thuế mà các địa phương này chỉ cần tăng cường kỷ luật thì sẽ thu được rất cao.

Tình trạng bất cập này tạo ra một hiện tượng thú vị. Đó là, thu ngân sách nhà nước chưa bao giờ là không vượt dự toán, thậm chí có những năm vượt dự toán trên 30%. Thậm chí nếu bắt những nơi này vượt dự toán cả 50%, họ vẫn làm được và vẫn còn dư địa để năm sau tiếp tục vượt thu ngân sách. Rõ ràng kỷ luật thu ngân sách của chúng ta có vấn đề. Không chỉ về trình độ năng lực mà vấn đề là chúng ta tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người nghiêm túc và không nghiêm túc nộp ngân sách nhà nước.ăn nhậu, nợ công, ngân sách nhà nước

Điều đáng kinh ngạc là nếu giả định vượt thu ngân sách so với dự toán là thành tích, nỗ lực của các đơn vị thực thi, hay còn gọi là đơn vị hành thu theo thuật ngữ chuyên môn, thì tại sao chi ngân sách cũng vượt dự toán rất nhiều? Bất kể thu ngân sách có vượt vài chục phần trăm so với dự toán nhưng rốt cuộc thâm hụt ngân sách vẫn cứ đều đặn 4,8-5% GDP mỗi năm. Nghĩa là chi ngân sách cũng phải vượt dự toán vài chục phần trăm thì mới cho ra chênh lệch thu chi như vậy.

Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN ĐỨC THÀNH

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR),

Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Bài viết này mong muốn đưa ra một cái nhìn khách quan về nền kinh tế Việt Nam, vì việc đánh giá thực tiễn có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp, các nhà đầu tư và cả kinh nghiệm cho các nhà điều hành chính sách.

Sau khi Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trình bày Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2014 và nhiệm vụ năm 2015 trước Quốc hội tại kỳ họp thứ 8, khóa XIII, ngày 20/10/2014, trên nhiều diễn đàn đã dấy lên một cuộc tranh luận sôi nổi về thực trạng kinh tế Việt Nam và triển vọng cùng những nguy cơ trong trung hạn.

Có thể nói, vấn đề kinh tế căn bản của Việt Nam trong những năm gần đây xoay quanh hai vấn đề chính: duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô và kiến tạo đà tăng trưởng kinh tế trong trung hạn.

Trong nhiều năm, cho tới tận trước 2011, mục tiêu tăng trưởng luôn là ưu tiên hàng đầu của Chính phủ, dưới sự hậu thuẫn của các cấp lãnh đạo (Đảng, Quốc hội). Tuy nhiên, do cấu trúc của nền kinh tế dựa nhiều vào khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và đầu tư công, mục tiêu này đã không thể đạt được, trái lại, hậu quả chỉ là bất ổn vĩ mô ngày càng lớn đi liền với suy giảm tăng trưởng.

Từ năm 2011, mục tiêu điều hành được xoay hướng sang ưu tiên ổn định vĩ mô ngày càng rõ ràng. Trong ngắn hạn, ổn định vĩ mô, với công cụ là thu hẹp đầu tư công, cải cách khu vực DNNN, và thận trọng trong cung ứng tiền tệ, thường đi liền với tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại.

Cụ thể, lạm phát đã liên tục giảm từ mức cao của năm 2011 xuống 6,8% vào năm 2012 và 6% năm 2013 và dự kiến năm nay, 2014, sẽ thấp hơn 5%. Đồng thời, tăng trưởng kinh tế trong những năm này đều chỉ đạt khoảng 5%.

Nhận định chung cho thấy có thể đánh đổi một giai đoạn kinh tế tăng trưởng chậm lại để tái lập ổn định vĩ mô, đồng thời thực hiện cải cách cơ cấu để lấy lại đà tăng trưởng. Hai quá trình này cần thực hiện song song, để mục tiêu đạt được trong giai đoạn sau là có sự tăng trưởng cao hơn, tốc độ tăng trưởng được duy trì bền vững hơn, trong khi kinh tế vĩ mô vẫn được duy trì liên tục. Vì vậy, việc đánh giá thành quả của việc bình ổn vĩ mô, chính là hiệu quả của việc cải cách cơ cấu nền kinh tế trong thời gian đó.

Đọc tiếp »

TRẦN VŨ HẢI

Hiệu quả ngân sách cần được hiểu là những kết quả đích thực mà ngân sách nhà nước đạt được sau khi thực hiện được xem xét trong mối tương quan với nguồn lực đã sử dụng.

Theo TS. Bùi Đại Dũng, hiệu quả của việc chi tiêu ngân sách phải được phản ánh trong mối quan hệ giữa khối lượng nguồn lực mà nó sử dụng và các kết quả đầu ra tổng thể cho cả xã hội trong một khoảng thời gian thích hợp. Có thể sử dụng chỉ số phát triển con người (HDI) do Tổ chức Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) xây dựng để đánh giá hiệu quả chi tiêu ngân sách bằng cách xác định tỷ lệ giữa mức tăng HDI so với tổng chi ngân sách trong một giai đoạn nhất định. (TS. Bùi Đại Dũng, Hiệu quả chi tiêu ngân sách dưới tác động của vấn đề nhóm lợi ích ở một số nước trên thế giới, NXB Chính trị quốc gia, 2007).

Tuy nhiên, cách thức tiếp cận này chỉ đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế xã hội mà chưa đánh giá được những yếu tố về mặt chính trị và sự tuân thủ pháp luật của hoạt động ngân sách nhà nước cũng như sẽ gặp khó khăn khi đánh giá hiệu quả ngân sách trong ngắn hạn.

Đọc tiếp »

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Nghị định số 08/2012/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;

Trên cơ sở Báo cáo của Bộ Tài chính (Tờ trình số 95/TTr-BTC ngày 28 tháng 7 năm 2014), thảo luận của các thành viên Chính phủ và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp thường kỳ, tổ chức ngày 30, 31 tháng 7 năm 2014,

QUYẾT NGHỊ:

I. CÁC GIẢI PHÁP VỀ THUẾ THÁO GỠ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, ĐẨY MẠNH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ:

1. Gia hạn thời hạn nộp thuế không quá 60 ngày đối với số tiền thuế giá trị gia tăng của máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư mà tổng giá trị nhập khẩu từ 100 tỷ đồng trở lên. Bộ Tài chính chỉ đạo cơ quan thuế thực hiện hoàn thuế trước kiểm tra sau chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan thuế nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị hoàn thuế của doanh nghiệp.

2. Gia hạn thời hạn nộp thuế tối đa không quá 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế đối với dự án đầu tư chưa được thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã ghi trong dự toán ngân sách nhà nước, số thuế được gia hạn không vượt quá số tiền ngân sách nhà nước còn nợ và thời gian gia hạn không vượt quá thời gian ngân sách còn nợ.

3. Doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ đối với khoản chi có tính chất phúc lợi chỉ trực tiếp cho người lao động mà doanh nghiệp có hóa đơn, chứng theo quy định; tổng số chi không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện.

Đọc tiếp »

NGUYỄN VẠN PHÚ

Đề án “Thí điểm mô hình đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục tiểu học từ lớp 1 đến lớp 3 tại TPHCM năm học 2014-2015” với tổng kinh phí chừng 4.000 tỉ đồng nếu nhìn từ góc cạnh kinh tế, có thể rút ra được những bài học gì về đầu tư công?

Số liệu công khai thu chi ngân sách TPHCM cho thấy tổng chi ngân sách địa phương năm 2013 ước tính trên 46.200 tỉ đồng, gồm 17.500 tỉ đồng chi cho đầu tư phát triển. Trong các khoản chi thường xuyên thì chi cho sự nghiệp giáo dục chỉ có chừng 6.800 tỉ đồng.

Thử hỏi trong bối cảnh đó, đề án “Thí điểm mô hình đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục tiểu học từ lớp 1 đến lớp 3 tại TPHCM năm học 2014-2015” với tổng kinh phí chừng 4.000 tỉ đồng làm sao mang tính khả thi? Cho dù có khoản mục “xã hội hóa”, tức phụ huynh sẽ tự bỏ tiền mua máy tính bảng nhưng kinh phí chủ yếu cũng từ ngân sách. Có lẽ ít người biết tổng chi quản lý hành chính của toàn TPHCM năm 2013 cũng vào khoảng chừng đó mà thôi!

Một đề án chỉ cho ba khối lớp 1, 2 và 3 mà đã gần bằng toàn bộ mức chi thường xuyên cho cả ngành giáo dục và bằng mức chi cho bộ máy hành chính thì làm sao được thông qua. Vấn đề đáng lưu tâm là qua đề án này, nhìn từ góc cạnh kinh tế, có thể rút ra được những bài học gì về đầu tư công hay công tư phối hợp?

Một đề án phi kinh tế

Đọc tiếp »

Luattaichinh

Vấn đề lương tối thiểu là cuộc tranh luận bất tận giữa công đoàn và giới chủ, giữa các cơ quan nhà nước, thậm chí giữa các đảng phái chính trị. Về phương diện kinh tế học, lương tối thiểu được ủng hộ và phản đối.
Quan điểm của nhóm ủng hộ:

Đọc tiếp »

TS. VŨ BẰNG

Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Sau khủng hoảng tài chính năm 2007-2008, nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện việc tái cấu trúc hệ thống tài chính, với quy mô và mức độ khác nhau. Đối với Việt Nam, công tác tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình tái cấu trúc thị trường chứng khoán và tái cấu trúc nền kinh tế.

1. Thực trạng các tổ chức kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam

Các công ty chứng khoán

Trong thời gian qua, các công ty chứng khoán (CTCK) đã phát huy vai trò là tổ chức trung gian trên thị trường chứng khoán (TTCK), giúp cho việc dẫn vốn và luân chuyển vốn trong nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài. Lượng nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán liên tục tăng trưởng qua các năm. Năm 2009 có trên 800.000 tài khoản, năm 2010 có trên 1 triệu tài khoản và năm 2013 có trên 1,3 triệu tài khoản.

Tại các CTCK, hệ thống công nghệ thông tin, mạng lưới cung cấp dịch vụ, đội ngũ người hành nghề không ngừng được tăng cường. Một số CTCK lớn đã chú trọng phát triển hệ thống quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ để hoạt động của công ty ngày càng tốt hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động của các CTCK cũng để lại một số vấn đề đáng chú ý. Số lượng các tổ chức tăng nhanh nhưng không bảo đảm hiệu quả hoạt động: Sự hình thành nhanh các CTCK dẫn đến việc cạnh tranh hết sức gay gắt, đặc biệt là cạnh tranh về thị phần môi giới (hơn 70% thị phần giao dịch tập trung vào 23 CTCK và chỉ có chưa đến 30% thị phần giao dịch do 80 CTCK còn lại nắm giữ). Để tăng khả năng cạnh tranh, thu hút khách hàng, một số CTCK thiếu sự chú trọng công tác quản trị rủi ro trong khi cung cấp các dịch vụ nhiều rủi ro. Khi thị trường đi xuống, nhiều CTCK đã bị thua lỗ và cũng có những CTCK đứng trước nguy cơ không huy động được đủ vốn cần thiết để duy trì hoạt động kinh doanh.

Ngoài ra, thực tế cũng cho thấy năng lực của các CTCK còn nhiều hạn chế về nghiệp vụ, nhân sự, cơ sở vật chất, đặc biệt tiềm lực tài chính chưa lớn.

Hệ thống công ty quản lý quỹ

Mặc dù ra đời trong bối cảnh khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, ngành quản lý quỹ vẫn tiếp tục duy trì hoạt động ổn định, an toàn, thận trọng dựa trên nền tảng những quy định pháp luật chặt chẽ theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Nhiều công ty quản lý quỹ (CTQLQ) tích cực đào tạo đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm, chuyên môn, từng bước định hình một ngành kinh doanh chứng khoán bậc cao và đội ngũ nhân sự có năng lực cần thiết cho việc phát triển hệ thống an sinh xã hội sau này.

Các CTQLQ đã từng bước khẳng định là những nhà đầu tư tổ chức lớn, tạo sức cầu cần thiết cho các chương trình cổ phần hóa, hỗ trợ sự phát triển của TTCK, thị trường trái phiếu. Một số công ty quản lý quỹ đã chủ động, tích cực huy động vốn đầu tư từ nước ngoài, từng bước tạo ra một kênh dẫn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài an toàn cho nền kinh tế.

Bên cạnh đó, các CTQLQ đã phát huy vai trò là những nhà quản lý tài sản chuyên nghiệp cho các tổ chức có nhiều vốn khả dụng, đặc biệt là các doanh nghiệp bảo hiểm và các ngân hàng. Điều này đã góp phần chuyên nghiệp hóa các hoạt động trên thị trường tài chính, ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng thương mại, CTCK đã và đang chuyển dần các hoạt động đầu tư tài chính sang các CTQLQ, để có nhiều nguồn lực tập trung và ngành nghề kinh doanh chính. Đây là xu hướng phù hợp với điều kiện của các tổ chức tài chính, ngân hàng Việt Nam, khi mà các tổ chức này còn có quy mô nhỏ, năng lực quản trị rủi ro thấp, đạo đức nghề nghiệp chưa có, tiềm ẩn nhiều xung đột lợi ích.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có những mặt tồn tại là nhiều CTQLQ hoạt động không hiệu quả, thua lỗ nhiều. Có tới 2/3 số công ty đang hoạt động không thể huy động được quỹ. Phần còn lại chỉ quản lý danh mục đầu tư ngắn hạn, chủ yếu là nguồn vốn ủy thác từ khối các ngân hàng, bảo hiểm. Các CTQLQ không phải là các định chế chuyên nghiệp về hoạt động tín dụng, không có hệ thống thẩm định tín dụng, vì vậy việc dùng nguồn vốn ủy thác từ các ngân hàng và cho vay lại càng rủi ro.

Năng lực hoạt động của các CTQLQ cũng còn hạn chế. Các công ty chưa chứng tỏ được năng lực trong hoạt động quản lý tài sản, kết quả hoạt động đầu tư cho khách hàng thấp. Có những công ty không tuân thủ quy định của pháp luật, không tách biệt tài sản của khách hàng, chưa tạo được lòng tin cho khách hàng. Đội ngũ nhân sự có trình độ, nghiệp vụ chuyên môn về quản lý tài sản chưa nhiều. Phần mềm, công nghệ tiên tiến chỉ được thực hiện tại một số các công ty có vốn nước ngoài và đang quản lý các quỹ đầu tư đại chúng. Phần còn lại đa số các công ty áp dụng các phần mềm không chuyên biệt, thao tác thủ công, chỉ phù hợp với hoạt động ở mức độ thấp như hiện tại.

Hiệu quả hoạt động của các công ty quản lý quỹ là không đồng đều, khi có tới 65% các CTQLQ có vốn góp của các ngân hàng, doanh nghiệp bảo hiểm có lãi lũy kế kể từ khi thành lập. Trong số các công ty còn lại, chỉ có 28% công ty là có khả năng tạo lợi nhuận.

2. Mục tiêu, nguyên tắc tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán

Đọc tiếp »

Luật Tài chính: Nghị quyết này, về mặt thực tế không có gì đáng bàn, vì nó cần để xử lý những vấn đề trước mắt.

Nhưng về mặt lý luận pháp luật cũng như tài chính công, có một số vấn đề cần xem xét:

1. Nghị quyết của Quốc hội có cần căn cứ vào Luật Ngân sách Nhà nước không? Về hiệu lực, Nghị quyết của Quốc hội có hiệu lực rất cao, trong khi nội dung chính của nghị quyết (Điều 1) lại không hoàn toàn phù hợp với Điều 59 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002.

2. Lần đầu tiên có khái niệm "nguồn tăng bội chi", và liệu nguồn tăng bội chi này có được hiểu là nguồn tăng thu hay không, trong khi vay nợ lại không phải là nguồn thu của ngân sách trung ương theo Điều 30 Luật Ngân sách Nhà nước?

3. Lấy nguồn tăng bội chi để bù đắp hụt thu ngân sách trung ương là việc chưa có tiền lệ. Tại sao không giảm chi tương ứng với số thu chưa đạt theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước? Nếu vẫn giảm chi tương ứng với số hụt thu thì việc bù đắp này có ý nghĩa gì ngoài câu chuyện của các con số?

4. Và cuối cùng, nếu do tăng trần bội chi mà dẫn đến việc vay được nhiều tiền hơn, tại sao không quyết định trả lại tiền vay hoặc không tiếp tục vay (nhiều trường hợp hoàn toàn có thể) mà lại vẫn phải sử dụng cho bằng hết số tiền vay khi không thực sự cần?

Sau đây là toàn văn Nghị quyết:

Đọc tiếp »

TS. LÊ THỊ THÙY VÂN

Viện Chiến lược và Chính sách tài chính

Mô hình quản lý và giám sát hệ thống tài chính trên thế giới đã có những thay đổi đáng kể qua nhiều thập niên, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Những rủi ro mới phát sinh đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện các chuẩn mực, phương thức giám sát hệ thống tài chính theo hướng tăng cường giám sát thận trọng vĩ mô, nâng cao năng lực thể chế của hệ thống giám sát nhằm đảm bảo tính ổn định và sức chịu đựng của hệ thống trước các cú sốc.

Xu hướng lựa chọn và điều chỉnh mô hình giám sát

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã làm bộc lộ những yếu kém trong hệ thống giám sát tài chính thế giới, khi mô hình quản lý và giám sát tài chính không theo kịp sự phát

Xu hướng cải cách hệ thống giám sát tài chính trên thế giới

triển và đổi mới của hệ thống tài chính. Do vậy, sau khủng hoảng tài chính này, các nền kinh tế lớn đã tích cực cải cách hệ thống giám sát tài chính nhằm tăng cường hiệu quả giám sát, kịp thời phát hiện rủi ro và ngăn ngừa việc tái diễn khủng hoảng trong tương lai.

Giám sát tài chính hợp nhất là mô hình được nhiều nước hướng đến nhiều hơn trong số 4 mô hình giám sát (giám sát theo định chế, giám sát theo chức năng, giám sát hợp nhất, giám sát lưỡng đỉnh), với tỷ lệ các nước lựa chọn mô hình này tăng từ 20% vào năm 1996 lên 31% (năm 2011). Số nước lựa chọn mô hình cũng tăng từ 13 nước (năm 1996) lên 36 nước vào năm 2006, 42 nước (năm 2009) và lên 55 nước (năm 2012). Trong đó, các nước tiêu biểu cho lựa chọn mô hình này là: Đức, Thụy Điển, Đan Mạch, Canada, Na Uy, Anh (từ năm 1997 đến tháng 3/2013), Ba Lan (từ năm 1997), Hàn Quốc (từ năm 1999), Hungary (từ năm 2000).

Các nguyên nhân cơ bản lý giải cho xu hướng này là: (i) Kịp thời phản ánh sự phát triển của hệ thống tài chính cũng như hoạt động kinh doanh của các định chế tài chính; (ii) Nâng cao hiệu quả giám sát trong bối cảnh các tập đoàn tài chính được thành lập ngày càng nhiều; (iii) Mô hình giám sát phân tán không thể ứng phó kịp thời và hiệu quả trước những tác động tiêu cực từ các cú sốc bên ngoài đến khu vực tài chính trong nước.

Đọc tiếp »

TRẦN ĐÌNH THIÊN & PHÍ MẠNH HỒNG1

Cơ chế thị trường là một cơ chế kinh tế hiện thực, đã được xác lập một cách vững chắc trong lịch sử phát triển của kinh tế thế giới. Cho đến nay, dù không phải là một cơ chế hoàn hảo, song nó vẫn chứng tỏ được rằng đó là một cơ chế phân bổ nguồn lực, một cơ chế phát triển tốt nhất hiện nay. Một quốc gia dựa trên nền tảng thị trường để phát triển kinh tế có thể không chắc chắn thành công, song một quốc gia không dựa trên thị trường chắc chắn sẽ thất bại trong dài hạn. Môt cách triệt để, đối với sự phát triển hiện đại, phát triển đồng nghĩa với việc xây dựng, phát triển, hoàn thiện nền kinh tế thị trường hiện đại. Kết cục của sự lựa chọn giữa kinh tế thị trường hay kinh tế phi thị trường, về mặt thực tiễn là rõ ràng, với ưu thế rõ rệt, không cần phải tranh cãi của mô hình của kinh tế thị trường. Các kiểu mẫu phát triển khác nhau, sự thành công hay thất bại khác nhau, gắn liền với việc xử lý đúng đắn, hiệu quả, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể về mối quan hệ giữa thị trường và nhà nước với tư cách là 2 phương thức phân bổ nguồn lực khác nhau, có thể bổ sung cho nhau, song cũng có thể triệt tiêu tính hiệu quả của nhau.Thực tiễn trước và sau Đổi mới ở Việt Nam chứng minh rằng: phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế (một thuộc tính phát sinh từ quá trình toàn cầu hoá của nền kinh tế thị trường hiện đại) là lựa chọn không thể tránh né của Việt Nam.

Nền tảng của nền kinh tế thị trường là dựa trên sự xác lập và thực thi phổ biến quyền sở hữu tư nhân về các tài sản (dùng cách diễn đạt "các tài sản" thay cho "các tư liệu sản xuất chủ yếu" như là đối tượng của sở hữu chính xác hơn. Tài sản bao gồm cả tài sản vô hình như tri thức, vốn là thứ đang nổi lên như một nguồn lực hàng đầu quyết định năng lực sáng tạo của cải trong nền kinh tế tri thức). Luận điểm này được thừa nhận phổ biến và được thực tiễn lịch sử kinh tế thế giới chứng minh. Nó cũng từng được C.Mac nêu lên như một trong hai điều kiện cần thiết của sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá. Quyền sở hữu tư nhân được thực thi hàm nghĩa rằng người sở hữu tài sản có quyền khai thác, sử dụng tài sản của mình, được thụ hưởng các kết quả mà mình tạo ra từ tài sản đó. Thừa nhận quyền sở hữu tư nhân có nghĩa là mọi người chỉ có thể có được hàng hoá, tài sản từ người khác phải thông qua trao đổi mua bán, chứ không phải thông qua sự chiếm đoạt. Sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường đối nghịch với các quan hệ kinh tế dựa trên sự lệ thuộc cá nhân của các xã hội tiền tư bản. Nó là hình thái sở hữu tư nhân đích thực, trọn vẹn. Sức sống lâu bền của hệ thống kinh tế thị trường nằm ở chỗ: nó phù hợp với giai đoạn lịch sử mà con người về căn bản còn là những người tư lợi. Họ sản xuất, trao đổi trước hết vì lợi ích cá nhân của mình. Dựa trên nền tảng quyền tư hữu được tôn trọng và bảo vệ, hệ thống này cho phép các cá nhân phát huy được các tiềm năng của mình trong các hoạt động sản xuất trao đổi nhằm tối đa hoá các lợi ích cá nhân. Như A.Smit đã chỉ ra, thông qua cơ chế cạnh tranh và sự lên xuống của giá cả, bàn tay vô hình của thị trường hoá ra lại là "cơ chế tuyệt diệu có thể chuyển hoá các nỗ lực theo đuổi lợi ích riêng của các cá nhân thành các lợi ích của toàn xã hội"2. Tôn trọng và phát huy sức mạnh của lợi ích cá nhân (hiểu theo nghĩa rộng, đó không chỉ là lợi ích vật chất, tiền bạc mà còn bao hàm cả những lợi ích tinh thần mà cá nhân theo đuổi) trên cơ sở xác lập và bảo vệ quyền tư hữu, coi đó là động lực sâu sa chi phối hành vi kinh tế con người – tất cả nhứng điều đó làm nên sức sống năng động và sự thịnh vượng của các nền kinh tế thị trường. "Hệ thống thị trường đã chứng kiến nhiều thay đổi trong hai năm qua, nhưng chế độ tư hữu vẫn tiếp tục đóng vai trò trung tâm. Khi sản xuất và trao đổi ngày càng phức tạp với mức độ chuyên môn hoá và phân công lao động ngày càng cao, quyền tư hữu càng được củng cố chứ không yếu đi trong các nền kinh tế thị trường, và việc thực thi quyền tư hữu ngày càng được mở rộng ở mức độ tinh vi hơn"3.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 5-2014

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Tư 2015
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 3    
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,217,971 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • "Nếu có vụ tham nhũng nữa, Nhật sẽ ngưng viện trợ ODA cho VN" 01/04/2015
    (TBKTSG Online) - Trưởng đại diện Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) ông Mutsuya Mori cảnh báo Việt Nam không được để xảy ra tham nhũng trong bất kỳ dự án ODA nào do Nhật Bản bản tài trợ nữa, nếu không Nhật Bản sẽ “dừng viện trợ”.
  • Tỷ giá đồng/đô la Mỹ lại tiến sát trần 01/04/2015
    (TBKTSG Online) – Tỷ giá đồng/đô la Mỹ đang tăng nhanh trở lại, tiến đến sát mức trần do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quy định (21.672 đồng/đô la Mỹ), mặc dù trước đó tỷ giá đã giảm mạnh sau tuyên bố của NHNN cho biết tiếp tục mục tiêu không tăng tỷ giá quá 2% cho cả năm nay.
  • Chứng khoán 1-4: Khối nội bán quyết liệt 01/04/2015
    (TBKTSG Online) - Đà tăng của thị trường đã không thể kéo dài trong hôm nay. Gắng gượng giữ mức tham chiếu trong khoảng 30 phút đầu của phiên, cả hai sàn đổ dốc rất nhanhsau đó và gần như không có bất kỳ sự hồi phục trở lại nào trong suốt thời gian giao dịch.
  • Nhật Bản cho Việt Nam vay 112,414 tỉ yên vốn ODA 31/03/2015
    (TBKTSG Online) Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh và Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Hiroshi Fukada đã thay mặt chính phủ hai nước ký công hàm trao đổi khoản ODA vốn vay của Chính phủ Nhật Bản dành cho Việt Nam tài khóa 2014 chiều 31-3 tại Hà Nội.
  • Cổ phiếu Đạm Cà Mau chào sàn HOSE 31/03/2015
    (TBKTSG Online) - Công ty cổ phần Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC) sáng 31-3 đã niêm yết hơn 529 triệu cổ phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HOSE).
  • Ngân hàng Qatar vào thị trường Việt Nam 31/03/2015
    (TBKTSG Online) - Ngân hàng Qatar National Bank (QNB) tối 30-3 công bố chính thức bắt đầu hoạt động văn phòng đại diện tại Việt Nam với nhiệm vụ kinh doanh trọng tâm là xúc tiến và thúc đẩy thương mại giữa Qatar và Việt Nam.
  • Chứng khoán 30-3: Lực bán chủ yếu từ khối nội 30/03/2015
    (TBKTSG Online) - Bước sang tuần giao dịch mới, thị trường vẫn chưa thể thoát khỏi sắc đỏ duy trì trọn vẹn trong tuần trước. Gắng gượng xanh điểm trong buổi sáng, thị trường bắt đầu yếu nhanh trở lại sau 11 giờ và bên bán vẫn hoàn toàn làm chủ thị trường cho đến giai đoạn kết thúc phiên, cả hai chỉ số đóng cửa tại vùng thấp nhất trong ngày. […]
  • Nước ngoài bán mạnh trái phiếu và cổ phiếu 30/03/2015
    (TBKTSG Online) - Tuần qua, theo thống kê của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), các nhà đầu tư nước ngoài đã bán ròng tới gần 1.700 tỉ đồng trái phiếu Chính phủ, mức cao nhất trong 4 tháng trở lại đây. Năm ngoái họ đã liên tục chốt lời trái phiếu đầu quí 4 dẫn đến đợt rút vốn trị giá hàng trăm triệu đô la Mỹ, nhưng sau đó đã ngưng bán. Việc họ bán mạnh […]
  • Câu hỏi về việc quản lý ấn chỉ 29/03/2015
    (TBKTSG) - Vụ gửi tiết kiệm 400.000 euro không rút được tiền tại Agribank - chi nhánh Mạc Thị Bưởi mà báo chí đã đề cập hồi tuần rồi cho thấy việc quản lý ấn chỉ quá yếu kém tại ngân hàng này. Đây là nguyên nhân quan trọng gây rủi ro tác nghiệp không lường hết được trong hoạt động ngân hàng. […]
  • Mở room tới 100%? 29/03/2015
    (TBKTSG) - “Sẽ giải quyết dứt điểm vấn đề nới room (tỷ lệ sở hữu của nước ngoài trong một công ty niêm yết) trong một vài tháng tới” - đại diện Bộ Tài chính khẳng định trong cuộc trao đổi gần đây với TBKTSG. Và để minh chứng cho điều này, tuần qua một số hội thảo lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 58/2012 hướn […]
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 156 other followers