You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat Tai chinh doanh nghiep’ category.

TS. NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

KHOA LUẬT, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Sở hữu chéo cổ phần ở Nhật Bản vẫn được duy trì làm cơ sở gắn kết thực hiện mục đích liên kết kinh doanh của các công ty cổ phần (CTCP). Pháp luật không cấm sở hữu chéo cổ phần nhưng đặt ra các quy định để hạn chế những bất cập.

Sở hữu chéo, nguyên nhân và bất cập

Sở hữu chéo cổ phần tồn tại dưới hình thái: (i) công ty A sở hữu cổ phần của công ty B và ngược lại; hoặc (ii) công ty A sở hữu cổ phần của công ty B, công ty B sở hữu cổ phần của công ty C và công ty C sở hữu cổ phần của công ty A (sở hữu chéo gián tiếp).

Ngay từ năm 1981, Luật Thương mại Nhật Bản đã quy định cấm công ty con sở hữu cổ phần của công ty mẹ, trừ một số trường hợp đặc biệt. Sau đó, luật công ty cũng cấm thực hiện quyền biểu quyết của cổ đông là công ty sở hữu chéo ngược chiều trong trường hợp sở hữu chéo có dấu hiệu chi phối thực chất.

Sở hữu chéo bùng nổ ở Nhật Bản từ những năm 1960 trong thời kỳ phục hồi kinh tế sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Trong bối cảnh thị trường chứng khoán suy giảm, sở hữu chéo giúp cho các CTCP có khả năng vay vốn dễ dàng từ ngân hàng và giúp ngân hàng tăng trưởng lợi nhuận từ cho vay. Sở hữu chéo là công cụ để hạn chế mua thâu tóm CTCP của nước ngoài trong bối cảnh Nhật Bản buộc phải thực kiện cam kết tự do hóa thương mại khi trở thành thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển (OECD).

Trên thực tế, sở hữu chéo tạo ra liên kết giữa các công ty trong các tập đoàn sản xuất như Tập đoàn Toyota. Ngoài ra, phải kể đến sự liên kết duy trì sở hữu chéo giữa ngân hàng trung tâm và các công ty sản xuất công nghiệp, công ty thương mại trong 6 Tập đoàn quy mô lớn nhất Nhật Bản là Mitsubishi, Sumitomo, Mitsui, Sanwa, Fuyo và Ichikan. Kết quả sở hữu chéo là làm giảm số cổ phần lưu thông và tác động vào giá cổ phần, duy trì chúng ở mức cao.

Bên cạnh những lợi thế kể trên, sở hữu chéo cổ phần còn bộc lộ một số mặt hạn chế như có thể làm phát sinh hiện tượng làm hình thức hóa vai trò của đại hội đồng cổ đông trong quyết định phương hướng kinh doanh. Về mặt kế toán, do sở hữu chéo cổ phần của các công ty có hiệu quả kinh doanh thấp, cổ phiếu nắm giữ xuống giá là tác nhân buộc nhiều công ty phải sử dụng lợi nhuận để bù lỗ phát sinh do nắm giữ cổ phần chéo; hay để xảy ra tình trạng không hạch toán kế toán đầy đủ và chính xác các chi phí để duy trì sở hữu chéo.

Giải pháp hạn chế sở hữu chéo

Đọc tiếp »

Advertisements

PGS.TS NGUYỄN QUANG HÙNG

Ở nghĩa rộng có thể hiểu, bất kỳ một dạng kiểm toán nào đều là việc kiểm soát một phạm trù nào đó của quản lý. Kiểm toán cơ cấu tổ chức là việc kiểm tra cơ cấu tổ chức (các mối quan hệ của cơ cấu tổ chức và quá trình kinh doanh) tìm ra sự phù hợp giữa cơ cấu tổ chức với quy mô và tính chất hoạt động của doanh nghiệp. Ở bài viết này tác giả muốn đề cập đến các vấn đề liên quqn đến kiểm toán cơ cấu tổ chức: Sự cần thiết, mục đích và các giai đoạn của kiểm toán cơ cấu tổ chức.

1. Kiểm toán cơ cấu tổ chức và các mục tiêu cơ bản của kiểm toán cơ cấu tổ chức

Chúng ta đã quen thuộc với khái niệm kiểm toán các hoạt động kinh tế-tài chính trong đơn vị. Tuy nhiên, ở nghĩa rộng có thể hiểu, bất kỳ một dạng kiểm toán nào- là việc kiểm soát một phạm trù nào đó của quản lý.

Kiểm toán cơ cấu tổ chức là việc kiểm tra cơ cấu tổ chức (các mối quan hệ của cơ cấu tổ chức và quá trình kinh doanh) tìm ra sự phù hợp giữa cơ cấu tổ chức với quy mô và tính chất hoạt động của doanh nghiệp. Kiểm toán cần xác định mục đích, nhiệm vụ, chức năng, giá trị và khả năng để phát triển cơ cấu đó. Kiểm toán cơ cấu được thực hiện với mục đích phát hiện những rủi ro tổ chức, rủi ro tài chính khi thiết lập cơ cấu, thậm chí cả sự thiệt hại tài chính của doanh nghiệp mà rủi ro có thể đem lại. Nếu như cơ cấu tổ chức là một phần của hệ thống thì kiểm toán cần xác định hiệu quả của cơ cấu đã thiết lập.

Kiểm toán cơ cấu tổ chức quản lý bao gồm việc xác định cơ cấu tổ chức, mô tả sự phân bổ quyền hạn và trách nhiệm giữa các nhân viên và các bộ phân, việc ban hành chính sách của doanh nghiệp, quy định về các bộ phận, hướng dẫn thực hiện chức trách, nguyên tắc kế hoạch hóa, kế toán, phân tích và ra quyết định về tất cả các phạm trù quản lý (marketing, logictic, sản xuất…), phân tích các phương án khác nhau để xây dựng hệ thống quản lý sẽ cho phép lãnh đạo doanh nghiệp hoặc các bộ phận riêng biệt chấn chỉnh hoạt động và giảm chi phí để thực hiện quản lý doanh nghiệp có hiệu quả nhất.

2. Khi nào cần tiến hành kiểm toán cơ cấu tổ chức

Đọc tiếp »

Ngày 8.8, nguồn tin Thanh Niên cho biết, Cơ quan CSĐT, Bộ Công an đã ban hành kết luận điều tra vụ án Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm phạm tội kinh doanh trái phép, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trốn thuế và cố ý làm trái xảy ra tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) và một số công ty trên địa bàn TP.Hà Nội, TP.HCM. 

Cơ quan cảnh sát đã chuyển hồ sơ vụ án đến Viện KSND tối cao và đề nghị truy tố 8 bị can gồm Nguyễn Đức Kiên và một số cựu lãnh đạo Ngân hàng (NH) ACB về 4 tội danh trên.

Bất chấp pháp luật

Trong vụ án này, Nguyễn Đức Kiên (49 tuổi, còn được gọi là bầu Kiên hay Kiên đầu bạc), nguyên Phó chủ tịch Hội đồng sáng lập ACB được coi là người chủ mưu cầm đầu, chỉ đạo mọi hoạt động phạm tội, có sự trợ giúp đắc lực của 7 bị can đồng phạm.

Theo kết luận điều tra, từ năm 1993, Nguyễn Đức Kiên là cổ đông góp vốn lớn của ACB, từ năm 1994 – 2008 là Phó chủ tịch HĐQT NH này. Năm 2008, do biết pháp luật quy định ở vị trí Phó chủ tịch HĐQT sẽ bị hạn chế nhiều hoạt động kinh doanh riêng cho cá nhân cũng như vay vốn NH nên Kiên quyết định rút tên khỏi HĐQT ACB. Tuy nhiên, để tiếp tục duy trì sự ảnh hưởng, có quyền chỉ đạo điều hành hoạt động kinh doanh tại ACB, Kiên đã đề nghị HĐQT NH này ra nghị quyết thành lập và phê chuẩn quy chế làm việc Hội đồng sáng lập ACB do Kiên làm Phó chủ tịch. Trên thực tế, Hội đồng sáng lập không được pháp luật thừa nhận và không áp dụng trong hệ thống NH nhưng tại ACB, tổ chức này lại được tham gia dự họp và cho ý kiến về mọi hoạt động kinh doanh của NH. Đây cũng là một chiêu mà qua đó bầu Kiên có thể "vừa đá bóng, vừa thổi còi".

Đọc tiếp »

KHƯƠNG TIẾN HÙNG

Phó Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành VI

1. Những đặc điểm chủ yếu của các Dự án đầu tư xây dựng tại các doanh nghiệp nhà nước, Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước
Hiện nay chúng ta có 1.039 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã nhận được 40% tổng vốn kinh doanh, 30 % tổng vốn tín dụng, 45% tổng giá trị tài sản của khu vực doanh nghiệp (sử dụng vốn NSNN khoảng 700.000 tỷ đồng, vay nợ tín dụng khoảng 415.000 tỷ đồng) nhưng chỉ đóng góp 30% GDP.
Nằm trong khu vực kinh tế Nhà nước, trong những năm qua các Tập đoàn, Tổng công ty (TCT), DNNN đã tích cực huy động nguồn vốn lớn để đầu tư xây dựng. Hiệu quả đầu tư góp phần quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế, thay đổi diện mạo đất nước và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên có một thực tế là Công tác quy hoạch, kế hoạch và việc huy động sử dụng các nguồn lực tại các DNNN còn hạn chế, kém hiệu quả, đầu tư còn dàn trải. Cá biệt còn có các đơn vị sử dụng lãng phí, thất thoát một lượng lớn tiền và tài sản của Nhà nước như Vinashin, Vinaline. Có tình trạng trên là do các dự án đầu tư xây dựng (ĐTXD) tại các DNNN có nhiều đặc điểm riêng biệt, như:
– Quyền tự quyết định của DNNN trong việc quyết định đầu tư các dự án rất cao, trong khi còn thiếu các chế tài giám sát hiệu quả. Theo phân cấp, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch hội đồng thành viên tại Tập đoàn, Tổng công ty đã được quyết định đầu tư đến các dự án nhóm A. Như vậy việc đầu tư do lãnh đạo DNNN tự quyết định mà không phải chịu sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước (theo Nghị định 132 thì chỉ báo cáo người đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp, chứ không bắt buộc phải báo cáo lên các bộ, ngành).
– Đặc điểm về vốn đầu tư cho các dự án. Nguồn vốn huy động cho dự án từ nhiều nguồn khác nhau như NSNN cấp, nguồn tín dụng bảo lãnh của Nhà nước, vốn trái phiếu, vốn vay ngân hàng thương mại và vốn tự có của DNNN,…Thông thường các dự án của các DNNN sử dụng vốn vay thương mại là chủ yếu, tại nhiều dự án có nguồn vốn vay chiếm quá 70% vốn đầu tư cho dự án. Theo qui định hiện hành, các dự án có vốn Nhà nước <30%, mặc dù về số tuyệt đối là rất lớn, nhưng không bắt buộc phải tuân thủ các qui định liên quan của Nhà nước (mà chỉ khuyến khích áp dụng) như quy định về quản lý chi phí, quy định về đấu thầu…
– Các dự án ĐTXD của DNNN khi hoàn thành phần lớn được bàn giao cho chính DNNN đó sử dụng, do đó bên cạnh mặt tích cực đó là các dự án ĐTXD phù hợp với nhu cầu sử dụng, thuận lợi trong việc bàn giao đưa vào sử dụng,… nhưng còn có mặt hạn chế là dễ dãi trong việc nghiệm thu, bàn giao, bỏ qua nhiều lỗi kỹ thuật, hạch toán không rõ ràng giữa chi phí đầu tư với chi phí SXKD (đặc biệt là chi phí chạy thử), thời gian chạy thử, thời gian lập Biên bản nghiệm thu chậm…
– Các dự án ĐTXD của DNNN chủ yếu là nhằm mục đích kinh doanh, do đó khả năng thu hồi vốn phụ thuộc rất lớn vào tình hình SXKD của doanh nghiệp, tình hình phát triển kinh tế của đất nước
2. Đánh giá chung về công tác kiểm toán ĐTXD tại các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước

Đọc tiếp »

Nhóm PV Bạch Hoàn – Cẩm Văn Kình – Như Bình

Ôm lượng vốn khổng lồ hàng chục ngàn tỉ đồng từ nguồn thu cổ tức, bán vốn của các doanh nghiệp do Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) giữ quyền đại diện vốn nhà nước, thế nhưng điều bất ngờ là SCIC sử dụng phần lớn nguồn vốn trên chỉ để gửi ngân hàng lấy lãi.

Doanh thu của SCIC hiện nay chỉ từ ba nguồn: bán vốn nhà nước, gửi tiết kiệm ngân hàng và thu cổ tức từ doanh nghiệp SCIC giữ quyền đại diện vốn nhà nước.
Cổ tức khủng nhờ…“bò sữa”

Trong dịp khai trương một công ty con mới đây, ông Lại Văn Đạo, tổng giám đốc SCIC, khẳng định nội dung trọng tâm trong kế hoạch năm 2013 của SCIC là tập trung tăng cường hoạt động đầu tư trên nguyên tắc hiệu quả vào các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, các dự án cơ sở hạ tầng, bất động sản…
Với nguồn vốn to lớn đang nắm giữ, ngày 18-1-2013, SCIC đã khai trương một Công ty con là Công ty đầu tư SCIC (SIC) với hình thức là công ty TNHH một thành viên do SCIC là chủ sở hữu, hợp nhất báo cáo tài chính với SCIC, được SCIC cấp vốn điều lệ để hoạt động, được phân cấp trong quá trình đầu tư với vốn điều lệ ban đầu là 1.000 tỉ đồng. Theo thông báo của SCIC, SIC sẽ có hai chức năng chính là đầu tư tài chính (thực hiện đầu tư mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, mua bán sáp nhập) và đầu tư dự án.
Theo báo cáo của SCIC, tính đến hết năm 2012, tổng vốn trong danh mục đầu tư của SCIC theo sổ kế toán khoảng 14.000 tỉ đồng, giá thị trường ước đạt 50.000 tỉ đồng, chênh lệch 36.000 tỉ đồng. Tuy nhiên, thực tế danh mục đầu tư của SCIC đang phụ thuộc phần lớn vào một vài doanh nghiệp lớn. Chỉ riêng Công ty cổ phần Sữa VN (Vinamilk – VNM), SCIC hiện đang đại diện Nhà nước nắm giữ tới 375 triệu cổ phiếu. Tính theo giá cổ phiếu VNM ngày 6-3-2013 là 105.000 đồng/cổ phiếu, tổng giá trị cổ phiếu VNM mà SCIC nắm giữ đã trên 39.300 tỉ đồng. Như vậy, hiệu quả trong tăng trưởng vốn đầu tư tại 408 doanh nghiệp mà SCIC còn đang giữ vốn nhà nước thực tế chỉ phụ thuộc vào một số doanh nghiệp lớn, trong đó lệ thuộc rất lớn vào “con bò sữa” Vinamilk.

Đọc tiếp »

TS.HÀ THỊ NGỌC HÀ

Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Bộ Tài chính

Trung Quốc là quốc gia đang phát triển và có nhiều điểm tương đồng về kinh tế-chính trị với Việt Nam. Việc xây dựng chuẩn mực kiểm toán (CMKiT) của Trung Quốc cũng nhằm mục đích phù hợp với thông lệ của quốc tế tương tự như Việt Nam. Đến nay, Trung Quốc đã ban hành các CM về kiểm soát chất lượng (KSCL) và tổ chức KSCL kiểm toán rất chặt chẽ. Kinh nghiệm của Trung Quốc là bài học tốt đối với Việt Nam.

Mô hình kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập của Trung quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Mô hình kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập của Trung quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

(1) Quá trình hình thành, phát triển hoạt động kiểm toán độc lập Trung Quốc và khuôn khổ pháp luật về KSCL hoạt động kiểm toán độc lập

Sau cách mạng thành công, với sự ra đời của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và hệ thống kế toán thống nhất từ những năm 50, hoạt động nghề nghiệp kế toán, kiểm toán gần như bị biến mất. Đến năm 1970 khi cải tổ nền kinh tế, nhu cầu về hoạt động kế toán, kiểm toán lại xuất hiện. Vào giữa những năm 1980, Nhà nước chủ trương tăng vốn vào DNNN thông qua việc phát hành cổ phiếu cho các nhà đầu tư cá nhân trong nước. Chủ trương này đã tạo ra nhu cầu thông tin tài chính cần được kiểm toán độc lập, trên cơ sở đó, các DNKT độc lập đã ra đời. Để đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động nghề nghiệp kế toán, kiểm toán, Bộ tài chính đã thành lập Hội Kế toán viên công chứng Trung Quốc (CICPA) vào năm 1989. Đến năm 1990 và năm 1991, thị trường chứng khoán (TTCK) Thượng Hải và Thẩm Quyến được thành lập nên các nhà đầu tư yêu cầu tăng cường hơn nữa chất lượng kiểm toán độc lập các thông tin tài chính liên quan đến các công ty niêm yết. Năm 1992, luồng đầu tư trực tiếp của nước ngoài ồ ạt đổ vào Trung Quốc, trong đó có các DNKT. Các DNKT nước ngoài chỉ được phép thành lập DNKT liên doanh với các DNKT trong nước để thực hiện dịch vụ kiểm toán.

Đọc tiếp »

2 giáo sư Ilia Dichev và Shiva Rajgopal đã tiến hành khảo sát 169 CFO tại các công ty niêm yết trên thị trường Mỹ và tiết lộ rằng ít nhất 20% công ty có phù phép lợi nhuận trong báo cáo tài chính hàng quý.

Tại sao các công ty lại phù phép lợi nhuận BCTC?

Và mức tiêu biểu họ thường bóp méo là khoản 10% so với EPS của báo cáo. Chưa có cuộc khảo sát ở Việt Nam, nhưng con số 10% thì quá ít so với các công ty ở VN, có lẽ các CFO Hoa Kỳ cần qua VN 1 thời gian học các tuyệt chiêu lãi giả lỗ thật của các cao thủ như VSP, DVD, hoặc dấu lãi như vụ Petrolimex, QCG hay cách dấu lãi chuyển lỗ khá kín đáo và hợp pháp của DPM.

Tại sao các công ty lại phù phép lợi nhuận BCTC?

Trở lại với cuộc khảo sát, lí do quan trọng nhất khiến các công ty bùa chú lợi nhuận là vì muốn thao túng giá cổ phiếu, được 93.48% bầu chọn. Lí do tiếp theo là bị các áp lực từ bên ngoài khiến cho công ty buộc phải bóp méo lợi nhuận. Áp lực từ bên ngoài có thể là từ ngân hàng đòi hỏi phải duy trì 1 mức lợi nhuận nào đó mới cho vay vốn kinh doanh, từ nhà cung cấp, hoặc vì lí do IPO phải làm báo cáo đẹp lên đôi chút. Áp lực từ bên trong công ty, cũng như những khoản tiền thưởng béo bở cho giám đốc nếu công ty có lợi nhuận tốt cũng là 1 động lực của việc phù phép lợi nhuận. Dưới đây là bảng tổng hợp chi tiết các lí do còn lại.

Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA

Trường Đại học Kinh tế quốc dân

Tập đoàn kinh tế là mô hình doanh nghiệp mới được hình thành ở Việt Nam trong quá trình hội nhập. Các tập đoàn kinh tế nắm giữ lượng vốn lớn, hoạt động trong các ngành kinh tế mũi nhọn, với mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Việc thực hiện được các mục tiêu có ý nghĩa quan trọng không chỉ với bản thân các tập đoàn mà còn với cả nền kinh tế. Kiểm soát nội bộ được xem là một cách thức để nhà quản lý hiện thực hóa mục tiêu đã xác định. Mô hình tập đoàn nói chung và kiểm soát nội bộ trong tập đoàn nói riêng là những điều còn rất mới mẻ ở Việt Nam. Bài viết phân tích những đặc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các tập đoàn kinh tế.

I. Mở đầu
Kiểm soát được hiểu là việc nhà quản lý xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định. Kiểm soát là một trong các chức năng của quản lý, có tác dụng giúp nhà quản lý điều chỉnh các hoạt động thực tế theo kế hoạch dự kiến, từ đó hiện thực hoá được các mục tiêu đã xác định. Các tập đoàn kinh tế có qui mô lớn, phạm vi hoạt động phân tán, tính chất hoạt động của các đơn vị thành viên có thể rất đa dạng, phức tạp do đó sai phạm trong hoạt động thực tế tại các đơn vị thành viên có thể dễ nảy sinh, chậm hoặc khó bị phát hiện và điều chỉnh kịp thời dẫn đến rủi ro cao trong việc không đạt được mục tiêu, chiến lược và kế hoạch đã đặt ra của tập đoàn nói chung. Vai trò của kiểm soát do đó rất thiết thực và hữu hiệu đối với nhà quản lý tập đoàn.
Điều 38, Nghị định 102/2010/NĐ-CP xác định tập đoàn kinh tế bao gồm nhóm công ty có quy mô lớn có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ – công ty con. Trong tập đoàn theo mô hình công ty mẹ – công ty con thì công ty mẹ kiểm soát công ty con theo vốn góp của công ty mẹ lớn hơn 50% tại công ty con, hoặc theo uỷ quyền của các cổ đông khác về kiểm soát khi việc góp vốn dưới 50%. Việc nhà quản lý tự tiến hành các hoạt động kiểm soát để hiện thực hoá mục tiêu đã xác định cũng như để bảo đảm sự tuân thủ các qui định pháp lý có liên quan được hiểu là kiểm soát nội bộ. Kiểm soát nội bộ phân biệt với kiểm soát bên ngoài (là hình thức kiểm soát mà chủ thể kiểm soát ở bên ngoài đơn vị bị kiểm soát).
II. Đặc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các tập đoàn kinh tế

Đọc tiếp »

TS.NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội

Công ty cổ phần (CTCP) nói riêng và doanh nghiệp nói chung không thể tồn tại và hoạt động lâu dài, hiệu quả nếu thiếu sự hợp tác của chủ sở hữu (CSH), chủ nợ và người quản lý, điều hành. Để điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa các chủ thể trong quá trình quản lý, sử dụng vốn và tài sản của CTCP, không chỉ giải quyết hậu quả phát sinh mà phải ngăn ngừa nguy cơ xảy ra vi phạm hoặc hạn chế tối đa thiệt hại có khả năng xảy ra. Bài viết phân tích những bất cập của các chế định pháp luật về bảo đảm an toàn tài chính CTCP, lợi ích của cổ đông và chủ nợ; kiến nghị sửa đổi một số nội dung Luật Doanh nghiệp (Luật DN).

1. Bất cập của các chế định pháp luật về bảo đảm an toàn tài chính công ty cổ phần, lợi ích của cổ đông và chủ nợ

1.1. Bảo đảm quyền được biết thông tin về hợp đồng vay và mua, bán tài sản

Quan hệ hợp đồng vay tạo cho chủ nợ có quyền lợi ưu tiên hơn so với cổ đông. Về nguyên tắc, khi công ty không trả được nợ, chủ nợ sẽ xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Trong trường hợp thỏa thuận vay không có tài sản bảo đảm thì chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu Toà án tuyên bố phá sản công ty để thu hồi nợ.

Sự thỏa thuận thu hồi nợ trong hợp đồng và sử dụng quyền lực của Tòa án để thu hồi nợ đặt các công ty vào tình trạng bất ổn khi không thanh toán được các khoản nợ đến hạn. Trong hàng loạt các giao dịch của mình, không phải giao dịch nào cũng mang lại lợi nhuận cho công ty, rủi ro trong thực hiện dự án có thể dẫn tới đổ bể công ty nếu không kịp thời giải quyết vấn đề nợ.

Không phải tất cả cổ đông đều có cơ hội như nhau trong nắm bắt các thông tin về đầu tư, vay nợ và mua bán tài sản. Trên thực tế, các cổ đông lớn là cá nhân và người đại diện ủy quyền của cổ đông pháp nhân thường tham gia vào bộ máy quản lý, điều hành công ty. Theo Luật DN, cổ đông có thể tiếp cận thông tin tài chính thông qua báo cáo tình hình kinh doanh của công ty hàng năm, hoặc kết quả trả lời của Ban kiểm soát (BKS) về kiểm tra, xem xét các vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành công ty. Đối với việc quyết định kinh doanh, Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) chỉ quyết định khi đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu điều lệ công ty không quy định một tỉ lệ khác (điểm d khoản 2 Điều 96); còn hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất thuộc thẩm quyền thông qua của Hội đồng quản trị (HĐQT – điểm g khoản 2 Điều 108). Ngoài ra, HĐQT còn có thẩm quyền chấp thuận các hợp đồng và giao dịch có giá trị nhỏ hơn 50% tổng giá trị tài sản (khoản 2 Điều 120). Hơn thế nữa, nhằm hạn chế giao dịch tư lợi, khoản 1 Điều 120 quy định các giao dịch phải được ĐHĐCĐ hoặc HĐQT chấp thuận: (i) Cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ đông sở hữu trên 35% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những người liên quan đến họ; (ii) Thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; (iii) Doanh nghiệp có liên quan đến việc sở hữu của thành viên HĐQT, thành viên BKS, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty; doanh nghiệp mà những người liên quan của họ cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng cổ phần hoặc phần vốn góp trên 35% vốn điều lệ. Theo quy định này, thẩm quyền quyết định để kiểm soát xung đột lợi ích chưa chắc đã thuộc về ĐHĐCĐ khi điều lệ công ty ghi nhận thẩm quyền này thuộc HĐQT. Như vậy, quyền quyết định kinh doanh trong CTCP chủ yếu tập trung cho HĐQT.

Đọc tiếp »

TS HỒ XUÂN THẮNG

Khoa Luật – Đại học Sài Gòn

Luật Đấu thầu ban hành năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu đã thể hiện rõ mục tiêu tăng cường tính công khai, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh trong quá trình lựa chọn nhà thầu và tăng cường hiệu quả kinh tế trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới. Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng pháp luật đấu thầu trong cả nước vẫn gặp rất nhiều khó khăn và không hiệu quả. Bài viết chỉ ra một số bất cập và kiến nghị hướng sửa đổi những bất cập đó trong pháp luật đấu thầu hiện hành.

1. Phạm vi áp dụng chưa rõ ràng, chưa tạo được môi trường pháp lý thống nhất

Khoản 1 Điều 1 Luật Đấu thầu[1] quy định: “Luật này quy định về các hoạt động đấu thầu để lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp đối với gói thầu thuộc các dự án sau đây: 1. Dự án sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên cho mục tiêu đầu tư phát triển, bao gồm:

a) Dự án đầu tư xây dựng mới, nâng cấp mở rộng các dự án đã đầu tư xây dựng;

b) Dự án đầu tư để mua sắm tài sản kể cả thiết bị, máy móc không cần lắp đặt;

c) Dự án quy hoạch phát triển vùng, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch xây dựng đô thị, nông thôn;

d) Dự án nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật;

đ) Các dự án khác cho mục tiêu đầu tư phát triển”.

Nhưng vấn đề đặt ra là, Luật chưa định nghĩa rõ ràng, chưa xác định thế nào là “dự án đầu tư phát triển”. Bên cạnh đó, điểm đ khoản 1 lại sử dụng cụm từ “Các dự án khác cho mục tiêu đầu tư phát triển”. Đây là một cụm từ rộng và không thể xác định được cụ thể phạm vi áp dụng, nó mâu thuẫn trong chính nội tại của văn bản pháp luật, dẫn đến việc thực thi lúng túng, thiếu thống nhất trong thực tiễn. Thực chất về “vốn nhà nước” cũng không được pháp luật định nghĩa rõ ràng, thậm chí cho phép hiểu là nó quá rộng, bao gồm một số nguồn vốn cụ thể và “các vốn khác do Nhà nước quản lý”[2]. Trong các văn bản hướng dẫn thi hành cũng không ghi rõ thế nào là “các vốn khác do Nhà nước quản lý” và do vậy, rất khó để xác định một số nguồn vốn cụ thể có được coi là vốn do Nhà nước quản lý hay không. Ví dụ, một dự án được cấp vốn vay bởi các ngân hàng quốc doanh thì có bị coi là sử dụng vốn nhà nước hay không?

Đọc tiếp »

“Con bò sữa” là cụm từ chính xác nhất để nói về khoản đầu tư của SCIC tại Vinamilk hiện nay. Tương lai của SCIC sẽ ra sao nếu vào một ngày đẹp trời đơn vị này không còn được quản lý hơn 375 triệu cổ phiếu của Vinamilk?
Cái tên Mai Kiều Liên, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) vừa được Tạp chí Quản trị Doanh nghiệp châu Á vinh danh với giải thưởng “Các CEO xuất sắc của châu Á” trong lĩnh vực phát triển quan hệ với nhà đầu tư.
Giải thưởng này gắn liền với thành tích tổng doanh thu năm 2012 đạt 1,3 tỉ USD (hơn 27.000 tỉ đồng), lợi nhuận sau thuế gần 5.800 tỉ đồng, tăng 40% so với 2011 của Vinamilk. Các cổ đông lớn của công ty sữa này lại có thêm một năm bội thu. Trong đó, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), cổ đông lớn nhất của Vinamilk, chắc chắn sẽ vui nhất.
Lãi to với Vinamilk
Nếu lấy giá cổ phiếu của Vinamilk là 98.000 đồng chốt tại phiên giao dịch cuối ngày 24.1.2013 thì con số hơn 375 triệu cổ phiếu VNM mà SCIC đang sở hữu tương đương 36.750 tỉ đồng. Con số này tương đương gần 75% tổng giá trị danh mục đầu tư của đơn vị này, gồm khoảng 416 doanh nghiệp mà SCIC đang đại diện phần vốn Nhà nước.
Theo báo cáo kết quả kinh doanh năm 2012 của Vinamilk, doanh thu bán hàng và lợi nhuận sau thuế năm 2012 của họ đều tăng, lần lượt là 23% và 39%. Với kết quả kinh doanh tích cực trong năm 2012, thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) của VNM đạt mức khá cao, 6.940 đồng/cổ phiếu.

Đọc tiếp »

Bùi Văn Dũng – Phó Trưởng Ban

Ban Nghiên cứu Cải cách và Phát triển DN – CIEM

I. Mục tiêu, nội dung, phương thức tiếp cận cải cách DNNN

Đổi mới doanh nghiệp nhà nước là một trong những trọng tâm và là lĩnh vực cải cách nhạy cảm, khó khăn nhất của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường. Đó là vì đây không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề mang tính tư tưởng, chính trị, xã hội và tâm lý. Kinh nghiệm ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi cho thấy:

– Cải cách doanh nghiệp nhà nước thường có hai nội dung chủ yếu là: (1) giảm quy mô khu vực doanh nghiệp nhà nước; và (2) cải cách thể chế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước còn lại.

– Có hai cách tiếp cận cải cách như sau: cách thứ nhất là tư nhân hoá nhanh chóng hầu hết các doanh nghiệp nhà nước, chỉ giữ lại một số doanh nghiệp hoạt động công ích ở một số nước Đông Âu (liệu pháp cải cách “sốc”); và cách thứ hai là vừa tiến hành từng bước cổ phần hoá, đa dạng hoá sở hữu, vừa chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo chế độ công ty hiện đại với kinh nghiệm điển hình của Trung Quốc và Việt Nam (liệu pháp cải cách “thận trọng” hay “dò đá qua sông”).

– Dù thực hiện theo liệu pháp “sốc” hay liệu pháp “thận trọng” thì cải cách doanh nghiệp nhà nước không phải là mục tiêu mà chỉ là phương tiện nhằm hỗ trợ việc nâng cao hiệu quả hoạt động và phát triển khu vực doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh, hoạt động theo thị trường để đạt mục tiêu tăng trưởng ổn định, bền vững và nâng cao hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế.

Quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở nước ta trong thời qua đã thu được những kết quả to lớn nhưng cũng có nhiều vấn đề, thách thức đặt ra đòi hỏi phải có những giải pháp phù hợp.

II. Thực trạng đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước

Đọc tiếp »

ThS.QUÁCH ĐỨC DŨNG

Quá trình hoạt động của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam cho thấy, nhiều công ty đã có hành vi trốn thuế và tránh thuế thông qua hình thức chuyển giá. Vì vậy, việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện các giải pháp chống gian lận thuế qua chuyển giá quốc tế cần được đặc biệt lưu tâm.

Vài nét về hoạt động chuyển giá

Xác định giá chuyển nhượng là một thuật ngữ quốc tế chung phản ánh về cách tính giá trong các giao dịch kinh tế nội bộ giữa các bên trong cùng một tập đoàn, một công ty đa quốc gia… Do tính chất là giao dịch nội bộ nên việc tính giá của bên bán và bên mua, mặc dù được phản ánh đầy đủ và rõ ràng trên chứng từ, hóa đơn, hợp đồng ký kết theo các quy định pháp luật nhưng cơ sở tính giá thường không phản ánh đúng thực tế như giao dịch giữa các bên độc lập theo nguyên tắc thị trường cạnh tranh. Chính vì vậy, mức giá tính cho các giao dịch nội bộ thường làm sao có lợi nhất cho tập đoàn, tổng công ty, làm sao giúp giảm tối thiểu chi phí phải bỏ ra để tối đa hóa lợi nhuận, trong đó thuế là một yếu tố chi phí rất quan trọng. Do đó, các công ty thường có xu hướng dồn thu nhập về nơi có thuế thấp, chuyển chi phí về nơi có thuế cao, thông qua công cụ hữu hiệu và hợp pháp là chuyển giá.

Như vậy, chuyển giá thường gắn với các hoạt động của các công ty đa quốc gia, đó là một nhóm các công ty có cơ sở thường trú ở hai hay nhiều quốc gia hoặc là một công ty đa quốc gia có nhiều chi nhánh hoạt động ở nhiều nước khác nhau hoặc thành lập nhiều chi nhánh trong cùng một quốc gia nhưng hoạt động ở nhiều địa phương với các mức ưu đãi thuế khác nhau. Ví dụ: Một doanh nghiệp (DN) nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, đầu tiên thành lập một công ty A lắp ráp đồ điện tử tại Hà Nội. Sau khoảng 05 năm, DN này đầu tư tiếp một công ty B sản xuất linh kiện điện tử tại Hải Phòng. Linh kiện của công ty B được “bán” cho công ty A để lắp ráp. Lúc này, công ty A đã hết thời kỳ được ưu đãi thuế nên phải nộp thuế theo thuế suất phổ thông, còn công ty đang B vẫn trong thời hạn được miễn giảm thuế. Để tránh thuế, công ty B đã tính giá linh kiện điện tử bán cho công ty A cao hơn giá thị trường, làm tăng chi phí đầu vào của công ty A và như vậy công ty A có thể bị lỗ, không phải nộp thuế, trong khi công ty B sẽ lãi lớn nhưng đang trong thời hạn miễn thuế và tất nhiên, công ty B cũng không phải nộp thuế. Như vậy, công ty mẹ đầu tư nước ngoài sẽ thu lợi nhuận lớn ngay tại thị trường Việt Nam.

Đọc tiếp »

TS. Hoàng Thị Thu, Nguyễn Hải Hạnh

Trường Đại học kinh tế và Quản trị Kinh doanh (Đại học Thái Nguyên)

Vốn lưu động của các doanh nghiệp

Về hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Vốn lưu động là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả và tiềm lực của một doanh nghiệp (DN). Do vậy, nó được coi là một trọng điểm của công tác quản lý của mỗi DN. Kết quả phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động của 19 DN khu công nghiệp (KCN) Sông Công cho thấy: Số lần luân chuyển vốn của các DN có xu hướng giảm dần, năm 2009 có mức luân chuyển vốn cao nhất đạt 5,89 lần, năm 2011 đạt 4,25 lần. Kỳ luân chuyển vốn (phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay vốn lưu động) cho thấy số ngày luân chuyển vốn tăng dần qua

Nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp

các năm. Năm 2009, kỳ luân chuyển vốn đạt 61,1 ngày nhưng đến năm 2011 kỳ luân chuyển vốn đạt 85,66 ngày (tăng 38,57%). Kỳ luân chuyển vốn tăng cho thấy hiệu quả trong sử dụng vốn lưu động có xu hướng giảm.

Về nhu cầu sử dụng vốn lưu động

Việc xác định nhu cầu vốn lưu động trong kỳ sản xuất theo phương pháp trực tiếp gặp nhiều khó khăn, phức tạp, do đó, chúng tôi sử dụng phương pháp gián tiếp để xác định nhu cầu vốn lưu động trong kỳ sản xuất của các DN căn cứ theo tổng mức luân chuyển vốn lưu động, số dư bình quân vốn lưu động và tỷ lệ tăng giảm số ngày luân chuyển vốn lưu động qua các năm.

Theo kết quả tính toán theo phương pháp gián tiếp, số vốn lưu động cần cho 1 chu kỳ sản xuất của các DN KCN Sông Công năm 2010 là 745,68 tỷ đồng và 1233,41 tỷ đồng vào năm 2011.

Đọc tiếp »

TS Alan Phan, Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa

Chúng ta có thể thường thỏa mãn mọi đòi hỏi về công lý khi ngồi im và không làm gì cả. Adam Smith (We may often fulfill all the rules of justice by sitting still and doing nothing).

Năm 1976, New York ngập chìm trong công nợ vì chánh phủ thành phố liên tục tiêu xài cho những chương trình gọi là “xã hội” và cho “phe nhóm”. Ngân sách gia tăng cùng hệ thống quan chức và sưu cao thuế nặng khiến các doanh gia bỏ chạy khỏi New York. Đối diện với thảm họa phá sản, thành phố kêu gọi chánh phủ liên bang cứu trợ khẩn cấp. Tổng thống Ford trả lời với một câu nói đi vào lịch sử, “Drop Dead” (Hãy chết đi). Hơn 90% dân Mỹ hoan nghênh quyết định sáng suốt này.

Các giải pháp cho kinh tế Việt

Chưa bao giờ tôi thấy các chuyên gia Việt Nam hăng hái và bận rộn như lúc này. Ngày nào cũng có vài ba giải pháp trên các báo cho đủ mọi vấn đề kinh tế. Và chưa bao giờ các thành phần kinh tế lại khóc than ỉ ôi như thế này. Ai cũng xin chánh phủ cứu giúp với OPM (tiền người khác) và tốt nhất là “cho luôn” thì khỏi phải hạch toán lôi thôi.

Về nợ xấu ngân hàng, nhà nước đề nghị một công ty mua bán nợ xấu 100 ngàn tỷ, nhưng vài ông viện nghiên cứu nói 30 tỷ là đủ rồi. Một chuyên gia có giấy phép thì cho rằng 200 ngàn tỷ là tối thiểu ; trong khi vài ông không có giấy phép thì đòi 600 ngàn tỷ. Suy ngẫm lại, không ai biết nợ xấu nó tròn méo thế nào, số tiền thực sự là bao nhiêu, nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ bao nhiêu, các thanh tra có kiểm soát được con số này từ những ngân hàng quốc doanh, bao nhiêu phần trăm nợ xấu là cho các công ty con hay cháu của các chủ ngân hàng vay mượn ? Còn chuyện mua nợ xấu để bán cho ai, với giá nào, thu tiền ra sao, ai được ưu tiên…thì cũng có vài chục giải pháp đề nghị.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Mười 2019
H B T N S B C
« Th7    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 302 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements