You are currently browsing the tag archive for the ‘doanh nghiệp’ tag.

ThS. VÕ LINH GIANG (Đại học Toulouse 1)

Với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, nhu cầu góp vốn bằng tài sản là quyền sở hữu trí tuệ (STTT) ngày càng phổ biến trên khắp thế giới và cả ở Việt Nam. Tài sản là quyền SHTT là một tài sản đặc biệt và việc định giá đối với tài sản này cũng cần những phương pháp đặc biệt. Do tính đặc biệt của tài sản là quyền SHTT nên việc định giá không chính xác so với giá trị thật sự của tài sản là việc không thể tránh khỏi. Vì vậy, để quy trách nhiệm của tổ chức, cá nhân định giá nhằm hạn chế định giá sai thì quy định về định giá tài sản góp vốn phải chặt chẽ tránh những thiệt hại đáng tiếc xảy ra.

Khi góp vốn bằng quyền SHTT nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng, việc cần làm trước nhất là phải tiến hành định giá giá trị quyền tài sản góp vào doanh nghiệp. Người góp vốn thường có khuynh hướng định giá cao hơn giá trị thật sự của tài sản, điều này rất nguy hiểm vì hành vi sai trái này không chỉ ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các thành viên hoặc cổ đông khi thỏa thuận cho phép thành viên hoặc cổ đông góp vốn bằng quyền SHTT nắm giữ nhiều quyền hơn số vốn thực tế họ đã góp vào công ty, mà còn tạo nên hình ảnh sai lệch về khả năng thanh toán của công ty đối với người thứ ba[1]. Do đó, quy định về định giá tài sản góp vốn là quyền SHTT cần được quy định chặt chẽ để hạn chế tình trạng đánh giá vượt giá trị thật của quyền tài sản được góp vốn.

1. Các quy định của pháp luật Việt Nam về định giá tài sản góp vốn

Đọc tiếp »

Advertisements

ĐẬU ANH TUẤN

TRƯỞNG BAN PHÁP CHẾ

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Đẩy mạnh phát triển kinh tế và chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả là một trong những định hướng quan trọng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta.

Thời gian qua, Chính phủ đã ký kết và thực thi nhiều hiệp định mở cửa thương mại quan trọng, trong đó đáng kể là Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA), gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và 10 Hiệp định thương mại tự do (FTA). Sắp tới đây sẽ là những FTA thế hệ mới với một loạt các đối tác thương mại hàng đầu thế giới như Hoa Kỳ, EU… được ký kết.

Các Hiệp định này mở ra con đường hội nhập thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam cũng như toàn bộ nền kinh tế với các đối tác thương mại lớn. Đồng thời thông qua việc thực thi các cam kết trong đó, môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam cũng được cải thiện mạnh mẽ, tạo điều kiện để doanh nghiệp tự do sáng tạo, kinh doanh, làm giàu cho mình và cho đất nước.

Mặc dù vậy, có một thực tế đầy lo ngại là dường như những lợi ích tiềm tàng to lớn từ những Hiệp định, thỏa thuận thương mại này đã chưa được hiện thực hóa bao nhiêu trên thực tế. Ở thị trường xuất khẩu, chỉ mới khoảng 30% hàng hóa Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA. Trong khi đó thị trường nội địa lại chứng kiến sự đổ bộ nhanh chóng của hàng hóa, dịch vụ nước ngoài. Dường như doanh nghiệp Việt Nam sau hai thập kỷ hội nhập tính từ thời điểm gia nhập ASEAN đến nay vẫn đang loay hoay, lúng túng trong việc tìm ra cách thức để hội nhập hiệu quả.

Tất nhiên lời giải cho bài toán này trước hết nằm ở doanh nghiệp, trong việc tìm biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập.

Dù vậy, từ góc độ khác, sự hỗ trợ từ Nhà nước là rất cần thiết để các doanh nghiệp Việt Nam, vốn còn nhỏ bé, non trẻ và yếu ớt trong cuộc chơi với các đối thủ sừng sỏ, dày dạn kinh nghiệm, có thể tồn tại, lớn lên kiên cường và cạnh tranh sòng phẳng trong nền kinh tế toàn cầu hóa này.

Ở đây tôi chỉ xin đề cập tới 02 vấn đề lớn nhất mà doanh nghiệp đang rất cần sự hỗ trợ từ Nhà nước để hội nhập hiệu quả:

I. Doanh nghiệp cần Nhà nước hỗ trợ về cơ chế để có các tổ chức đại diện mạnh và hiệu quả

Đọc tiếp »

Trong những năm qua có một sự soán ngôi giữa loại hình kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ (KTNB), rất nhiều đơn vị sau một thời gian thiết lập đã dần thu hẹp và loại bỏ bộ phận KTNB thay vào đó là sự lựa chọn dịch vụ kiểm toán độc lập. Nguyên nhân có thể thấy từ hai phía: Thứ nhất do chất lượng của KTNB chưa đáp ứng yêu cầu của đơn vị, thứ hai bản thân nhà quản trị cũng chưa nhận thức rõ về vai trò của KTNB.

I, Kiểm toán nội bộ -hàng rào phòng thủ của các đơn vị

Theo IIA, Viện Kiểm toán Nội bộ: KTNB “là hoạt động đánh giá và tư vấn độc lập trong nội bộ tổ chức, được thiết kế nhằm cải tiến và làm tăng giá trị cho các hoạt động của tổ chức đó. Giúp tổ chức đạt được các mục tiêu bằng việc đánh giá và cải tiến một cách hệ thống và chuẩn tắc tính hiệu lực của quy trình quản trị, kiểm soát và quản lý rủi ro.” (IIA là tổ chức nghề nghiệp dành cho kiểm toán viên nội bộ thành lập năm 1941 có trụ sở chính tại Hoa Kỳ và hơn 122.000 hội viên trên toàn cầu.). Từ khái niệm trên cho thấy điểm khác biệt giữa KTNB  với kiểm toán độc lập, kiểm toán Nhà nước đó là mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán, với loại hình kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập có sự tách biệt tương đối rõ ràng giữa chủ thể và khách thể kiểm toán, với loại hình KTNB thì sự tách biệt là không có, bộ phận kiểm toán nội bộ là bộ phận nằm chính trong cơ cấu tổ chức của đơn vị khách thể kiểm toán. Khái niệm cũng nhấn mạnh vai trò, tác dụng của KTNB đối với hoạt động của đơn vị; giúp “bảo vệ giá trị cho tổ chức”, KTNB giữ vai trò “quan sát viên độc lập” nhằm đảm bảo hoạt động của tổ chức tuân thủ các quy định pháp luật quốc gia, quy định, quy tắc của tổ chức; KTNB là người “giám sát, bảo trì, nâng cấp hệ thống kiểm soát nội bộ” trong vai trò đảm bảo hiệu quả kinh doanh và xây dựng các thủ tục kiểm soát cần thiết. KTNB là công cụ giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu của hệ thống quản lý của tổ chức. Đối với các doanh nghiệp, KTNB có thể hỗ trợ ban giám đốc và hội đồng quản trị có thể kiểm soát hoạt động và quản lý rủi ro tốt hơn mọi khi quy mô và độ phức tạp của doanh nghiệp vượt quá tầm kiểm soát của họ.

Đọc tiếp »

TRẦN THANH TÙNG

Công ty Luật Phuoc & Partners

(TBKTSG) – Luật Đầu tư năm 2014 (LĐT 2014) được Quốc hội thông qua ngày 26-11-2014 thay thế Luật Đầu tư năm 2005 (LĐT 2005). So với LĐT 2005, LĐT 2014 có tinh thần mở hơn, phạm vi điều chỉnh rõ ràng hơn. Dù vậy, đâu đó vẫn còn một sự lưỡng lự giữa mong muốn thu hút đầu tư nước ngoài và bảo hộ đầu tư trong nước, giữa quyền quản lý của Nhà nước và quyền tự do đầu tư của nhà đầu tư.

Luật Đầu tư chỉ quản lý dự án đầu tư

Một trong những vướng mắc lớn nhất của LĐT 2005 là tình trạng chồng lấn, giẫm chân lên Luật Doanh nghiệp. Theo quy định luật này, trong trường hợp thực hiện dự án đầu tư gắn với việc thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đầu tư bao gồm cả nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký doanh nghiệp. Khi đó, giấy chứng nhận đầu tư cũng đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Doanh nghiệp rơi vào tình trạng một cổ hai tròng, vừa phải tuân thủ LĐT vừa phải tuân thủ Luật Doanh nghiệp.

LĐT 2014 đã tách nội dung đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp ra khỏi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (hiện nay là giấy chứng nhận đầu tư), chỉ điều chỉnh các dự án đầu tư, còn việc thành lập doanh nghiệp sẽ do Luật Doanh nghiệp điều chỉnh. Do vậy, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư giờ đây chỉ ghi nhận thông tin về dự án đầu tư.

Ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh, và đầu tư kinh doanh có điều kiện

Đọc tiếp »

PHÙNG ĐẮC LỘC

Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

Quản trị doanh nghiệp bảo hiểm là việc lựa chọn, ra quyết định, triển khai thực hiện, tổ chức kiểm tra giám sát, thu thập phân tích thông tin để điều chỉnh các giải pháp mang tính ngắn hạn, trung hạn, dài hạn nhằm mục tiêu phát triển doanh nghiệp, tăng trưởng an toàn, hiệu quả trên cơ sở khai thác và huy động triệt để nguồn nhân lực của doanh nghiệp (vốn, công nghệ, nhân lực…) trong bối cảnh cạnh tranh trong ngành và tác động từ yếu tố bên ngoài (kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, pháp luật, môi trường kinh doanh…).

1.  Môi trường bên ngoài tác động vào doanh nghiệp bảo hiểm

Các doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng được kế hoạch kinh doanh hàng năm và chiến lược kinh doanh trung và dài hạn. Kế hoạch và chiến lược kinh doanh được xây dựng trên cơ sở khai thác hết tiềm năng của doanh nghiệp (sẵn có và có thể huy động thêm) nhưng phải thực sự khách quan khi lường hết được tác động từ bên ngoài:

-Yếu tố kinh tế: tăng trưởng GDP, xuất khẩu, nhập khẩu, CPI, FDI, ODA, tín dụng, chứng khoán, bất động sản, tình hình tài chính của các doanh nghiệp có nhu cầu bảo hiểm.

-Yếu tố chính trị: những chủ trương, chính sách, nghị quyết, giải pháp mới của Đảng, Nhà nước, Chính phủ tác động đến nền kinh tế nói chung, ngành bảo hiểm nói riêng có thể là cơ hội hoặc thách thức như kiềm chế lạm phát, thắt chặt tín dụng, quản lý chặt chẽ đầu tư công hay kích cầu nhà ở xã hội 30.000 tỷ đồng, phát triển khai thác hải sản, phát triển bảo hiểm hưu trí tự nguyện,…

-Yếu tố pháp luật: các văn bản pháp luật mới ban hành và có hiệu lực tác động đến bảo hiểm như Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Đầu tư công, Luật Phòng chống thiên tai, Luật Bảo vệ môi trường,… Các cơ chế chính sách, thủ tục mới ban hành như chính sách thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân,… Các văn bản hướng dẫn hoạt động kinh doanh như chế độ kế toán, tiêu chí đánh giá xếp hạng doanh nghiệp bảo hiểm, sửa đổi bổ sung Thông tư 124, Thông tư 125, bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, bảo hiểm tàu thuyền và thuyền viên khai thác hải sản, bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bán bảo hiểm qua ngân hàng,…

-Yếu tố xã hội: thu nhập, cách sử dụng tiền, thái độ với rủi ro và bảo hiểm của các tầng lớp dân cư, vùng miền.

Đọc tiếp »

TS. VŨ THÀNH TỰ ANH

Trong giai đoạn 1986-2012, tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp được duy trì ở mức khá cao, trung bình đạt 8,3%. Năng lực cạnh tranh quốc tế của sản phẩm công nghiệp chế biến được cải thiện đáng kể và cấu trúc của nó cũng trở nên khá đa dạng.

Sau gần ba thập niên phát triển theo chiều rộng, động năng tăng trưởng công nghiệp của Việt Nam đã chững lại và đang trên đà suy giảm, đa số doanh nghiệp Việt Nam chỉ dừng lại ở các hoạt động gia công đơn giản hay giá trị gia tăng thấp.

Đằng sau kết quả này tất nhiên là có nhiều nguyên nhân, song một trong những nguyên nhân quan trọng nhất nằm ở mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Là một nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, sự ưu ái doanh nghiệp nhà nước (DNNN), đồng thời phân biệt đối xử đối với doanh nghiệp tư nhân là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, tình trạng phân biệt đối xử này phụ thuộc vào mức độ gay gắt của sự đánh đổi giữa một bên là ý thức hệ chính trị và bên kia là tính chính đáng kinh tế, vào cấu trúc nội tại của nhà nước, và vào tầm vóc của lãnh đạo.

Vào đầu thập niên 1980, nền kinh tế kế hoạch tập trung theo kiểu Xô viết rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, thách thức tính chính đáng của sự lãnh đạo của Đảng. Dưới sự lãnh đạo của quyền Tổng bí thư Đảng Trường Chinh, Việt Nam đã tiến hành đổi mới theo định hướng thị trường vào năm 1986. Khu vực doanh nghiệp tư nhân, cả trong nước lẫn nước ngoài, mặc dầu vẫn ở bên lề nhưng lần đầu tiên chính thức được chấp nhận như một thành phần kinh tế. Nhờ năng lực sẵn có, lại trung tính về chính trị nên các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FIEs) được chào mời liên doanh với các DNNN. Chỉ trong vòng một thập niên, khu vực FDI đã vượt qua khu vực nhà nước để trở thành khu vực đóng góp nhiều nhất cho tăng trưởng công nghiệp của Việt Nam.

Đọc tiếp »

Bài 1: Rộ phát hành trái phiếu doanh nghiệp

Tác giả: Thành Nam (thesaigontimes.vn, thứ Năm,  6/11/2014)

(TBKTSG) – Vốn có thể đang rất thừa đối với các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu, kinh doanh dịch vụ nhưng nó chưa qua thời khan hiếm đối với bất động sản. Nhìn từ gốc rễ sâu xa này, mới thấy phát hành trái phiếu doanh nghiệp là một nửa nụ cười có phần chua chát.

Công ty cổ phần Phát triển hạ tầng kỹ thuật (IJC-Hose) cuối tuần qua công bố nghị quyết hội đồng quản trị phát hành 400 tỉ đồng trái phiếu kỳ hạn năm năm cho Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank), với lãi suất năm đầu 12,2%, những năm sau lãi suất thả nổi cộng biên độ 4%/năm. Trước đó, cuối tháng 9-2014, IJC cũng thông qua phương án phát hành 600 tỉ đồng trái phiếu nhằm thực hiện dự án Sunflower II.

IJC không phải đơn vị đầu tiên hay duy nhất phát hành trái phiếu doanh nghiệp năm nay. Thị trường đã chứng kiến hàng chục ngàn tỉ đồng trái phiếu được các công ty niêm yết phát hành như Công ty cổ phần Năm Bảy Bảy; tập đoàn Sao Mai; Công ty cổ phần Ngân Sơn; tập đoàn Vingroup; tập đoàn Đại Dương; tập đoàn Masan; Tổng công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc… Ngay cả những “đại gia” không thiếu tiền mặt như Công ty Chứng khoán Sài Gòn cũng vừa quyết định phát hành 1.000-1.500 tỉ đồng trái phiếu không chuyển đổi để mở rộng hoạt động tự doanh và ký quỹ.

Đọc tiếp »

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Công bố ngày 25/7/2014

Năm 2013, Kiểm toán Nhà nước đã tổ chức kiểm toán tại 150 đầu mối[1] và kiểm toán Báo cáo quyết toán NSNN năm 2012 tại Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT.

Thực hiện quy định tại khoản 8, Điều 15, khoản 3, Điều 55 Luật Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán Nhà nước đã lập Báo cáo kết quả kiểm toán năm 2013 để gửi đến từng Đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa 13 và các cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

Căn cứ Điều 58, Luật Kiểm toán nhà nước, khoản 2, Điều 11, Nghị định số 91/2008/NĐ-CP ngày 18/8/2008 của Chính phủ về công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước trân trọng công bố tóm tắt kết quả kiểm toán năm 2013 như sau:

A. KẾT QUẢ KIỂM TOÁN QUYẾT TOÁN NSNN NĂM 2012

– Tổng thu NSNN 1.058.140 tỷ đồng, vượt 1,9% dự toán.

– Tổng chi NSNN 1.170.924 tỷ đồng, vượt 8,3% dự toán, trong đó: Chi đầu tư phát triển 268.812 tỷ đồng, bằng 31,1% tổng chi NSNN, vượt 49,3% (88.812 tỷ đồng) dự toán; chi thường xuyên 603.372 tỷ đồng, vượt 0,3% (2.072 tỷ đồng) dự toán; chi trả nợ, viện trợ 105.838 tỷ đồng, vượt 5,8% (5.838 tỷ đồng) dự toán.

– Tăng trưởng kinh tế năm 2012 đạt 5,3%; bội chi NSNN được giữ ở mức 4,75% GDP, thấp hơn 0,05% mức Quốc hội cho phép (4,8%); dư nợ Chính phủ bằng 38,9% GDP, dư nợ nước ngoài của quốc gia bằng 37,4% GDP[2]; dư nợ công 1.642.916 tỷ đồng, bằng 55,7% GDP (năm 2011 bằng 54,9% GDP)[3].

Qua kiểm toán cho thấy trong quản lý điều hành ngân sách việc sử dụng các khoản tăng thu, dư dự toán và dự phòng ngân sách cơ bản phù hợp quy định; tổng chi chuyển nguồn và chuyển nguồn của những nhiệm vụ chậm triển khai đều giảm so với năm 2011, sử dụng kinh phí NSNN tại các bộ, cơ quan trung ương đi vào nề nếp hơn, phù hợp với tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước[4]; các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; các đơn vị được kiểm toán cơ bản đã tuân thủ quy định của Luật NSNN, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Phòng, Chống tham nhũng… Song, còn một số thiếu sót, hạn chế:

1. Lập và giao dự toán

Đọc tiếp »

Luật gia TRẦN VŨ HẢI

Đại học Luật Hà Nội

1. Tại sao cần hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp?

Lý do đầu tiên là xuất phát từ phía doanh nghiệp còn hạn chế kiến thức pháp lý. Nhận thức của nhiều chủ doanh nghiệp, nhà quản lý doanh nghiệp về vai trò của pháp luật trong hoạt động kinh doanh còn khá hạn chế. Nhiều chủ doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đi lên từ mô hình sản xuất nhỏ, không được đào tạo hoặc bồi dưỡng bài bản về kiến thức pháp luật, thường làm việc theo thói quen. Ở quy mô nhỏ thì không có vấn đề gì, nhưng ở quy mô lớn, rất dễ xảy ra các tranh chấp pháp lý. Ví dụ: việc giao kết hợp đồng chỉ bằng lời nói, bàn giao tiền hoặc tài sản không kèm theo chứng từ… Bên cạnh đó, thực tế hiện nay có nhiều chủ doanh nghiệp, nhà quản lý doanh nghiệp quan niệm rằng: pháp luật là câu chuyện của nhà nước đặt ra để trói buộc doanh nghiệp, và nếu không có “chạy chọt” để “cởi trói” thì dù có giỏi pháp luật đến mấy cũng không thể làm được. Thực tế cho thấy, tuy chưa hoàn toàn loại trừ được tham nhũng, tiêu cực, nhưng nếu doanh nghiệp am hiểu pháp luật, thì hoàn toàn có thể tự bảo vệ mình trước các rủi ro pháp lý trong kinh doanh, cũng như dễ dàng hơn trong các giao dịch hành chính đối với cơ quan nhà nước.

Hệ thống pháp luật phức tạp và chưa hoàn thiện

· Hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay đang ngày càng trở nên “rối rắm”. Việc chúng ta đẽo cày giữa đường trong việc học hỏi công tác lập pháp ở các hệ thống pháp luật khác nhau (vừa học hỏi hệ thống Anh Mỹ lại cả của Châu Âu lục địa và Trung Quốc là những ví dụ điển hình) đã làm cho hệ thống văn bản trở nên phức tạp, hỗn độn và chồng chéo.

· Tư duy thích điều hành bằng văn bản của nhiều cơ quan nhà nước hơn là giải quyết công việc bằng chỉ đạo cụ thể cho từng trường hợp đã làm cho hệ thống văn bản càng trở nên đồ sộ. Thậm chí, bản thân một số cơ quan soạn thảo cũng không dám chắc chắn là có văn bản nào đang có hiệu lực điều chỉnh vấn đề này, bằng chứng là trong các văn bản thường có quy định sau đây: “Những quy định ban hành trước đây trái với Thông tư/Nghị định này đều bị bãi bỏ”.

Đọc tiếp »

PGS.TS NGUYỄN QUANG HÙNG

Ở nghĩa rộng có thể hiểu, bất kỳ một dạng kiểm toán nào đều là việc kiểm soát một phạm trù nào đó của quản lý. Kiểm toán cơ cấu tổ chức là việc kiểm tra cơ cấu tổ chức (các mối quan hệ của cơ cấu tổ chức và quá trình kinh doanh) tìm ra sự phù hợp giữa cơ cấu tổ chức với quy mô và tính chất hoạt động của doanh nghiệp. Ở bài viết này tác giả muốn đề cập đến các vấn đề liên quqn đến kiểm toán cơ cấu tổ chức: Sự cần thiết, mục đích và các giai đoạn của kiểm toán cơ cấu tổ chức.

1. Kiểm toán cơ cấu tổ chức và các mục tiêu cơ bản của kiểm toán cơ cấu tổ chức

Chúng ta đã quen thuộc với khái niệm kiểm toán các hoạt động kinh tế-tài chính trong đơn vị. Tuy nhiên, ở nghĩa rộng có thể hiểu, bất kỳ một dạng kiểm toán nào- là việc kiểm soát một phạm trù nào đó của quản lý.

Kiểm toán cơ cấu tổ chức là việc kiểm tra cơ cấu tổ chức (các mối quan hệ của cơ cấu tổ chức và quá trình kinh doanh) tìm ra sự phù hợp giữa cơ cấu tổ chức với quy mô và tính chất hoạt động của doanh nghiệp. Kiểm toán cần xác định mục đích, nhiệm vụ, chức năng, giá trị và khả năng để phát triển cơ cấu đó. Kiểm toán cơ cấu được thực hiện với mục đích phát hiện những rủi ro tổ chức, rủi ro tài chính khi thiết lập cơ cấu, thậm chí cả sự thiệt hại tài chính của doanh nghiệp mà rủi ro có thể đem lại. Nếu như cơ cấu tổ chức là một phần của hệ thống thì kiểm toán cần xác định hiệu quả của cơ cấu đã thiết lập.

Kiểm toán cơ cấu tổ chức quản lý bao gồm việc xác định cơ cấu tổ chức, mô tả sự phân bổ quyền hạn và trách nhiệm giữa các nhân viên và các bộ phân, việc ban hành chính sách của doanh nghiệp, quy định về các bộ phận, hướng dẫn thực hiện chức trách, nguyên tắc kế hoạch hóa, kế toán, phân tích và ra quyết định về tất cả các phạm trù quản lý (marketing, logictic, sản xuất…), phân tích các phương án khác nhau để xây dựng hệ thống quản lý sẽ cho phép lãnh đạo doanh nghiệp hoặc các bộ phận riêng biệt chấn chỉnh hoạt động và giảm chi phí để thực hiện quản lý doanh nghiệp có hiệu quả nhất.

2. Khi nào cần tiến hành kiểm toán cơ cấu tổ chức

Đọc tiếp »

TS.NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội

Công ty cổ phần (CTCP) nói riêng và doanh nghiệp nói chung không thể tồn tại và hoạt động lâu dài, hiệu quả nếu thiếu sự hợp tác của chủ sở hữu (CSH), chủ nợ và người quản lý, điều hành. Để điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa các chủ thể trong quá trình quản lý, sử dụng vốn và tài sản của CTCP, không chỉ giải quyết hậu quả phát sinh mà phải ngăn ngừa nguy cơ xảy ra vi phạm hoặc hạn chế tối đa thiệt hại có khả năng xảy ra. Bài viết phân tích những bất cập của các chế định pháp luật về bảo đảm an toàn tài chính CTCP, lợi ích của cổ đông và chủ nợ; kiến nghị sửa đổi một số nội dung Luật Doanh nghiệp (Luật DN).

1. Bất cập của các chế định pháp luật về bảo đảm an toàn tài chính công ty cổ phần, lợi ích của cổ đông và chủ nợ

1.1. Bảo đảm quyền được biết thông tin về hợp đồng vay và mua, bán tài sản

Quan hệ hợp đồng vay tạo cho chủ nợ có quyền lợi ưu tiên hơn so với cổ đông. Về nguyên tắc, khi công ty không trả được nợ, chủ nợ sẽ xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Trong trường hợp thỏa thuận vay không có tài sản bảo đảm thì chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu Toà án tuyên bố phá sản công ty để thu hồi nợ.

Sự thỏa thuận thu hồi nợ trong hợp đồng và sử dụng quyền lực của Tòa án để thu hồi nợ đặt các công ty vào tình trạng bất ổn khi không thanh toán được các khoản nợ đến hạn. Trong hàng loạt các giao dịch của mình, không phải giao dịch nào cũng mang lại lợi nhuận cho công ty, rủi ro trong thực hiện dự án có thể dẫn tới đổ bể công ty nếu không kịp thời giải quyết vấn đề nợ.

Không phải tất cả cổ đông đều có cơ hội như nhau trong nắm bắt các thông tin về đầu tư, vay nợ và mua bán tài sản. Trên thực tế, các cổ đông lớn là cá nhân và người đại diện ủy quyền của cổ đông pháp nhân thường tham gia vào bộ máy quản lý, điều hành công ty. Theo Luật DN, cổ đông có thể tiếp cận thông tin tài chính thông qua báo cáo tình hình kinh doanh của công ty hàng năm, hoặc kết quả trả lời của Ban kiểm soát (BKS) về kiểm tra, xem xét các vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành công ty. Đối với việc quyết định kinh doanh, Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) chỉ quyết định khi đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu điều lệ công ty không quy định một tỉ lệ khác (điểm d khoản 2 Điều 96); còn hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất thuộc thẩm quyền thông qua của Hội đồng quản trị (HĐQT – điểm g khoản 2 Điều 108). Ngoài ra, HĐQT còn có thẩm quyền chấp thuận các hợp đồng và giao dịch có giá trị nhỏ hơn 50% tổng giá trị tài sản (khoản 2 Điều 120). Hơn thế nữa, nhằm hạn chế giao dịch tư lợi, khoản 1 Điều 120 quy định các giao dịch phải được ĐHĐCĐ hoặc HĐQT chấp thuận: (i) Cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ đông sở hữu trên 35% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những người liên quan đến họ; (ii) Thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; (iii) Doanh nghiệp có liên quan đến việc sở hữu của thành viên HĐQT, thành viên BKS, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty; doanh nghiệp mà những người liên quan của họ cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng cổ phần hoặc phần vốn góp trên 35% vốn điều lệ. Theo quy định này, thẩm quyền quyết định để kiểm soát xung đột lợi ích chưa chắc đã thuộc về ĐHĐCĐ khi điều lệ công ty ghi nhận thẩm quyền này thuộc HĐQT. Như vậy, quyền quyết định kinh doanh trong CTCP chủ yếu tập trung cho HĐQT.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Mười 2019
H B T N S B C
« Th7    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 302 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements