You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat Ngan sach Nha nuoc’ category.

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về thanh toán bằng tiền mặt và quản lý nhà nước về thanh toán bằng tiền mặt trong một số giao dịch thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng của Nghị định này gồm: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước), tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Kho bạc Nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến thanh toán bằng tiền mặt.

Đọc tiếp »

Tuy mức độ khác nhau song đề nghị tăng tự chủ cho địa phương trong thu chi ngân sách là điểm chung ở tham luận của nhiều thành phố lớn tại hội thảo về phân cấp ngân sách và cơ chế tài chính đặc thù của một số địa phương diễn ra trong hai ngày 18 và 19/2 tại Tp.HCM, do Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội tổ chức.

Được chắp bút bởi TS. Lê Văn Hoạt, Phó chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội, bản tham luận đến từ Thủ đô mang đến khá nhiều thông tin đáng chú ý.
Theo đó, liên tiếp hai năm 2012 – 2013, Hà Nội thu ngân sách nhà nước chỉ đạt bằng dự toán giao (năm 2013 thu 163.000 tỷ đồng, bằng 100,9% dự toán), cân đối ngân sách địa phương gặp nhiều khó khăn, chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư của Thủ đô.
Giống như nhiều địa phương khác, thu ngân sách của Hà Nội còn chưa bền vững, phụ thuộc khá nhiều vào các khoản thu từ đất với bình quân 11.000 tỷ đồng/năm, chiếm khoảng 22%-25% thu ngân sách địa phương.
Việc thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách được ông Hoạt đánh giá là chưa có bước đột phá. Điều này thể hiện rất rõ qua tổng vốn đầu tư xã hội có xu hướng tăng chậm dần khi 2013 chỉ đạt 260,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12%, thấp hơn kế hoạch là 15-16,5% và cùng kỳ năm 2012 là 13,21%.
Không là ngoại lệ, số lượng doanh nghiệp bị phá sản, giải thể hoặc tạm ngừng kinh doanh ở Thủ đô cũng tăng đột biến trong 2 năm gần đây với khoảng 22.600 doanh nghiệp, chiếm 14% doanh nghiệp đăng ký kinh doanh.
Tình hình nợ công diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng, bản tham luận nêu lo lắng của tác giả.

Đọc tiếp »

Luattaichinh: Tên bài gốc là "Một bộ máy ‘ngốn’ 77 sân vận động Mỹ Đình?" đăng trên Tuanvietnam.net, ngày 20/2/2014

——————————————

Con số giật mình

Theo số liệu của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH Phạm Thị Hải Chuyền cung cấp cho báo chí, Quỹ xóa đói giảm nghèo của VN trong giai đoạn 2011-2013 đạt mức 120 nghìn tỷ đồng/năm (khoảng 5,5 tỷ USD) [1].

xóa đói giảm nghèo, lãng phí, sân vận động Mỹ Đình, nợ công

Việt Nam hiện nay có từ khoảng 500 nghìn đến 3 triệu hộ nghèo theo nhiều nguồn khác nhau. Đa số các hộ nghèo tập trung ở khu vực nông thôn, nơi thu nhập bình quân đầu người vào khoảng 4,2 triệu đồng/người/năm.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính với đoàn giám sát thì  từ 2005 đến 2012 hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để thực hiện chính sách giảm nghèo khoảng 734.000 tỷ đồng (bình quân khoảng trên 90.000 tỷ đồng/năm) chiếm trên 12% tổng chi ngân sách nhà nước.

Con số này được Thứ trưởng Nguyễn Công Nghiệp giải thích là chưa tính đến nguồn vốn tín dụng mỗi năm 20 nghìn tỷ đồng cho vay ưu đãi và Nhà nước hỗ trợ lãi suất khoảng 7 – 8 nghìn tỷ đồng nữa.

Thử làm một phép tính nhỏ, nếu lấy 120 nghìn tỷ đồng/năm chia cho tổng số 500 nghìn hộ nghèo ở Việt Nam, sẽ ra kinh phí hàng năm để giúp một hộ thoát nghèo là 240 triệu đồng, tức 20 triệu đồng/hộ/tháng.

Nếu chia bình quân cho một hộ cơ bản bốn thành viên, thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo nhận hỗ trợ sẽ là 5 triệu đồng/người/tháng. Tức là gấp 10 lần chuẩn nghèo ở thành thị (500 nghìn đồng/người/tháng) và lớn hơn của thu nhập bình quân đầu người của nông dân.

Kết quả sẽ thay đổi nếu chúng ta chia cho 3 triệu hộ nghèo theo thông tin từ một nguồn khác. Nhưng con số 240 triệu đồng như trên có vẻ phù hợp với thông tin do Phó chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội Đỗ Mạnh Hùng cung cấp cho báo Đại đoàn kết ngày 29/9/2013 là 180 triệu đồng/hộ/năm, chia từ nguồn quỹ 90 nghìn tỷ đồng/năm trước 2011.

Tiền thực sự đã đi đâu?

Đọc tiếp »

LÂM HỒNG CƯỜNG

Kiểm soát chi ngân sách là tổng thể các hoạt động của cá nhân và tổ chức có trách nhiệm nhằm bảo đảm cho các khoản chi ngân sách thực hiện đúng quy định, đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm. Luật NSNN hiện hành quy định khi có nhu cầu chi, Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách gởi chứng từ thanh toán (đồng thời là lệnh chuẩn chi) tới KBNN cùng với hồ sơ thanh toán, KBNN kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật và thực hiện chi ngân sách khi có đủ các điều kiện quy định của Luật theo phương thức thanh toán trực tiếp. Cùng với việc triển khai hoạt động kiểm soát chi của hệ thống KBNN, công tác quản lý chi ngân sách có nhiều chuyển biến tích cực và quan trọng. Tuy nhiên để đạt tới mục tiêu minh bạch, hiệu quả, tiết kiệm chúng ta còn phải cố gắng nhiều. Từ thực tế công tác, xin góp một vài ý kiến trong tổ chức công tác kiểm soát chi.

Kiểm soát chi ở đơn vị sử dụng ngân sách

Hoạt động kiểm soát chi ngân sách trước đây là hoạt động kiểm soát các chứng từ chi tiêu trong công tác kế toán được nâng cấp, chuẩn hoá và từng bước hoàn thiện trong quá trình hình thành và phát triển của Hệ thống KBNN. Việc kiểm soát chi được thực hiện cả trước, trong và sau quá trình chi tiêu, thực hiện tại đơn vị sử dụng ngân sách và tại cơ quan kiểm soát chi. Ngoại trừ các khoản chi sử dụng hình thức cấp phát là Lệnh chi tiền do cơ quan tài chính kiểm soát , các khoản chi còn lại do KBNN kiểm soát chi.

Trong một thời gian dài và ngay cả hiện nay vẫn còn ở đâu đó, thuật ngữ “kiểm soát chi qua KBNN” bị hiểu nhầm là chỉ có KBNN thực hiện kiểm soát chi ngân sách và do đó đúng sai thất thoát thì KBNN phải chịu trách nhiệm. Rất nhiều người kể cả các cơ quan nội chính ở địa phương đã viện dẫn điều 56 của Luật NSNN hiện hành để lý giải cho lập luận này. Trong thực tế vẫn còn nhiều đơn vị sử dụng ngân sách ít kiểm soát, kiểm soát một cách hình thức thậm chí không biết kiểm soát các khoản chi ngân sách tại đơn vị mình.

Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN THÀNH ĐÔ

Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính)

Các nguồn vốn vay trong và ngoài nước là nguồn tài chính quan trọng bổ sung cho đầu tư phát triển, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do đó, đối với Việt Nam, việc quản lý nợ trong trung và dài hạn một cách hiệu quả là hết sức quan trọng.

Theo quy định của Luật Quản lý nợ công, nợ công bao gồm: nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Tính đến ngày 31/12/2012, tổng số nợ công của Việt Nam là 1.642.916 tỷ đồng, bằng 55,7% GDP năm 2012.
Cụ thể, tổng số nợ Chính phủ là 1.279.994 tỷ đồng, bằng 43,3% GDP; trong đó nợ nước ngoài 726.314 tỷ đồng (chiếm khoảng 57%), nợ trong nước 553.680 tỷ đồng (chiếm khoảng 43%). Đối với vay về cho vay lại, tính đến ngày 31/12/2012, tổng dư nợ các khoản cho vay lại là 10,84 tỷ USD, tương đương 225,85 nghìn tỷ đồng (quy đổi theo tỷ giá hạch toán ngân sách tháng 12/2012). Nợ được Chính phủ bảo lãnh tính đến ngày 31/12/2012 là 342.036 tỷ đồng, trong đó nợ bảo lãnh vay nước ngoài là 150.586 tỷ đồng (chiếm 44%), nợ bảo lãnh vay trong nước là 191.450 tỷ đồng (chiếm 56%).

Trong đó, bảo lãnh vay nước ngoài tính đến ngày 31/12/2012, đã có 96 dự án vay nước ngoài được cấp bảo lãnh Chính phủ thuộc các lĩnh vực điện (47 dự án), hàng không (6 dự án), xi măng (17 dự án), dầu khí (7 dự án), giấy và bột giấy (5 dự án) và các lĩnh vực khác với giá 12,97 tỷ USD, các dự án đã giải ngân là 9,88 tỷ USD và số dư nợ gốc là 7,24 tỷ USD (tương đương 150.586 tỷ đồng); Bảo lãnh vay trong nước tập trung vào 2 ngân hàng chính sách (Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam), Tổng Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) và một số dự án trọng điểm quốc gia.

Đọc tiếp »

ThS. VĨNH SANG

Mặc dù chưa có khuôn khổ pháp lý (Nghị định của Chính phủ) về nghiệp vụ quản lý ngân quỹ nhưng để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng công tác thanh toán, cuối tháng 7/2013 vừa qua, Tổng giám đốc KBNN đã ban hành “Quy trình nghiệp vụ thí điểm thanh toán song phương điện tử (TTĐTSP) giữa KBNN và Ngân hàng Thương mại” theo Quyết định 699/QĐ-KBNN. Việc thực hiện Quyết định này được xem như là bước khởi đầu của lộ trình hình thành tài khoản thanh toán tập trung của KBNN (gọi tắt là TSA), tạo điều kiện thực hiện chức năng quản lý ngân quỹ theo chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020.

Theo kế hoạch, nghiệp vụ TTĐTSP được triển khai theo từng giai đoạn tương ứng với từng hệ thống NHTM (Vietinbank, BIDV, Agribank, Vietcombank) và không cùng lúc với thời điểm triển khai mở rộng nghiệp vụ thanh toán điện tử liên ngân hàng (TTĐTLNH). Với kế hoạch như vậy thì trong từng giai đoạn triển khai sẽ đồng thời tồn tại hai hệ thống thanh toán cũ (phân tán) và mới (tập trung) và sẽ làm cho đường đi của dòng tiền vốn KBNN trở nên phức tạp.

Một cơ chế quản lý và điều hành vốn KBNN cụ thể trong từng giai đoạn triển khai nghiệp vụ TTĐTSP là rất cần thiết để điều chỉnh dòng tiền vốn KBNN hoạt động thông thoáng, phục vụ tốt nhất cho các giao dịch thu, chi qua các đơn vị KBNN.

Thực trạng công tác thanh toán giữa KBNN cấp huyện và chi nhánh NHTM hiện nay

Đọc tiếp »

Thực tiễn thời gian qua đặt ra khá nhiều yêu cầu về hiệu quả của quản lý chi tiêu công ở nước ta như: đầu tư công dàn trải, phân bổ vốn chậm, tỷ lệ đầu tư cao, tăng trưởng kinh tế thấp, cơ chế quản lý chất lượng, hiệu quả đầu tư còn lỏng lẻo, sự lãng phí các nguồn lực ở các doanh nghiệp nhà nước, sự kém hiệu quả về kinh tế – xã hội của các Chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án,… Điều này đòi hỏi hoạt động kiểm toán phải có những tiêu chí rõ ràng khi đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của các dự án đầu tư để từ đó phát hiện, ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những lãng phí, kém hiệu quả đó.

Tuy nhiên, trong thực tế, việc xác định tiêu chí đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả trong kiểm toán các Dự án đầu tư xây dựng công trình vẫn còn gặp một số khó khăn:

Thứ nhất, đặc thù công trình xây dựng mang tính đơn chiếc, đặc biệt là các công trình nhóm A, B nên việc so sánh tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả giữa các công trình gặp nhiều khó khăn.

Thứ hai, hầu hết công tác kiểm toán các dự án đầu tư mới chỉ dừng lại ở việc xác định chi phí đầu tư vào công trình, chưa thực sự kiểm toán một giai đoạn, hay một vòng đời của dự án. Do đó, kết quả kiểm toán khó có thể đưa ra ý kiến đánh giá được dự án hiệu quả hay không, có đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư hay không.

Thứ ba, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình nên Kiểm toán Nhà nước (KTNN) chủ yếu thực hiện kiểm toán các công trình công. Do đó, khó đánh giá được lợi ích kinh tế tính được bằng tiền, nhiều công trình mang yếu tố chính trị, xã hội. Tính kinh tế hay không phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của kiểm toán viên.

Thứ tư, kinh nghiệm về kiểm toán hoạt động của KTNN Việt Nam chưa nhiều.Hiện nay, KTNN chưa có các quy định, hướng dẫn cụ thể về phương pháp xây dựng các tiêu chí đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong kiểm toán hoạt động.

Thứ năm, hệ thống các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành liên quan về quản lý đầu tư chưa đồng bộ, thường xuyên có sự điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với thực tế.

Thứ sáu, hiểu biết về vai trò, tác dụng của kiểm toán hoạt động tại các đơn vị được kiểm toán chưa cao.Điều này tạo ra những khó khăn vướng mắc trong việc phối hợp xây dựng tiêu chí kiểm toán cho các cuộc kiểm toán hoạt động của KTNN trong những năm tới đây.

Một số chỉ tiêu cơ bản trong xây dựng tiêu chí kiểm toán tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình

Đọc tiếp »

Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, việc thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng và thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi NSNN được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, kết quả kiểm toán năm 2012 về niên độ ngân sách năm 2011 lại cho thấy, việc sử dụng kinh phí sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức tại các Bộ, ngành, địa phương lại có chiều hướng gia tăng.

Nhiều địa phương chi thường xuyên vượt dự toán

Kết quả kiểm toán việc sử dụng nguồn kinh phí chi thường xuyên tại các Bộ, ngành, địa phương cho thấy, 21/28 địa phương được kiểm toán còn sử dụng sai nguồn kinh phí 1.840,4 tỷ đồng; 3/28 địa phương sử dụng sai nội dung nguồn kinh phí tiết kiệm chi thường xuyên 9 tháng cuối năm; 16/28 tỉnh, thành phố chi hỗ trợ không đúng chế độ, nhiệm vụ chi 41,6 tỷ đồng; 28/28 địa phương được kiểm toán chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức là 196 tỷ đồng… Đáng chú ý là có tới 23/28 tỉnh, thành phố được kiểm toán đều chi thường xuyên vượt dự toán được HĐND giao đầu năm, trong đó 13/28 địa phương chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể vượt trên 30%; trong điều hành ngân sách còn sử dụng 386 tỷ đồng từ nguồn tăng thu, nguồn thu tiền sử dụng đất, nguồn cải cách tiền lương, dự phòng… để chi thường xuyên sai quy định.

Đối với việc sử dụng nguồn dự phòng ngân sách, năm 2011 ngân sách Trung ương đã sử dụng dự phòng 9.400 tỷ đồng. Qua kiểm tra, đối chiếu vẫn còn 15/28 địa phương được kiểm toán sử dụng dự phòng cho một số nhiệm vụ chưa thực sự cấp bách như chi thường xuyên, chi hỗ trợ, chi bổ sung Quỹ Thi đua khen thưởng, chi sửa chữa mua sắm tài sản 238,6 tỷ đồng. Đặc biệt, trong khi hàng năm, NSNN vẫn phải đi vay và trả lãi thì việc cho vay sai quy định vẫn diễn ra phổ biến, 27/28 tỉnh được kiểm toán cho vay, tạm ứng kéo dài nhiều năm, chậm thu hồi 4.166 tỷ đồng; trong đó cho vay sai quy định 33 tỷ đồng, tạm ứng sai quy định 1.125 tỷ đồng, cho vay, tạm ứng chậm thu hồi 3.008 tỷ đồng.   

Năm 2011, Chính phủ sử dụng 1.020 tỷ đồng từ nguồn vượt thu và số dư dự toán chi ngân sách Trung ương để bổ sung vốn đầu tư phát triển cho các Bộ, ngành và 12.923,5 tỷ đồng để bổ sung vốn đầu tư phát triển cho các địa phương. Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn tăng thu không đúng quy định tại các địa phương chưa có chuyển biến tích cực, 14/28 địa phương được kiểm toán còn sử dụng 325 tỷ đồng nguồn tăng thu để chi thường xuyên, mua tài sản, hỗ trợ các đơn vị, chi trả nợ tạm ứng vốn nhàn rỗi.

Chi chuyển nguồn gia tăng

Đọc tiếp »

PGS, TS. ĐẶNG VĂN THANH

CHỦ TỊCH HỘI KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM

Tham luận này được tác giả trình bày tại Tọa đàm góp ý hoàn thiện dự thảo Luật Ngân sách nhà nước, Hội Luật gia Việt Nam tổ chức, ngày 14/01/2014, Hà Nội.

Luật NSNN năm 2002 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 16-12-2002 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004. Đến nay Luật đã thực hiên đước hơn 8 năm và đang trong năm tài khóa thứ 9. Qua hơn 8 năm thực hiện Luật đã đi vào cuộc sống đã phát huy mạnh mẽ tiềm năng đất nước, đảm bảo phát triển NSNN nhanh và vững chắc, trên cơ sở tăng quyền chủ động, trách nhiệm của địa phương và các Bộ, ngành trong việc quản lý tài chính – ngân sách được phân cấp; đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý ngân sách phù hợp với tiến trình cải cách hành chính Nhà nước; xây dựng nền tài chính lành mạnh, công khai, tăng cường kỷ cương, kỷ luật, thực hiện chế độ trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách; chủ động đáp ứng các yêu cầu mới đặt ra trong quá trình tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn phát triển tới. Điều thấy rõ nhất là quy mô ngân sách cứ 5 năm sau lại gấp hai lần số thu 5 năm trước. Bản thân Luật NSNN năm 2002 và thực tế đã cho thấy Luật bảo đảm các nguyên tắc cơ bản :

- Phù hợp và cụ thể hoá những sửa đổi, bổ sung có liên quan trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 (tháng 11,12/2001) thông qua;

- Quản lý tập trung thống nhất NSNN, bảo đảm quyền quyết định của Quốc hội và sự điều hành thống nhất của Chính phủ đối với NSNN; đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương; đồng thời, tăng cường phân cấp quản lý, tạo thế chủ động gắn với tăng cường trách nhiệm cho chính quyền địa phương;

- Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương với ngân sách địa phương theo hướng tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương và thúc đẩy địa phương phấn đấu để chủ động cân đối ngân sách. Tăng cường tính chủ động, gắn với trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương, đơn vị trong quản lý ngân sách và tài sản nhà nước; gắn trách nhiệm quản lý, sử dụng ngân sách với trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của bộ, ngành, địa phương, đơn vị.

- Thực hiện cải cách hành chính trong việc lập, thực hiện và quyết toán ngân sách. Thực hiện công khai, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý NSNN. Kiểm soát chặt chẽ hoạt động thu, chi NSNN qua các quy định về tăng cường trách nhiệm, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán gắn với xử lý vi phạm.

Về sự cần thiết và quan điểm định hướng sửa đổi bổ sung

Đọc tiếp »

ThS. NGUYỄN MINH TÂN

Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính – Ngân sách của Quốc hội

Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, giám sát là một hình thức hoạt động nhằm bảo đảm pháp chế và sự tuân thủ những quy tắc chung trong xã hội. Các hoạt động kinh tế, tài chính và ngân sách giữ vai trò thiết yếu trong đời sống xã hội, vì thế việc giám sát các hoạt động này là một trong những chức năng quan trọng của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Quy trình giám sát ngân sách nhà nước

Giám sát ngân sách nhà nước (NSNN) góp phần quan trọng vào việc đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng NSNN. Kết quả giám sát NSNN chỉ ra mức độ chấp hành, tuân thủ những luật lệ, quy chế, chính sách quản lý tài chính của Nhà nước. Do đó, giám sát NSNN là việc theo dõi, kiểm tra thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm xác định tình trạng NSNN, từ đó phát hiện sớm các vấn đề và có hướng xử lý kịp thời.

Hiện nay, việc giám sát NSNN tại Quốc hội được thực hiện theo quy trình lập và thẩm tra các báo cáo về dự toán NSNN, quyết toán NSNN. Cụ thể được xác định như sau: (i) Tại kỳ họp cuối năm (thường là kỳ chẵn và khai mạc vào khoảng 20/10 hàng năm): Quốc hội sẽ xem xét, quyết định dự toán NSNN và phân bổ ngân sách trung ương (NSTW) năm sau (còn gọi là năm kế hoạch/năm dự toán) trước ngày 15/11; (ii) Tại kỳ họp giữa năm (thường là kỳ lẻ và khai mạc vào khoảng 19/5): Quốc hội sẽ xem xét, phê chuẩn quyết toán NSNN (sau khi năm ngân sách đã kết thúc 18 tháng).

Các tài liệu chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội (bao gồm: Tờ trình của Chính phủ, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính – Ngân sách, Báo cáo giám sát và Báo cáo thuyết minh có liên quan) phải được gửi đến đại biểu quốc hội trước 10 ngày kể từ ngày dự kiến khai mạc kỳ họp Quốc hội.

Đọc tiếp »

Chính sách tài khóa: Hệ thống các chính sách của chính phủ về tài chính, thường được hoạch định và thực hiện trọn vẹn trong một niên khóa tài chính, nhằm tác động đến các định hướng phải triển của nền kinh tế, thông qua những thay đổi trong kế hoạch chi tiêu chính phủ và chính sách thu ngân sách (chủ yếu là các khoản thu về thuế).

Chính sách tài khoá có thể tạm chia thành chính sách tài khoá cân bằng, chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tài khoá thắt chặt.

Chính sách tài khoá cân bằng là chính sách tài khoá mà theo đó, tổng chi tiêu của Chính phủ cân bằng với các nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu khác mà không phải vay nợ.

Chính sách tài khoá mở rộng (hay còn gọi là chính sách tài khóa thâm hụt) là chính sách nhằm tăng cường chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách:

(i) gia tăng mức độ chi tiêu chính phủ mà không tăng nguồn thu; hoặc

(ii) giảm nguồn thu từ thuế mà không giảm chi tiêu; hoặc

(iii) vừa gia tăng mức độ chi tiêu của chính phủ đồng thời giảm nguồn thu từ thuế.

Chính sách tài khoá mở rộng có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm. Tuy nhiên, chính sách tài khoá mở rộng thường dẫn đến việc Chính phủ phải vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách.

Chính sách tài khoá thắt chặt (hay còn gọi là chính sách tài khóa thặng dư) là chính sách hạn chế chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách:

(i) chi tiêu của chính phủ ít đi nhưng không tăng thu; hoặc

(ii) không giảm chi tiêu nhưng tăng thu từ thuế; hoặc

(iii) vừa giảm chi tiêu vừa tăng thu từ thuế.

Chính sách tài khoá thắt chặt được áp dụng khi nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng nhanh và thiếu bền vững hoặc khi nền kinh tế gặp tình trạng lạm phát cao. Việc này có thể làm thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn lên so với trước đó

Nguồn: Trần Vũ Hải (2009), Tìm hiểu thuật ngữ pháp luật tài chính công, Nxb.Tư Pháp, Hà Nội.

Luattaichinh bình luận: Đây là vấn đề y tế và y đức, lẽ ra không đăng ở luattaichinh. Nhưng bài viết khá hay, lại đề cập đến quy định chi ngân sách và vấn đề tham nhũng, nên cũng có chút ít dính dáng. Bản thân đồng tiền không lạnh, mà lạnh ở tay những ai cầm tiền, dù để trao hay được nhận.

Bài viết với tiêu đề nêu trên được đăng tải trên TuanVietNam, ngày 24/8/2013:

Nói theo cách nói của tâm linh, năm 2013 này là năm ngành y gặp "hạn" nặng. Dồn dập hàng loạt vụ việc scandal tiêm văc xin, sản phụ không qua được cửa tử do "tắc mạch ối" (theo kết luận của ngành). Gần đây là những chiêu lừa đảo khó tin của các phòng khám tư nhân, và nhất là vụ "nhân bản xét nghiệm máu" của Bệnh viện Hoài Đức (Hà Nội) gây chấn động cả xã hội.

Con tim gặp sự… lạnh lẽo

Bệnh viện Hoài Đức, nhân bản xét nghiệm, y đức, Hoàng Thị Nguyệt, tham nhũng, cấp phép khai khoáng, tài nguyên khoáng sản

Còn nói theo cách nói của duy vật biện chứng, người ta phải đặt câu hỏi: Vì sao, vật chất xã hội ngày càng đi lên, nhân tính lại đi xuống?

Bởi y tế là ngành "cứu nhân độ thế". Người dân chỉ đến BV khi ốm đau, không còn có thể nương tựa vào đâu để có thể khỏi bệnh, hoặc thoát chết. Dù không thể phủ nhận nơi đâu cũng có những người thầy thuốc tử tế, nhân bản, làm việc tận tụy với bổn phận. Thế nhưng một khi ngành "cứu nhân độ thế" trở thành tâm điểm dư luận xã hội bất bình trước hàng loạt scandal, bởi thiếu cả lương tâm lẫn nhân tính với sinh mạng con người, thì câu hỏi trên không thừa.

Dư luận xã hội chưa hết bàn luận xung quanh lễ khen thưởng 320 nghìn đồng/ người cho 03 chị Hoàng Thị Nguyệt, Khuất Thị Định và Phan Thị Nam Đông, những nữ nhân viên của BV Hoài Đức dũng cảm lôi những hành vi tiêu cực ra ánh ngày, với những lời bình- mà nếu Sở Y tế HN đọc- được in đầy trên mặt báo, nên biết đỏ mặt.

Đọc tiếp »

TS. VŨ SỸ CƯỜNG

Phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền là nội dung cốt lõi trong phân cấp quản lý của Nhà nước và đang trở thành chủ đề được quan tâm trong cải cách hoạt động của khu vực công tại nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, vấn đề này đã được thực hiện từ nhiều năm nay và quy định cụ thể trong Luật Ngân sách nhà nước (NSNN), các văn bản dưới luật. Bài viết đánh giá khái quát tình hình thực hiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước trong những năm gần đây và đưa ra một số gợi ý cải cách trong giai đoạn sắp tới.

Thực trạng phân cấp ngân sách ở Việt Nam

Tỷ lệ thu ngân sách địa phương (NSĐP) trong tổng NSNN tăng mạnh kể từ sau khi áp dụng Luật NSNN 2002. Nếu không tính thu NSNN từ dầu thô thì thu NSĐP chiếm trung bình hơn 44% tổng thu NSNN ở Việt Nam giai đoạn 2004-2008.

Tỷ lệ bổ sung từ ngân sách trung ương (NSTW) cho địa phương có xu hướng giảm mạnh, chỉ còn 34,1% cho giai đoạn 2005-2010. So sánh với các nước trên thế giới cho thấy tỷ lệ thu NSĐP trong GDP của Việt Nam đạt 9,9% trong giai đoạn này, cao hơn mức trung bình của các nước đang phát triển. Tỷ lệ chuyển giao ngân sách từ Trung ương cho địa phương của Việt Nam cũng cao hơn mức trung bình của nhóm các nước đang chuyển đổi Đông Âu và Liên Xô (cũ), song thấp hơn mức trung bình của các nước đang phát triển.

Đọc tiếp »

TS.NGUYỄN MINH PHONG

Thực trạng phân cấp quản lý đầu tư công còn nhiều bất cập, nên các dự án đầu tư công do các địa phương quyết định thường thiếu cân đối với nguồn vốn và bị dàn trải; không ít dự án chậm đưa vào sử dụng, chất lượng thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. Để khắc phục tình trạng trên, bài viết đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước.

Phân cấp và quản lý đầu tư công từ ngân sách nhà nước Nâng cao hiệu quả đầu tư công từ ngân sách nhà nước

Đầu tư công từ ngân sách nhà nước (NSNN) là một trong 4 nguồn ở Việt Nam và luôn chiếm vai trò quan trọng, nhất là trong phát triển cơ sở hạ tầng, cả cấp quốc gia và địa phương… Từ năm 2006, hầu hết dự án đầu tư công từ NSNN đã phân cấp về địa phương quản lý, nên hiệu quả đầu tư công mang lại phụ thuộc rất lớn vào năng lực và quyết định đầu tư của địa phương.
Theo Bộ Kế hoạch & Đầu tư, hiện nay, nếu tính cả khoản chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia, thì địa phương đang được hưởng khoảng 73% NSNN cho đầu tư phát triển năm 2013, trong khi Trung ương chỉ giữ khoảng 27%. Vì vậy, việc quyết định chi tiêu tại địa phương của HĐND các cấp là đặc biệt quan trọng, nhằm tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả trong điều kiện nền kinh tế và ngân sách còn nhiều khó khăn.

Thực tế cho thấy, do nhu cầu và lợi ích cục bộ của địa phương, nên các dự án đầu tư công do các địa phương quyết định thường thiếu cân đối với nguồn vốn và bị dàn trải; thiếu kết nối với hệ thống cơ sở hạ tầng quốc gia, thông qua hệ thống giao thông cao tốc với chi phí cạnh tranh. Không ít dự án chậm đưa vào sử dụng, chất lượng thấp, hạn chế hiệu quả của đầu tư công. Tình trạng tham nhũng, thất thoát và lãng phí dưới mọi hình thức trong mọi dạng đầu tư công có nguy cơ khó kiểm soát. Các nhà thầu nước ngoài chiếm phần lớn các dự án đầu tư công, đẩy các nhà thầu Việt Nam, dù có năng lực cũng thành nhà thầu phụ. Hiệu quả đầu tư công thấp, thúc đẩy lạm phát cao, thâm hụt ngân sách lớn, nợ công tăng cao.

Đặc biệt, đầu tư công cho các dự án cơ sở hạ tầng giao thông chiếm tỷ trọng áp đảo và lấn át các nguồn đầu tư khác. Các dự án BOT có tỷ lệ vay nợ cao và nhiều dự án được Nhà nước bảo lãnh khiến các dự án này thực chất vẫn là đầu tư công (nhưng chủ đầu tư sẽ quan tâm hưởng lợi ngay trong quá trình xây dựng, chứ không phải là thu hồi vốn sau này và gánh nặng nợ vay khi gặp rủi ro thua lỗ thì Nhà nước vẫn phải gánh chịu). Các quy định phân cấp hiện hành chưa phù hợp với thực tiễn của mỗi khu vực, vùng lãnh thổ, chưa phân biệt rõ sự khác nhau giữa quản lý nhà nước đối với đô thị và nông thôn. Các cơ quan chức năng còn lúng túng và chưa xác định rõ trách nhiệm của mỗi cấp, của tập thể và cá nhân trong quy trình và thực tế triển khai những nhiệm vụ đã được phân cấp, hoặc chỉ dừng lại ở việc phân cấp nhiệm vụ; chưa phân định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, tổ chức cung cấp dịch vụ công, đại diện chủ sở hữu đối với các tổ chức kinh tế nhà nước và tài sản nhà nước.

Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công từ ngân sách nhà nước

Đọc tiếp »

KHƯƠNG TIẾN HÙNG

Phó Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành VI

1. Những đặc điểm chủ yếu của các Dự án đầu tư xây dựng tại các doanh nghiệp nhà nước, Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước
Hiện nay chúng ta có 1.039 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã nhận được 40% tổng vốn kinh doanh, 30 % tổng vốn tín dụng, 45% tổng giá trị tài sản của khu vực doanh nghiệp (sử dụng vốn NSNN khoảng 700.000 tỷ đồng, vay nợ tín dụng khoảng 415.000 tỷ đồng) nhưng chỉ đóng góp 30% GDP.
Nằm trong khu vực kinh tế Nhà nước, trong những năm qua các Tập đoàn, Tổng công ty (TCT), DNNN đã tích cực huy động nguồn vốn lớn để đầu tư xây dựng. Hiệu quả đầu tư góp phần quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế, thay đổi diện mạo đất nước và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên có một thực tế là Công tác quy hoạch, kế hoạch và việc huy động sử dụng các nguồn lực tại các DNNN còn hạn chế, kém hiệu quả, đầu tư còn dàn trải. Cá biệt còn có các đơn vị sử dụng lãng phí, thất thoát một lượng lớn tiền và tài sản của Nhà nước như Vinashin, Vinaline. Có tình trạng trên là do các dự án đầu tư xây dựng (ĐTXD) tại các DNNN có nhiều đặc điểm riêng biệt, như:
- Quyền tự quyết định của DNNN trong việc quyết định đầu tư các dự án rất cao, trong khi còn thiếu các chế tài giám sát hiệu quả. Theo phân cấp, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch hội đồng thành viên tại Tập đoàn, Tổng công ty đã được quyết định đầu tư đến các dự án nhóm A. Như vậy việc đầu tư do lãnh đạo DNNN tự quyết định mà không phải chịu sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước (theo Nghị định 132 thì chỉ báo cáo người đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp, chứ không bắt buộc phải báo cáo lên các bộ, ngành).
- Đặc điểm về vốn đầu tư cho các dự án. Nguồn vốn huy động cho dự án từ nhiều nguồn khác nhau như NSNN cấp, nguồn tín dụng bảo lãnh của Nhà nước, vốn trái phiếu, vốn vay ngân hàng thương mại và vốn tự có của DNNN,…Thông thường các dự án của các DNNN sử dụng vốn vay thương mại là chủ yếu, tại nhiều dự án có nguồn vốn vay chiếm quá 70% vốn đầu tư cho dự án. Theo qui định hiện hành, các dự án có vốn Nhà nước <30%, mặc dù về số tuyệt đối là rất lớn, nhưng không bắt buộc phải tuân thủ các qui định liên quan của Nhà nước (mà chỉ khuyến khích áp dụng) như quy định về quản lý chi phí, quy định về đấu thầu…
- Các dự án ĐTXD của DNNN khi hoàn thành phần lớn được bàn giao cho chính DNNN đó sử dụng, do đó bên cạnh mặt tích cực đó là các dự án ĐTXD phù hợp với nhu cầu sử dụng, thuận lợi trong việc bàn giao đưa vào sử dụng,… nhưng còn có mặt hạn chế là dễ dãi trong việc nghiệm thu, bàn giao, bỏ qua nhiều lỗi kỹ thuật, hạch toán không rõ ràng giữa chi phí đầu tư với chi phí SXKD (đặc biệt là chi phí chạy thử), thời gian chạy thử, thời gian lập Biên bản nghiệm thu chậm…
- Các dự án ĐTXD của DNNN chủ yếu là nhằm mục đích kinh doanh, do đó khả năng thu hồi vốn phụ thuộc rất lớn vào tình hình SXKD của doanh nghiệp, tình hình phát triển kinh tế của đất nước
2. Đánh giá chung về công tác kiểm toán ĐTXD tại các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 5-2014

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Ba 2015
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 2    
 1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,196,242 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • HSBC: NHNN có thể giảm lãi suất OMO trong tuần này 03/03/2015
    (TBKTSG Online) – Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thể nới lỏng tín dụng bằng cách giảm lãi suất trên thị trường mở OMO thêm 0,5 điểm phần trăm xuống còn 4,5%/năm trong tuần này để giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí vốn, theo một báo cáo công bố hôm 3-3 của Bộ phận nghiên cứu thuộc Ngân hàng HSBC. […]
  • Chứng khoán kết thúc điều chỉnh 03/03/2015
    (TBKTSG Online) - Như vậy sau một số phiên điều chỉnh nhẹ, thị trường chứng khoán hôm nay đã có ngày giao dịch khá “bùng nổ”.
  • Ngày 2-3-2015: Chứng khoán tiếp tục điều chỉnh 02/03/2015
    (TBKTSG Online) - Thị trường chứng khoán mở đầu tuần mới tiếp tục nằm trong pha điều chỉnh.
  • NHNN có thể mua lại hai ngân hàng Oceanbank và GPBank 01/03/2015
    (TBKTSG Online) - Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thể sẽ mua lại 100% cổ phần của hai ngân hàng để tái cơ cấu. Hai ngân hàng đó là Oceanbank và GPBank.
  • Chủ tịch UBCKNN Vũ Bằng: Chậm ban hành hướng dẫn vì...giải trình 27/02/2015
    (TBKTSG Online) – Theo kết luận của Thanh tra Chính phủ mới được công bố sau khi thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) thì cơ quan này chậm đưa ra các văn bản hướng dẫn Luật Chứng khoán so với quy định. Ông Vũ Bằng, Chủ tịch UBCKNN giải thích, chậm là vì Ủy ban phải lấy ý kiến nhiều bộ ngành và giải trình rất nhiều lần. […]
  • Chứng khoán vẫn còn trong pha điều chỉnh 27/02/2015
    (TBKTSG Online) - Như vậy là sau một phiên xanh nhẹ hôm qua, thị trường chứng khoán Việt Nam đã giảm trở lại và cho thấy pha điều chỉnh còn hiệu lực.
  • Giá vàng liên tiếp tăng sau tết Nguyên Đán 26/02/2015
    (TBKTSG Online) – Giá vàng trong nước đã liên tiếp tăng trong ba ngày sau kỳ nghỉ tết Nguyên Đán, tăng cao hơn mức tăng của giá vàng thế giới.
  • Chứng khoán đầu xuân tăng mạnh 24/02/2015
    (TBKTSG Online) - Nối tiếp sắc xanh có được trước kỳ nghỉ Tết, thị trường có phiên đón chào năm mới Ất Mùi với sự tăng điểm mạnh mẽ trên cả hai sàn. Khởi động tăng “vừa phải” trong buổi sáng, hai sàn bắt đầu tăng tốc mạnh hơn trong nửa cuối buổi chiều và đóng cửa đều tại mức cao nhất trong ngày. […]
  • Bà Victoria Kwakwa: Việt Nam không thể phớt lờ chuyện nợ công 19/02/2015
    (TBKTSG Online) Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Victoria Kwakwa chia sẻ với TBKTSG Online góc nhìn về nợ công, vấn đề sẽ trở nên căng thẳng hơn trong năm 2015 trong một bài viết gởi cho TBKTSG Online .
  • Thêm một chữ, gỡ được rối 19/02/2015
    (TBKTSG) - Ngày 31-12-2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 222/2013/NĐ-CP về thanh toán bằng tiền mặt.
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 152 other followers