You are currently browsing the tag archive for the ‘chính sách tiền tệ’ tag.

HÀ THU (theo New York Times)

Động thái được đánh giá là một mũi tên trúng 2 đích, vừa thúc đẩy kinh tế trong nước, vừa tăng quyền lực cho đồng nhân dân tệ để củng cố vai trò của Trung Quốc trên toàn cầu.

Nhân dân tệ (NDT) đã xuống đáy 4 năm so với USD, sau động thái hạ tỷ giá tham chiếu thêm 1,6% sáng nay. Tỷ giá giao dịch tại Trung Quốc đã rơi xuống 6,44 NDT đổi một USD – thấp nhất từ tháng 8/2011. Trên thị trường quốc tế, giá này còn xuống 6,57 NDT.china-8736-1439372452.jpg

Động thái của Trung Quốc đã khiến nhiều tiền tệ châu Á mất giá theo. Rupiah Indonesia và ringgit Malaysia đã xuống đáy 17 năm so với USD. Trong khi đó, đôla Australia và đôla New Zealand xuống thấp nhất 6 năm.

Thị trường chứng khoán toàn cầu cũng không tránh khỏi ảnh hưởng. Đến 4h chiều nay, Nikkei 225 (Nhật Bản) đã mất 1,5%, Hang Seng Index trên sàn Hong Kong cũng giảm 3,9%. S&P/ASX 200 (Australia) mất 2,67%. Tại châu Âu, các thị trường mới mở cửa cũng đã phát tín hiệu giảm. FTSE 100 (Anh) mất 0,6%. Mức giảm này của DAX (Đức) là 0,9% và CAC (Pháp) là 0,6%.

Đọc tiếp »

Advertisements

NHÓM NGHIÊN CỨU HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN:

PGS.TS. Đào Hùng, TS.Nguyễn Thạc Hoát, TS. Nguyễn Trọng Nghĩa,

ThS. Nguyễn Thế Vinh, ThS. Nguyễn Việt Anh

Việt Nam bước vào giai đoạn 2011-2012 trong bối cảnh nền kinh tế trong nước đối mặt với nhiều thách thức to lớn. Lạm phát của thế giới có xu hướng tăng lên, trong đó giá dầu thô, giá nguyên vật liệu cơ (bản đầu vào của sản xuất), giá lương thực, và thực phẩm trên thế giới tăng cao.Trong khi đó, vào năm 2011, giá cả trong nước tăng cao, áp lực lạm phát ngày càng tăng lên do nhiều nguyên nhân nội tại của nền kinh tế tích lũy từ trước đến nay và chính sách nới lỏng tiền tệ để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng trong thời gian 2008-2010, làm tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta.

Nghị quyết Hội nghị T.Ư 3 (khóa XI) tháng 10-2011 đã xác định giai đoạn 2011-2015, ưu tiên hàng đầu của kinh tế Việt Nam là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đi đôi với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.

Cùng với sự điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô, Chính phủ đã đổi mới quan điểm, điều chỉnh mục tiêu chính sách tiền tệ thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội về phát triển kinh tế xã hội, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, thể hiện rõ trong các nghị quyết của Chính phủ 2011-2012[1].

NHNN đã ban hành các văn bản chỉ đạo[2] triển khai thực hiện CSTT, điều hành nhất quán, kiên định theo các định hướng mục tiêu của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và nhiệm vụ đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng(TCTD).

Về CSTT giai đoạn trước năm 2010 đã được đề cập trong nhiều công trình, dự án nghiên cứu cụ thể.Vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu của CSTT trong năm 2011 và 2012.Những số liệu liên quan đến thời kỳ trước được sử dụng để phân tích, so sánh để làm rõ hơn CSTT 2011-2012.

I. ĐỊNH HƯỚNG MỤC TIÊU VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 2011-2012

Đọc tiếp »

PGS, TS. ĐÀO VĂN HÙNG & TS. TRỊNH QUANG ANH

Năm 2013, hơn nửa chặng đường 2011-2015, đã khép lại. Niềm vui là “kinh tế vĩ mô đang dần ổn định” dường như bị lấn át bởi những lo lắng, trăn trở trong điều hành kinh tế vĩ mô sao cho đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế – xã hội đặt ra cho nửa chặng đường còn lại 2014-2015. Vì vậy, việc phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trở nên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Những khó khăn, thách thức đang đặt ra

Nhìn tổng thể kết quả 3 năm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của kế hoạch 2011-2013, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện khá tích cực và mục tiêu tổng quát năm 2013 là: “tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn năm 2012” về cơ bản đã thực hiện được. Kết quả điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, cũng như những thành quả bước đầu của tiến trình tái cấu trúc nền kinh tế, đã có những đóng góp nhất định vào thành tựu chung này.

Tuy nhiên, về cơ bản, kinh tế nước ta vẫn đang trong giai đoạn khó khăn, tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức trong ngắn hạn và chưa thể trở lại quỹ đạo tăng trưởng nhanh trong 1-2 năm tới. Những tồn tại, hạn chế trong trong công tác quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô nói chung thời gian qua được xác định là một trong những nguyên nhân chính gây lên tình trạng trên.

Đọc tiếp »

PGS,TS.LÊ THỊ THU THỦY

Ngân hàng Trung ương (NHTW) ở bất kỳ quốc gia nào đều có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát và sự an toàn của hệ thống ngân hàng. Kinh nghiệm từ khủng hoảng tài chính của nhiều nước trên thế giới trong giai đoạn vừa qua (đặc biệt là Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản) đã cho thấy vai trò “người dẫn đường” đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế của một quốc gia của NHTW. Nhờ có NHTW với thẩm quyền của mình trong việc xây dựng, thực thi chính sách tiền tệ quốc gia (CSTTQG) và với tư cách là “ngân hàng mẹ của hệ thống ngân hàng” mà nhiều ngân hàng đã được giải cứu, thoát khỏi tình trạng phá sản và duy trì được tính thanh khoản cho toàn hệ thống tài chính[1]. Do đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu về NHTW ở một số nước để có những kinh nghiệm, gợi ý cho Việt Nam khi hoàn thiện pháp luật về NHTW là rất hữu ích, nhằm nâng cao vị thế của NHTW ở Việt Nam theo mô hình NHTW hiện đại.

1. Tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Trung ương ở một số nước trên thế giới

1.1. Mô hình tổ chức của NHTW

Khi nói tới mô hình tổ chức của NHTW ở mỗi quốc gia, cần phải xác định vị trí pháp lý của tổ chức này trong bộ máy công quyền. Tùy theo điều kiện kinh tế – xã hội mỗi nước mà NHTW sẽ tổ chức theo những mô hình khác nhau, có vị trí khác nhau trong bộ máy nhà nước, có mối quan hệ khác nhau với Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.

Trên thực tế đã tồn tại 3 mô hình NHTW: NHTW trực thuộc Quốc hội và độc lập với Chính phủ, NHTW trực thuộc Chính phủ, NHTW trực thuộc Bộ Tài chính.

1.1.1. Ngân hàng trung ương trực thuộc Quốc hội và độc lập với Chính phủ

Theo mô hình này, NHTW không nằm trong cơ cấu bộ máy của Chính phủ, không chịu sự lãnh đạo, điều hành của Chính phủ. Chính phủ không có quyền can thiệp vào hoạt động của NHTW mặc dù ban lãnh đạo của ngân hàng do Tổng thống hay Thủ tướng bổ nhiệm. Chính quyền không được phế truất thống đốc. Điển hình cho mô hình này là NHTW ở các nước như Hoa Kỳ, Đức, Nga[2].

Đọc tiếp »

FED – Vì sao quan trọng?

Nhất cử nhất động của FED, ngân hàng trung ương Hoa Kỳ, còn được biết đến với tên gọi – Hệ thống dự trữ liên bang (Federal Reserve System), đều tạo ra ảnh hưởng không chỉ với hệ thống tài chính mà toàn bộ nền kinh tế toàn cầu. Trong những ngày nóng bỏng của cuộc chạy đua vào vị trí ông chủ Nhà Trắng 2008, với những tin tức tồi tệ nhất, hậu quả của cuộc khủng hoảng tín dụng bất động sản dưới chuẩn xuất hiện từ cuối 2007 tại Hoa Kỳ, liên tiếp được phát đi từ các trung tâm tài chính quốc tế giới, giới quan sát dồn tất cả tập trung vào những động thái và tín hiệu của FED.

Vai trò trọng yếu của FED trong cỗ máy kinh tế thế giới trước tiên được lý giải bằng chức năng ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ, nền kinh tế có giá trị tài sản lớn nhất hành tinh và mức tiêu dùng cao nhất. FED trực tiếp cung cấp nguồn tín dụng cho các tập đoàn đa quốc gia ở trong những ngành công nghiệp chủ chốt hoạt động. Và, gần như mọi ngân hàng trung ương của các quốc gia đều có quan hệ giao dịch với FED.

Ngân hàng trung ương Hoa Kỳ thành lập năm 1913. Đây là năm có rất nhiều sự kiện đáng ghi nhớ trong lịch sử nước Mỹ. Kế hoạch thành lập FED là sự tái dựng hoàn hảo kịch bản Ngân hàng Anh dưới bàn tay sắp đặt bậc thầy của đại gia tộc kinh doanh tiền tệ Rothschild. Điều này được khẳng định trong tất cả các ấn phẩm đã công bố (chính thức và chưa chính thức) về sự ra đời, mở rộng và ngự trị của triều đại Rothschild.

Trong phần nội dung nội dung mô tả quá trình ra đời và cách thức vận hành của FED, chúng tôi tham khảo rất nhiều tư liệu, quan trọng nhất gồm: The Synagogue of Satan của Andrew Carrington Hitchcock (2007), Rothschild Money Trust của George Armstrong (1940), The Rothschild Dynasty của TS. John Coleman (2006), Web of Debt của nữ luật gia Ellen Hodgson Brown (2008), The creature from Jekyll Island của G. Edward Griffin (1994), How the World Really Works của Alan B. Jones (1996), The Money Manipulators của June Grem (1971), Tradegy and Hope của GS. Carroll Quigley (1966), Non dare to call it conspiracy của Gary Allen và Larra Abraham (1972), The Economics of Money, Banking, and Financial markets của Frederic S. Mishkin (2004), và Vatican Assassins: wounded in the house of my friends của Eric Jon Phelps (2001).

Đọc tiếp »

THANH HIỀN (vneconomy.vn)

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính đã ban hành một loạt chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế. Mục đích là phối hợp để tạo ra tác động cộng hưởng tích cực. Thế nhưng, chưa có một báo cáo cụ thể nào về việc phối hợp trên đã tích cực đến đâu.
Hội thảo khoa học “Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều tiết kinh tế vĩ mô” do Viện Chiến lược và Chính sách tài chính cùng Viện Chiến lược Ngân hàng tổ chức diễn ra sáng 11/5 chỉ cung cấp một phần trong rất nhiều đáp án đang còn bỏ ngỏ cho câu hỏi trên.picture
Ông Đào Minh Tú, Chánh Văn phòng Ngân hàng Nhà nước nhận định việc một số ý kiến cho rằng hai chính sách thiếu đồng bộ “quay lưng vào nhau” là chưa phản ánh chính xác tình hình. Mặc dù vẫn còn một số điểm chưa nhịp nhàng, nhưng về cơ bản hai chính sách đã phối hợp khá chặt chẽ thời gian qua.
Ông Tú cho rằng Việt Nam có cơ sở rất thuận lợi để đồng bộ hóa hai chính sách khi Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính đều là cơ quan trực thuộc Chính phủ, do Chính phủ điều hành.
Cụ thể, chính sách tài khóa và tiền tệ thời gian qua đã cùng song hành trong mục tiêu ngăn chặn đà suy thoái theo chỉ đạo chung. Tuy nhiên, vị đại diện cơ quan điều hành chính sách tiền tệ thừa nhận rằng liều lượng và mức độ sử dụng vẫn chưa đủ để tạo ra sức mạnh kết hợp tổng thể. Điều này thể hiện rõ qua quá trình thực thi.
Đơn cử như, trong khi lãi suất giảm để hỗ trợ doanh nghiệp thì cùng lúc giá xăng, điện lại tăng; hay khi tín dụng được nới rộng thì những chính sách tài khóa lại chưa theo kịp để phát triển đầu tư… Những tác động nhiều chiều như vậy khiến doanh nghiệp rất khó xoay trở.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Mười 2019
H B T N S B C
« Th7    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 302 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements