You are currently browsing the tag archive for the ‘kiểm toán’ tag.

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Năm 2014, Kiểm toán Nhà nước đã tiến hành kiểm toán tại 190 đầu mối[1] và kiểm toán Báo cáo quyết toán NSNN năm 2013 tại Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Căn cứ Điều 58 Luật Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán Nhà nước trân trọng công bố một số nội dung chủ yếu từ kết quả kiểm toán năm 2014 như sau:

A. KẾT QUẢ KIỂM TOÁN QUYẾT TOÁN NSNN NĂM 2013

Năm 2013, kinh tế trong nước tiếp tục gặp nhiều khó khăn, song với sự chỉ đạo quyết liệt của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương và sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân nên những khó khăn đang từng bước được khắc phục, nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực; thu ngân sách vượt 1,5% dự toán, trong đó một số khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN như thu từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu từ khu vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngoài quốc doanh có xu hướng tăng; các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã triển khai phân bổ và giao kế hoạch vốn đầu tư năm 2013 cho các đơn vị cơ bản theo đúng Nghị quyết của Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; việc sử dụng nguồn tăng bội chi, giảm chi NSTW và dự phòng ngân sách cơ bản phù hợp quy định; tổng chi chuyển nguồn và chuyển nguồn của những nhiệm vụ chậm triển khai đều giảm cả về số tuyệt đối và tương đối so với năm 2012, tình trạng sử dụng kinh phí NSNN chưa phù hợp với tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước tại các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã dần được khắc phục[2], các đơn vị đã triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, tuân thủ Luật NSNN, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Phòng, Chống tham nhũng…, song qua kết quả kiểm toán, bên cạnh những mặt chuyển biến tích cực vẫn còn nổi lên một số vấn đề:

Đọc tiếp »

Advertisements

Trong những năm qua có một sự soán ngôi giữa loại hình kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ (KTNB), rất nhiều đơn vị sau một thời gian thiết lập đã dần thu hẹp và loại bỏ bộ phận KTNB thay vào đó là sự lựa chọn dịch vụ kiểm toán độc lập. Nguyên nhân có thể thấy từ hai phía: Thứ nhất do chất lượng của KTNB chưa đáp ứng yêu cầu của đơn vị, thứ hai bản thân nhà quản trị cũng chưa nhận thức rõ về vai trò của KTNB.

I, Kiểm toán nội bộ -hàng rào phòng thủ của các đơn vị

Theo IIA, Viện Kiểm toán Nội bộ: KTNB “là hoạt động đánh giá và tư vấn độc lập trong nội bộ tổ chức, được thiết kế nhằm cải tiến và làm tăng giá trị cho các hoạt động của tổ chức đó. Giúp tổ chức đạt được các mục tiêu bằng việc đánh giá và cải tiến một cách hệ thống và chuẩn tắc tính hiệu lực của quy trình quản trị, kiểm soát và quản lý rủi ro.” (IIA là tổ chức nghề nghiệp dành cho kiểm toán viên nội bộ thành lập năm 1941 có trụ sở chính tại Hoa Kỳ và hơn 122.000 hội viên trên toàn cầu.). Từ khái niệm trên cho thấy điểm khác biệt giữa KTNB  với kiểm toán độc lập, kiểm toán Nhà nước đó là mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán, với loại hình kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập có sự tách biệt tương đối rõ ràng giữa chủ thể và khách thể kiểm toán, với loại hình KTNB thì sự tách biệt là không có, bộ phận kiểm toán nội bộ là bộ phận nằm chính trong cơ cấu tổ chức của đơn vị khách thể kiểm toán. Khái niệm cũng nhấn mạnh vai trò, tác dụng của KTNB đối với hoạt động của đơn vị; giúp “bảo vệ giá trị cho tổ chức”, KTNB giữ vai trò “quan sát viên độc lập” nhằm đảm bảo hoạt động của tổ chức tuân thủ các quy định pháp luật quốc gia, quy định, quy tắc của tổ chức; KTNB là người “giám sát, bảo trì, nâng cấp hệ thống kiểm soát nội bộ” trong vai trò đảm bảo hiệu quả kinh doanh và xây dựng các thủ tục kiểm soát cần thiết. KTNB là công cụ giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu của hệ thống quản lý của tổ chức. Đối với các doanh nghiệp, KTNB có thể hỗ trợ ban giám đốc và hội đồng quản trị có thể kiểm soát hoạt động và quản lý rủi ro tốt hơn mọi khi quy mô và độ phức tạp của doanh nghiệp vượt quá tầm kiểm soát của họ.

Đọc tiếp »

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Công bố ngày 25/7/2014

Năm 2013, Kiểm toán Nhà nước đã tổ chức kiểm toán tại 150 đầu mối[1] và kiểm toán Báo cáo quyết toán NSNN năm 2012 tại Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT.

Thực hiện quy định tại khoản 8, Điều 15, khoản 3, Điều 55 Luật Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán Nhà nước đã lập Báo cáo kết quả kiểm toán năm 2013 để gửi đến từng Đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa 13 và các cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

Căn cứ Điều 58, Luật Kiểm toán nhà nước, khoản 2, Điều 11, Nghị định số 91/2008/NĐ-CP ngày 18/8/2008 của Chính phủ về công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước trân trọng công bố tóm tắt kết quả kiểm toán năm 2013 như sau:

A. KẾT QUẢ KIỂM TOÁN QUYẾT TOÁN NSNN NĂM 2012

– Tổng thu NSNN 1.058.140 tỷ đồng, vượt 1,9% dự toán.

– Tổng chi NSNN 1.170.924 tỷ đồng, vượt 8,3% dự toán, trong đó: Chi đầu tư phát triển 268.812 tỷ đồng, bằng 31,1% tổng chi NSNN, vượt 49,3% (88.812 tỷ đồng) dự toán; chi thường xuyên 603.372 tỷ đồng, vượt 0,3% (2.072 tỷ đồng) dự toán; chi trả nợ, viện trợ 105.838 tỷ đồng, vượt 5,8% (5.838 tỷ đồng) dự toán.

– Tăng trưởng kinh tế năm 2012 đạt 5,3%; bội chi NSNN được giữ ở mức 4,75% GDP, thấp hơn 0,05% mức Quốc hội cho phép (4,8%); dư nợ Chính phủ bằng 38,9% GDP, dư nợ nước ngoài của quốc gia bằng 37,4% GDP[2]; dư nợ công 1.642.916 tỷ đồng, bằng 55,7% GDP (năm 2011 bằng 54,9% GDP)[3].

Qua kiểm toán cho thấy trong quản lý điều hành ngân sách việc sử dụng các khoản tăng thu, dư dự toán và dự phòng ngân sách cơ bản phù hợp quy định; tổng chi chuyển nguồn và chuyển nguồn của những nhiệm vụ chậm triển khai đều giảm so với năm 2011, sử dụng kinh phí NSNN tại các bộ, cơ quan trung ương đi vào nề nếp hơn, phù hợp với tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước[4]; các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; các đơn vị được kiểm toán cơ bản đã tuân thủ quy định của Luật NSNN, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Phòng, Chống tham nhũng… Song, còn một số thiếu sót, hạn chế:

1. Lập và giao dự toán

Đọc tiếp »

Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Bảo Hiểm

Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường trong các phân ngành dịch vụ bảo hiểm sau:

  • Bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm y tế);
  • Bảo hiểm phi nhân thọ;
  • Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;
  • Trung gian bảo hiểm (môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm);
  • Các dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường).

Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có thể thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam theo những hình thức nào?

Theo cam kết trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm, các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài được quyền hiện diện ở Việt Nam dưới các hình thức:

  1. Văn phòng đại diện (tuy nhiên các văn phòng đại diện không được phép kinh doanh sinh lời trực tiếp);
  2. Liên doanh với đối tác Việt Nam;
  3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (với những hạn chế về loại dịch vụ được phép cung cấp theo lộ trình);
  4. Chi nhánh (với điều kiện mở sau 11/1/2012 và chi nhánh chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ).

Hộp 1 – Hạn chế về loại dịch vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài được phép cung cấp
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc, bao gồm:
– Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba;
– Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt;
– Bảo hiểm các công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường.
Cũng theo cam kết thì tất cả các hạn chế này phải được bãi bỏ từ ngày 1/1/2008.

Tỷ lệ góp vốn tối đa dưới hình thức mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam là bao nhiêu?

Đọc tiếp »

Thực tiễn thời gian qua đặt ra khá nhiều yêu cầu về hiệu quả của quản lý chi tiêu công ở nước ta như: đầu tư công dàn trải, phân bổ vốn chậm, tỷ lệ đầu tư cao, tăng trưởng kinh tế thấp, cơ chế quản lý chất lượng, hiệu quả đầu tư còn lỏng lẻo, sự lãng phí các nguồn lực ở các doanh nghiệp nhà nước, sự kém hiệu quả về kinh tế – xã hội của các Chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án,… Điều này đòi hỏi hoạt động kiểm toán phải có những tiêu chí rõ ràng khi đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của các dự án đầu tư để từ đó phát hiện, ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những lãng phí, kém hiệu quả đó.

Tuy nhiên, trong thực tế, việc xác định tiêu chí đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả trong kiểm toán các Dự án đầu tư xây dựng công trình vẫn còn gặp một số khó khăn:

Thứ nhất, đặc thù công trình xây dựng mang tính đơn chiếc, đặc biệt là các công trình nhóm A, B nên việc so sánh tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả giữa các công trình gặp nhiều khó khăn.

Thứ hai, hầu hết công tác kiểm toán các dự án đầu tư mới chỉ dừng lại ở việc xác định chi phí đầu tư vào công trình, chưa thực sự kiểm toán một giai đoạn, hay một vòng đời của dự án. Do đó, kết quả kiểm toán khó có thể đưa ra ý kiến đánh giá được dự án hiệu quả hay không, có đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư hay không.

Thứ ba, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình nên Kiểm toán Nhà nước (KTNN) chủ yếu thực hiện kiểm toán các công trình công. Do đó, khó đánh giá được lợi ích kinh tế tính được bằng tiền, nhiều công trình mang yếu tố chính trị, xã hội. Tính kinh tế hay không phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của kiểm toán viên.

Thứ tư, kinh nghiệm về kiểm toán hoạt động của KTNN Việt Nam chưa nhiều.Hiện nay, KTNN chưa có các quy định, hướng dẫn cụ thể về phương pháp xây dựng các tiêu chí đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong kiểm toán hoạt động.

Thứ năm, hệ thống các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành liên quan về quản lý đầu tư chưa đồng bộ, thường xuyên có sự điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với thực tế.

Thứ sáu, hiểu biết về vai trò, tác dụng của kiểm toán hoạt động tại các đơn vị được kiểm toán chưa cao.Điều này tạo ra những khó khăn vướng mắc trong việc phối hợp xây dựng tiêu chí kiểm toán cho các cuộc kiểm toán hoạt động của KTNN trong những năm tới đây.

Một số chỉ tiêu cơ bản trong xây dựng tiêu chí kiểm toán tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình

Đọc tiếp »

PGS.TS NGUYỄN QUANG HÙNG

Ở nghĩa rộng có thể hiểu, bất kỳ một dạng kiểm toán nào đều là việc kiểm soát một phạm trù nào đó của quản lý. Kiểm toán cơ cấu tổ chức là việc kiểm tra cơ cấu tổ chức (các mối quan hệ của cơ cấu tổ chức và quá trình kinh doanh) tìm ra sự phù hợp giữa cơ cấu tổ chức với quy mô và tính chất hoạt động của doanh nghiệp. Ở bài viết này tác giả muốn đề cập đến các vấn đề liên quqn đến kiểm toán cơ cấu tổ chức: Sự cần thiết, mục đích và các giai đoạn của kiểm toán cơ cấu tổ chức.

1. Kiểm toán cơ cấu tổ chức và các mục tiêu cơ bản của kiểm toán cơ cấu tổ chức

Chúng ta đã quen thuộc với khái niệm kiểm toán các hoạt động kinh tế-tài chính trong đơn vị. Tuy nhiên, ở nghĩa rộng có thể hiểu, bất kỳ một dạng kiểm toán nào- là việc kiểm soát một phạm trù nào đó của quản lý.

Kiểm toán cơ cấu tổ chức là việc kiểm tra cơ cấu tổ chức (các mối quan hệ của cơ cấu tổ chức và quá trình kinh doanh) tìm ra sự phù hợp giữa cơ cấu tổ chức với quy mô và tính chất hoạt động của doanh nghiệp. Kiểm toán cần xác định mục đích, nhiệm vụ, chức năng, giá trị và khả năng để phát triển cơ cấu đó. Kiểm toán cơ cấu được thực hiện với mục đích phát hiện những rủi ro tổ chức, rủi ro tài chính khi thiết lập cơ cấu, thậm chí cả sự thiệt hại tài chính của doanh nghiệp mà rủi ro có thể đem lại. Nếu như cơ cấu tổ chức là một phần của hệ thống thì kiểm toán cần xác định hiệu quả của cơ cấu đã thiết lập.

Kiểm toán cơ cấu tổ chức quản lý bao gồm việc xác định cơ cấu tổ chức, mô tả sự phân bổ quyền hạn và trách nhiệm giữa các nhân viên và các bộ phân, việc ban hành chính sách của doanh nghiệp, quy định về các bộ phận, hướng dẫn thực hiện chức trách, nguyên tắc kế hoạch hóa, kế toán, phân tích và ra quyết định về tất cả các phạm trù quản lý (marketing, logictic, sản xuất…), phân tích các phương án khác nhau để xây dựng hệ thống quản lý sẽ cho phép lãnh đạo doanh nghiệp hoặc các bộ phận riêng biệt chấn chỉnh hoạt động và giảm chi phí để thực hiện quản lý doanh nghiệp có hiệu quả nhất.

2. Khi nào cần tiến hành kiểm toán cơ cấu tổ chức

Đọc tiếp »

TS.HÀ THỊ NGỌC HÀ

Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Bộ Tài chính

Trung Quốc là quốc gia đang phát triển và có nhiều điểm tương đồng về kinh tế-chính trị với Việt Nam. Việc xây dựng chuẩn mực kiểm toán (CMKiT) của Trung Quốc cũng nhằm mục đích phù hợp với thông lệ của quốc tế tương tự như Việt Nam. Đến nay, Trung Quốc đã ban hành các CM về kiểm soát chất lượng (KSCL) và tổ chức KSCL kiểm toán rất chặt chẽ. Kinh nghiệm của Trung Quốc là bài học tốt đối với Việt Nam.

Mô hình kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập của Trung quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Mô hình kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập của Trung quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

(1) Quá trình hình thành, phát triển hoạt động kiểm toán độc lập Trung Quốc và khuôn khổ pháp luật về KSCL hoạt động kiểm toán độc lập

Sau cách mạng thành công, với sự ra đời của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và hệ thống kế toán thống nhất từ những năm 50, hoạt động nghề nghiệp kế toán, kiểm toán gần như bị biến mất. Đến năm 1970 khi cải tổ nền kinh tế, nhu cầu về hoạt động kế toán, kiểm toán lại xuất hiện. Vào giữa những năm 1980, Nhà nước chủ trương tăng vốn vào DNNN thông qua việc phát hành cổ phiếu cho các nhà đầu tư cá nhân trong nước. Chủ trương này đã tạo ra nhu cầu thông tin tài chính cần được kiểm toán độc lập, trên cơ sở đó, các DNKT độc lập đã ra đời. Để đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động nghề nghiệp kế toán, kiểm toán, Bộ tài chính đã thành lập Hội Kế toán viên công chứng Trung Quốc (CICPA) vào năm 1989. Đến năm 1990 và năm 1991, thị trường chứng khoán (TTCK) Thượng Hải và Thẩm Quyến được thành lập nên các nhà đầu tư yêu cầu tăng cường hơn nữa chất lượng kiểm toán độc lập các thông tin tài chính liên quan đến các công ty niêm yết. Năm 1992, luồng đầu tư trực tiếp của nước ngoài ồ ạt đổ vào Trung Quốc, trong đó có các DNKT. Các DNKT nước ngoài chỉ được phép thành lập DNKT liên doanh với các DNKT trong nước để thực hiện dịch vụ kiểm toán.

Đọc tiếp »

2 giáo sư Ilia Dichev và Shiva Rajgopal đã tiến hành khảo sát 169 CFO tại các công ty niêm yết trên thị trường Mỹ và tiết lộ rằng ít nhất 20% công ty có phù phép lợi nhuận trong báo cáo tài chính hàng quý.

Tại sao các công ty lại phù phép lợi nhuận BCTC?

Và mức tiêu biểu họ thường bóp méo là khoản 10% so với EPS của báo cáo. Chưa có cuộc khảo sát ở Việt Nam, nhưng con số 10% thì quá ít so với các công ty ở VN, có lẽ các CFO Hoa Kỳ cần qua VN 1 thời gian học các tuyệt chiêu lãi giả lỗ thật của các cao thủ như VSP, DVD, hoặc dấu lãi như vụ Petrolimex, QCG hay cách dấu lãi chuyển lỗ khá kín đáo và hợp pháp của DPM.

Tại sao các công ty lại phù phép lợi nhuận BCTC?

Trở lại với cuộc khảo sát, lí do quan trọng nhất khiến các công ty bùa chú lợi nhuận là vì muốn thao túng giá cổ phiếu, được 93.48% bầu chọn. Lí do tiếp theo là bị các áp lực từ bên ngoài khiến cho công ty buộc phải bóp méo lợi nhuận. Áp lực từ bên ngoài có thể là từ ngân hàng đòi hỏi phải duy trì 1 mức lợi nhuận nào đó mới cho vay vốn kinh doanh, từ nhà cung cấp, hoặc vì lí do IPO phải làm báo cáo đẹp lên đôi chút. Áp lực từ bên trong công ty, cũng như những khoản tiền thưởng béo bở cho giám đốc nếu công ty có lợi nhuận tốt cũng là 1 động lực của việc phù phép lợi nhuận. Dưới đây là bảng tổng hợp chi tiết các lí do còn lại.

Đọc tiếp »

TS LÊ ĐÌNH THĂNG

Kiểm toán ngân sách địa phương là nhiệm vụ quan trọng hàng năm mà Kiểm toán Nhà nước (KTNN) phải đảm nhận. Việc kiểm toán ngân sách địa phương không chỉ giúp chính quyền địa phương các cấp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách, tăng cường quản lý và giám sát ngân sách mà còn giúp cho các cơ quan trung ương nắm bắt được thực trạng quản lý ngân sách tại các địa phương, hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách. Kiểm toán ngân sách địa phương còn giúp cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội có thông tin tin cậy phục vụ giám sát ngân sách, hoạch định ngân sách năm và chính sách ngân sách. Những năm qua việc kiểm toán ngân sách địa phương chủ yếu do KTNN khu vực đảm nhận và tập trung nhiều vào kiểm toán quyết toán ngân sách. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đề cập đến việc kiểm toán chuyên đề trong kiểm toán ngân sách địa phương.
1. Những năm qua, kể từ khi KTNN được thành lập, nhiệm vụ kiểm toán ngân sách địa phương luôn được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Trước đây, khi các KTNN khu vực chưa đủ năng lực, chuyên ngành kiểm toán ngân sách cùng với các KTNN khu vực đảm nhận kiểm toán ngân sách địa phương hàng năm. Cùng với sự lớn mạnh của KTNN, các KTNN khu vực được thành lập và đảm nhận kiểm toán ngân sách các địa phương. Cho đến nay, với mạng lưới KTNN khu vực rộng khắp đã đảm nhận toàn bộ việc kiểm toán ngân sách địa phương. Ngoài ra, các KTNN khu vực còn thực hiện kiểm toán một số đơn vị theo sự phân công của Tổng KTNN. Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, kể từ khi thành lập đến nay, các cuộc kiểm toán ngân sách địa phương đều thực hiện mang tính truyền thống, chủ yếu thực hiện kiểm toán quyết toán ngân sách địa phương là chính. Các cuộc kiểm toán ngân sách địa phương được thực hiện qua kiểm toán quyết toán ngân sách địa phương nhưng trên thực tế có sự lồng ghép giữa kiểm toán báo cáo tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp, kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp mà thực chất là kiểm toán thuế và kiểm toán báo cáo quyết vốn đầu tư công trình hoàn thành. Quyết toán ngân sách địa phương chưa được kiểm toán với tư cách là báo cáo tài chính độc lập cần phải được kiểm toán một cách độc lập.

Đọc tiếp »

Đào Thị Hương Lan

Giám đốc Sở Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh

Tại thành phố Hồ Chí Minh, nhiều năm qua Kiểm toán Nhà nước (KTNN) đã thường xuyên thực hiện kiểm toán đối với tình tình quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; tổ chức một số cuộc kiểm toán chuyên đề. Hoạt động của KTNN đã có tác động tích cực đến công tác quản lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh, giúp các cấp chính quyền địa phương phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý, điều hành ngân sách địa phương. Bằng những căn cứ mang tính chuyên môn, các chứng lý, các kết quả thẩm tra, KTNN không những chỉ ra các trường hợp sai phạm, sơ hở trong quản lý tài chính ngân sách nhà nước để địa phương, đơn vị hiểu rõ thực trạng công tác quản lý tài chính tại cơ sở nhằm có giải pháp chấn chỉnh và cung cấp những nguồn thông tin, dữ liệu đầy đủ, đáng tin cậy giúp các đại biểu Hội đồng nhân dân yên tâm lấy đó làm căn cứ quan trọng để thảo luận, phê chuẩn quyết toán, quyết định, phân bổ dự toán, giám sát quá trình điều hành ngân sách và quyết định các chủ trương, chính sách tài chính – kinh tế và ngân sách ở thành phố.

Mặt khác, với địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại Luật KTNN; thông qua công tác kiểm toán tại các địa phương, các cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, KTNN đã ghi nhận các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách, chế độ của nhà nước tại cơ sở để kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách và quy định pháp luật cho phù hợp.
Trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các sở, ban, ngành trong việc thực hiện kiến nghị, kết luận của KTNN và kết quả thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh trong các năm qua
Mối quan hệ giữa KTNN với Hội đồng nhân dân (HĐND) và Uỷ ban nhân dân (UBND) được thiết lập và duy trì trong cả 4 khâu của quy trình kiểm toán, bao gồm: lập kế hoạch kiểm toán ngân sách địa phương, thực hiện kiểm toán ngân sách địa phương, lập và phát hành báo cáo kiểm toánvà cuối cùng là kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán. Nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan, KTNN Khu vực IV và Thường trực HĐND, UBND đã thống nhất ký Quy chế phối hợp giữa 3 cơ quan. Nội dung Quy chế quy định sự phối hợp công tác trong thực hiện nhiệm vụ kiểm toán và trong hoạt động giám sát, quản lý, điều hành ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Mười 2019
H B T N S B C
« Th7    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 302 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements