You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat Kinh doanh bao hiem’ category.

DƯƠNG THỊ NHI

Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo bảo hiểm (Bộ Tài chính)

Trên thực tế, chỉ đạo hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bội (KSNB) có thể là Hội đồng Quản trị (HĐQT), có thể là ban giám đốc, nên hoạt động kiểm soát chưa hoàn toàn độc lập. Bài viết này nói về thực trạng hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp (DN) bảo hiểm, cũng như gợi mở hướng cải thiện hoạt động này.

Chưa đồng bộ và chưa quy chuẩn
Từ năm 2007, tại Điều 15 Nghị định số 45/2007/NĐ-CP quy định chi tiết về Luật Kinh doanh bảo hiểm đã có quy định về kiểm tra, KSNB. Năm 2012, cụ thể hóa các quy định về kiểm tra, KSNB tại Nghị định 45, Điều 36 Thông tư số 124/2012/TT-BTC đã hướng dẫn chi tiết về hoạt động kiểm tra, KSNB của DN bảo hiểm. Theo đó, DN bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài phải xây dựng, ban hành quy trình nghiệp vụ và tổ chức kiểm tra, KSNB.
Quy trình kiểm tra, KSNB phải được cấp có thẩm quyền quy định tại Điều lệ tổ chức và hoạt động (đối với DN bảo hiểm) hoặc Quy chế tổ chức và hoạt động (đối với chi nhánh nước ngoài) ban hành bằng văn bản và phải cho phép kiểm tra chéo giữa các cá nhân, các bộ phận cùng tham gia một quy trình nghiệp vụ; phải thông báo quy trình kiểm tra, KSNB đến tất cả người lao động của DN để người lao động nhận thức được tầm quan trọng và tham gia một cách có hiệu quả vào hoạt động kiểm tra, KSNB; người điều hành các bộ phận, đơn vị nghiệp vụ, các cá nhân có liên quan phải thường xuyên xem xét, đánh giá về tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm tra, KSNB; mọi khiếm khuyết của hệ thống này phải được báo cáo kịp thời với cấp quản lý trực tiếp; những khiếm khuyết lớn có thể gây tổn thất hoặc nguy cơ rủi ro phải được báo cáo ngay tổng giám đốc (giám đốc), chủ tịch HĐQT (chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch công ty), ban kiểm soát; trưởng các bộ phận của DN bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài báo cáo, đánh giá về kết quả kiểm tra, KSNB tại bộ phận do mình phụ trách hoặc trong phạm vi nhiệm vụ được giao; đề xuất biện pháp xử lý đối với những tồn tại, bất cập (nếu có) gửi lãnh đạo cấp quản lý trực tiếp theo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của lãnh đạo cấp quản lý trực tiếp.

Đọc tiếp »

Advertisements

Đã có không ít định chế tài chính thất bại với mô hình bancassurance như ING, Standard Life. Mô hình ngân hàng kết hợp bảo hiểm – Bancassurance không ưu việt như từng được tung hô.

Có nhiều lý do để ngân hàng và đơn vị bảo hiểm tham gia bancassurance, mô hình bán các sản phẩm bảo hiểm thông qua mạng lưới của ngân hàng. Đối với ngân hàng, trong bối cảnh cạnh tran

h lãi suất khiến cho lợi nhuận bị sụt giảm, việc bán bảo hiểm (hưởng hoa hồng) giúp mang lại nguồn thu ổn định và ít rủi ro, trong khi không đòi hỏi vốn đầu tư lớn (ngân hàng có thể tận dụng chi nhánh và nhân lực sẵn có). Đối với đơn vị bảo hiểm, khi bán sản phẩm thông qua ngân hàng, họ không cần phải phát triển mạng lưới và thương hiệu, từ đó giúp tiết giảm chi phí, hạ giá thành để nâng cao tính cạnh tranh. Thông qua mối liên kết, cả ngân hàng lẫn đơn vị bảo hiểm sẽ có cơ hội cung cấp nhiều sản phẩm tài chính hơn nhằm giữ chân khách hàng tốt hơn.

Đó là lý do ở Việt Nam có nhiều ngân hàng mở công ty bảo hiểm riêng. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) có ABIC, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam có BIC, Ngân hàng Công Thương Việt Nam có Bảo hiểm Bảo Ngân… Ngược lại, Bảo Việt, tập đoàn bảo hiểm hàng đầu Việt Nam, cũng lập nên ngân hàng riêng là Baoviet Bank nhằm hướng tới hoàn thiện mô hình “siêu thị tài chính Bảo Việt.”

Đọc tiếp »

ThS. HOÀNG LÊ NGUYÊN

Chính thức có hiệu lực từ ngày 01/10/2012, Thông tư số 125/2012/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 30/7/2012, hướng dẫn chế độ tài chính đối với các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm được kỳ vọng sẽ tiếp tục tạo ra những chuyển biến tích cực trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Với những quy định “chuẩn” về tài chính mới sẽ giúp các doanh nghiệp bảo hiểm “nâng chất” quản trị tài chính, hướng tới an toàn và minh bạch.

An toàn vốn trong đầu tư tài chính

Thông tư số 125/2012/TT-BTC (Thông tư 125) thay thế Thông tư số 156/2007/TT- BTC ngày 20/12/2007, ra đời trong bối cảnh hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động đầu tư tài chính tại Việt Nam. Một số doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) trong nước thời gian qua đã có những khoản đầu tư tài chính thiếu hiệu quả, thậm chí thua lỗ, mất vốn. Bởi vậy, một trong những nội dung quan trọng của Thông tư 125 là an toàn trong đầu tư tài chính. Cụ thể, tại Mục 3, “Đầu tư tài chính”, các Điều từ 11 đến 13 đều tập trung cho nội dung này.

Điều 11 quy định DNBH không được đi vay để đầu tư trực tiếp (hoặc uỷ thác đầu tư) vào chứng khoán, bất động sản, góp vốn vào DN khác; Không được đầu tư trở lại dưới mọi hình thức cho các cổ đông (thành viên) góp vốn hoặc người có liên quan quy định tại Luật DN, trừ tiền gửi tại các cổ đông (thành viên) là tổ chức tín dụng. Việc đầu tư dưới hình thức gửi tiền tại các tổ chức tín dụng (bao gồm cả các tổ chức tín dụng là cổ đông, thành viên góp vốn), DNBH phải lựa chọn các tổ chức tín dụng thuộc nhóm 1 và nhóm 2 theo đánh giá xếp hạng của Ngân hàng Nhà nước. Khoản đầu tư từ nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ và các nguồn hợp pháp khác, DNBH phải hạch toán tách bạch theo quy định của pháp luật; bảo đảm việc ghi nhận các tài sản đầu tư được thực hiện một cách nhất quán. Việc đầu tư ra nước ngoài phải được Bộ Tài chính chấp thuận trước khi thực hiện.

Như vậy, chỉ với riêng Điều 11 của Thông tư 125, nguyên tắc đầu tư tài chính an toàn đã xác định rõ khi đã loại trừ tổ chức tín dụng thuộc nhóm 3 ra khỏi danh mục nói gửi tiền của DNBH và yêu cầu các DNBH không được đi vay để đầu tư tài chính, đặc biệt là chứng khoán và bất động sản, hai lĩnh vực gây rủi ro lớn gần đây.

Đọc tiếp »

Căn cứ Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000;

Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2010;

Căn cứ Nghị định số 46/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;

Căn cứ Nghị định số 123/2011/NĐ-CP ngày 28/12/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm;

Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Xét đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm;

Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

Thông tư này hướng dẫn chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, sức khoẻ, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

Điều 2. Nguyên tắc quản lý, giám sát tài chính

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, sức khoẻ, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng vốn, giám sát hoạt động tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và thực hiện các nghĩa vụ, cam kết của mình theo quy định của pháp luật.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Đọc tiếp »

Năm 2012 đi qua với nhiều khó khăn, thách thức hơn cả dự kiến, khiến ngành bảo hiểm không về đích đúng kế hoạch ban đầu với mục tiêu tăng trưởng 17%. Tuy nhiên, nỗ lực của các doanh nghiệp (DN) bảo hiểm nhằm khắc phục khó khăn là điểm đáng ghi nhận trong chặng đường gian nan đó, bởi so với các ngành nghề khác trong nền kinh tế thì tốc độ tăng trưởng của ngành bảo hiểm năm 2012 vẫn thuộc top đầu.

Nhìn lại năm cũ…

Ông Phùng Đắc Lộc, Tổng Thư ký Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam chia sẻ, năm 2012 ngoài việc gặp khó khăn của “bẫy thu nhập trung bình” của một nước mới thoát nghèo, Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và chính sách kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Năm 2012, với GDP ước đạt 5,3%, tăng trưởng tín dụng khoảng 7% – 8%, đầu tư công trên 30% GDP, nhu cầu bảo hiểm của DN và người dân bị ảnh hưởng nhiều, khiến các chỉ tiêu đề ra của thị trường thấp hơn dự kiến. Cụ thể, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước đạt 40.858 tỷ đồng, tăng 11,7% so với năm 2011, trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 22.942 tỷ đồng, tăng 11,5% và doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt 17.916 tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2011. Tổng số tiền thực bồi thường và trả tiền bảo hiểm ước khoảng 15.856 tỷ đồng, trong đó các DN bảo hiểm nhân thọ ước đạt 6.679 tỷ đồng, DN bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 9.177 tỷ đồng. Năm 2012, tổng số tiền DN bảo hiểm tích lũy đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 90.591 tỷ đồng, tăng 9% so với năm 2011. Trong đó, các DN nhân thọ ước đạt 66.361 tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2011, DN phi nhân thọ ước đạt 24.230 tỷ đồng, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2011.

Đọc tiếp »

“Không cứu nạn thành công, không phải trả” là nguyên tắc được nhiều người biết đến trong hoạt động cứu nạn hàng hải giờ đây thường được sử dụng trong hoạt động môi giới bảo hiểm. Bà Jennifer Chen của Văn phòng Decons Thượng Hải nhấn mạnh đến sự cần thiết của các nhà môi giới bảo hiểm tại Trung Quốc phải ký hợp đồng môi giới bảo hiểm và nhấn mạnh những điểm quan trọng cần phải xem xét.

Thường thì khoản tiền thù lao môi giới bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm chi trả qua việc môi giới với khách hàng bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm tiềm năng, những người không phải trả cho nhà môi giới bảo hiểm bất kỳ khoản dịch vụ phí nào cho những thứ mà do nhà môi giới bảo hiểm cung cấp.

Đối với trường hợp nhà môi giới bảo hiểm thiết kế một chương trình bảo hiểm thương mại cho khách hàng và thu thập được các bản chào bán từ các công ty bảo hiểm chỉ để tìm ra khách hàng sử dụng chương trình đã thiết kế sẵn và nhân danh công ty môi giới gửi các yêu cầu bảo hiểm đó tới các công ty bảo hiểm thì sẽ không được trả tiền môi giới hay không được trả bất kỳ khoản phí dịch vụ nào.

Trong trường hợp đó, nhà môi giới bảo hiểm phải cố gắng và bảo vệ lợi ích của mình bằng cách ký kết một hợp đồng dịch vu môi giới với khách hàng, thiết lập các điều khoản trách nhiệm và quyền lợi của các bên trong hợp đồng một cách rõ ràng, chính xác. Sự cần thiết của hợp đồng môi giới là hoàn toàn được chấp nhận trên toàn thế giới đặc biệt tại các quốc gia có hoạt động môi giới phát triển.

Các quy định ban hành bởi CIRC (Cơ quan quản lý bảo hiểm Trung Quốc) năm 2009

Đọc tiếp »

Những người làm bảo hiểm vi mô đang ngày càng chú ý nhiều hơn đến cách thức mà khách hàng có thể kết hợp tiết kiệm với bảo hiểm. Trong khi các sản phẩm có thể là đơn giản với khách hàng nhưng chúng lại phức tạp ở khâu quản lý.

Những người sẽ tham gia vào thị trường bảo hiểm vi mô nên sớm nhận ra nhu cầu quan trọng nhất của khách hàng trước khi chuyển họ sang thiết kế các sản phẩm ưu tiên và giải quyết hàng loạt những đánh đổi ví dụ như chọn ra cách thức hợp lý giữa tính đơn giản và tính linh hoạt.

Ưu tiên hàng đầu những nhu cầu của khách hàng là con đường tới thành công

Bảo hiểm và tiết kiệm giữ vị trí quan trọng để giúp những người có thu nhập thấp quản lý rủi ro của họ. Những cú sốc do những sự việc không vui xảy ra ví dụ như ốm đau, tử vong hoặc thời tiết xấu có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến gia đình.

Một mặt, tiết kiệm giúp những hộ gia đình có thu nhập thấp xây dựng kế hoạch cho sự phát triển của gia đình và học tập của con cái, đầu tư vào các cơ hội kinh doanh, nâng cao tiền công năng xuất và bảo vệ gia đình khỏi những rủi ro bất ngờ. Tuy nhiên, những người nghèo thường sử dụng tiền tiết kiệm của mình như một bước đệm để giải quyết khó khăn ngăn cản họ trong việc đầu tư cho tương lai. Mặt khác, bảo hiểm cũng giữ vai trò lớn trong việc mang lại sự bảo vệ trước những sự kiện không mong đợi bằng cách chia đều chi phí bảo vệ cho một nhóm khách hàng cùng chia sẻ rủi ro, làm giảm nhẹ sự thâm hụt thu nhập, giữ vững được vốn sinh lợi.

Đọc tiếp »

Khi mà tuổi thọ trung bình đang ngày càng tăng trên toàn thế giới thì các vấn đề nảy sinh từ sự già hóa dân số cũng trở nên nghiêm trọng hơn, đòi hỏi phải có một thị trường bảo hiểm tuổi thọ đủ mạnh. Mặc dù yêu cầu đặt ra là cấp thiết nhưng việc quản lý rủi ro tuổi thọ cũng như các sản phẩm bảo hiểm tuổi thọ ở Châu Á vẫn còn kém phát triển. Đi sâu tìm hiểu về những vấn đề ẩn chứa bên trong sẽ là chìa khóa thành công để tìm ra những giải pháp đột phá, khả thi mang tính thực tiễn. Ông Jackie Li thuộc Trung tâm nghiên cứu rủi ro bảo hiểm và tài chính bàn luận về những vấn đề cơ bản và phân tích các phương hướng mà các doanh nghiệp bảo hiểm có thể áp dụng để quản lý rủi ro tuổi thọ.

Có một hiện tượng chung trên toàn cầu đó là tuổi thọ trung bình đang tiếp tục tăng lên mà không có dấu hiệu sẽ ngừng lại hay đi ngược lại với xu thế chung trong tương lai. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương cũng không phải là ngoại lệ.

Tuổi thọ trung bình tăng

            Năm 1980, phụ nữ ở tuổi 65 được kỳ vọng sẽ sống thêm trung bình là 17 năm nữa. Năm 1990, con số này tăng lên là 22 năm. Đối với nam giới, tuổi thọ trung bình của những người ở tuổi 65 đã tăng từ 14 lên 18 năm nữa trong cùng khoảng thời gian như trên. Như vậy, con số tăng trung bình là 1,5 năm trên một thập kỷ, và xu hướng tăng này dường như là liên tục. Tuổi thọ trung bình tăng phản ánh sự phát triển đáng kể của kinh tế, điều kiện sống, giáo dục, chăm sóc y tế và công nghệ y học. Tuy nhiên, điều đó cũng gây nên hàng loạt những vấn đề liên quan đến rủi ro tuổi thọ khác nhau với từng đối tượng liên quan khác nhau.

Rủi ro tuổi thọ là gì?

Đọc tiếp »

DƯƠNG THỊ NHI

Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Bảo hiểm (BỘ TÀI CHÍNH)

Sau gần 20 năm phát triển thị trường bảo hiểm, tính đến 31/12/2011, Việt Nam đã có 29 doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) phi nhân thọ, 12 DNBH nhân thọ đang hoạt động kinh doanh BH. Xét về tổng doanh thu, giai đoạn 2003-2010, thị trường BH có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 18,5%/năm, cao hơn nhiều tốc độ tăng trưởng GDP. Trong lĩnh vực BH phi nhân thọ, doanh thu phí BH tăng trưởng bình quân 23,8%/năm, từ 3.815 tỷ đồng năm 2003 lên 17.017 tỷ đồng vào năm 2010. Trong lĩnh vực BH nhân thọ, doanh thu phí BH tăng trưởng bình quân 11%/năm, từ 6.575 tỷ đồng lên 13.589 tỷ đồng. Tổng số tiền đã giải quyết bồi thường, trả tiền BH trong giai đoạn 2003-2010 là 50.921 tỷ đồng, trung bình mỗi năm chi trả 6.365 tỷ đồng. Một điểm đáng chú ý là tổng số tiền đã huy động được từ BH để đầu tư trở lại cho nền kinh tế tăng 5,5 lần, từ 14.602 tỷ đồng vào năm 2003 lên 80.540 tỷ đồng năm 2010.

Những con số trên đã chứng tỏ, trong năm qua, mặc dù nền kinh tế thế giới lún sâu vào khủng hoảng, tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ngấm vào từng ngóc ngách của kinh tế Việt Nam, tuy nhiên, hoạt động kinh doanh bảo hiểm vẫn trên đà tăng trưởng, đồng thời có đóng góp quan trọng cho đầu tư phát triển kinh tế. Song, trước xu hướng được cho là diễn biến khó lường của kinh tế quốc tế sẽ kéo theo những xu hướng bất định của kinh tế trong nước, nếu không có những dự tính căn cơ và dài hạn về chiến lược kinh doanh thì hoạt động kinh doanh bảo hiểm năm nay và những năm tới rất có thể mang đến kết quả khó đoán. Nói tới những tính toán về chiến lược kinh doanh, về dự tính căn cơ và dài hạn, cũng có nghĩa là phải nói tới tái cơ cấu doanh nghiệp.

Tính đến thời điểm hiện nay (tháng 5/2012), diễn biến kinh tế thế giới cho thấy triển vọng kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn trong thời gian tới, kinh tế trong nước cũng khó có khởi sắc ngược chiều với xu thế kinh tế thế giới. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang để lại những hậu quả nặng nề ở số lượng những doanh nghiệp phá sản ngày càng tăng, tốc độ tăng trưởng nhiều ngành nghề ngày càng giảm sút, các doanh nghiệp sản xuất cũng như cung ứng dịch vụ càng ngày càng khó khăn hơn và khả năng trụ vững cũng theo đó mà ngày càng suy giảm. Tất cả những vấn đề trên đều trực tiếp tác động tới hoạt động kinh doanh bảo hiểm, cụ thể là các doanh nghiệp bảo hiểm.

Đọc tiếp »

I. TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ XÃ HỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN BẢO HIỂM

Năm 2011 nền kinh tế xã hội Việt Nam gặp nhiều khó khăn do lạm phát cao và ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng vẫn đảm bảo tăng trưởng GDP 5,89%, trong đó nông lâm ngư nghiệp tăng 4%, công nghiệp và xây dựng tăng 5,53%, dịch vụ tăng 6,99%. Đầu tư toàn xã hội 877,9 nghìn tỉ đồng tăng 5,7% bằng 34,6% GDP, thu ngân sách 674,5 nghìn tỉ đồng tăng 20,6%, dư nợ tín dụng tăng 12%, xuất khẩu đạt 96,3 tỉ USD tăng 33,3%, nhập khẩu đạt 105,8 tỉ đồng tăng 24,7%, FDI đạt 11 tỉ USD. Đó là điều kiện thuận lợi để tăng nhu cầu bảo hiểm tác động tới sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Song những khó khăn thách thức tác động tới ngành bảo hiểm không nhỏ. Chỉ số giá cả tăng 18,13% trong đó giá cả hàng tiêu dùng thiết yếu có nhóm tăng từ 50% đến 100% ảnh hưởng đời sống xã hội làm giảm số tiền tiết kiệm trong dân cư, giảm khả năng tham gia bảo hiểm hoặc duy trì hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đối với người trước đây có thu nhập trung bình trở xuống, làm tăng chi phí bồi thường của bảo hiểm phi nhân thọ. Năm 2011 Nghị quyết của Chính phủ thực hiện thắt chặt tín dụng, thắt chặt chi tiêu và đầu tư công đã giảm nhu cầu bảo hiểm tài sản, xây dựng lắp đặt và tài sản mới mua.

Đọc tiếp »

Khả năng chuyển giao rủi ro là nhân tố quyết định trong sự phát triển kinh tế của một xã hội và khung pháp lý mà các nhà chức trách thiết lập nên chính là nền tảng quan trọng cho sự phát triển của bảo hiểm. Ông Ludger Arnoldussen từ Munich Re cho rằng sự kết nối chặt chẽ giữa quản lý rủi ro và các yêu cầu về vốn sẽ đảm bảo cho các DNBH đủ khả năng chi trả ngay cả khi xảy ra tổn thất cực lớn, từ đó củng cố lòng tin của các chủ hợp đồng, một điều hết sức cần thiết ở thị trường bảo hiểm Châu Á đang phát triển và nổi bật – nơi mà người dân chỉ bỏ tiền ra mua bảo hiểm nếu họ chắc chắn rằng DNBH đó có đủ khả năng trả tiền bồi thường bảo hiểm. Insurance

Mặc dù ngành bảo hiểm Châu Á bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ những năm 1990, sự phát triển đó không trải đều trên khắp khu vực và trên khắp các quốc gia. Trong khi phí bảo hiểm được điều chỉnh theo tỉ lệ lạm phát ở Nhật Bản là không thay đổi trong 10 năm qua thì mức phí ở Indonesia và Ấn Độ đã tăng gấp đôi, dù là từ một mức thấp hơn khá nhiều, và đến năm 2010, phí bảo hiểm ở Trung Quốc đã tăng gấp 6 lần so với năm 2000 trên cơ sở đã điều chỉnh theo tỉ lệ lạm phát.

Phòng nghiên cứu kinh tế của Munich Re ước tính rằng Trung Quốc sẽ trở thành nước có doanh thu phí bảo hiểm cao thứ 3 thế giới vào năm 2015. Không chỉ có phí bảo hiểm mà cả mức độ thâm nhập của bảo hiểm và mật độ người dân có bảo hiểm cũng tăng lên từng năm, mặc dù mật độ người dân có bảo hiểm vẫn còn ở mức thấp. Đây là một điểm rất quan trọng đặc biệt là với khu vực có nguy cơ cao về thảm họa thiên nhiên. Chuyển giao rủi ro có thể đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nền kinh tế và việc đánh giá rủi ro cũng góp phần giúp định giá được rủi ro từ đó đem lại lợi ích cho tổng thể nền kinh tế.

Sự tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm tại các khu vực này là tùy thuộc vào mức tăng mạnh các tài sản hữu hình và mức tăng thu nhập đang ngày càng được lan rộng. Vì vậy, sự tăng trưởng của thị trường bảo hiểm gắn liền với sự thịnh vượng mà sự thịnh vượng đó có thể bị đe dọa bởi những sự kiện thảm họa thiên nhiên nghiêm trọng. Các giải pháp chuyển giao rủi ro liên quan đến những thảm họa thiên nhiên có thể rất hiệu quả nhưng chưa được sử dụng đúng mức để đảm bảo cho sự phát triển bền vững.

Đọc tiếp »

Được ban hành bởi QUYẾT ĐỊNH 193/QĐ-TTg ngày 15/2/2012 của Thủ Tướng Chính phủ với nội dung cơ bản như sau:

I. MỤC TIÊU CỦA CHIẾN LƯỢC

1. Mục tiêu tổng quát

Phát triển thị trường bảo hiểm phù hợp với định hướng phát triển nền kinh tế – xã hội và tài chính quốc gia trong từng thời kỳ; bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tăng cường tính an toàn, bền vững và hiệu quả của thị trường và khả năng đáp ứng nhu cầu bảo hiểm đa dạng của các tổ chức, cá nhân; góp phần ổn định nền kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Tiếp cận các chuẩn mực, thông lệ quốc tế về kinh doanh bảo hiểm và từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển với các quốc gia trong khu vực.

2. Mục tiêu cụ thể

Đọc tiếp »

Rất tinh vi, dày công phu; kẻ lừa đảo ngụy tạo hẳn một vụ tai nạn, rồi cất công tìm lấy từng chữ ký của quan chức địa phương. Kế đó, giả mạo ra cả hồ sơ bệnh án, giấy ra viện, giấy khám bệnh…với hàng loạt xác nhận thương tích, chữ ký của các bác sĩ điều trị, mà sau này người ta phát hiện là hoàn toàn…giả. Mục đích cuối cùng là nhằm hợp thức hóa, buộc Cty bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm tai nạn.

Những vụ đòi bảo hiểm bất thường

Khoảng tháng 5.2011, Cty Bảo Việt tỉnh Bình Phước (viết tắt BVBP, thuộc Tập đoàn Bảo Việt VN) có nhận được giấy yêu cầu của một khách hàng tên Trịnh Văn Tuấn (sinh 1954, thường trú ấp Cây Cam, xã An Bình, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương) đòi được nhận tiền bảo hiểm tai nạn. Theo ông Tuấn, trong một lần đi bộ ở xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, ông Tuấn bị "trượt chân ngã ngoài ý muốn"; hậu quả là bị "chấn động sọ não, gãy xương tay trái…".

Ông Tuấn trưng ra đủ các giấy tờ: Biên bản tai nạn có chữ ký xác nhận của chính quyền xã Đạo Đức, hồ sơ bệnh án điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang, giấy chụp X-quang ở Bệnh viện huyện Vị Xuyên, giấy ra viện, toa thuốc…

Cũng trong thời điểm đó, BVBP cũng nhận được yêu cầu đòi bồi thường bảo hiểm tai nạn (khoảng 10 triệu đồng/vụ) của 3 người khác là Trần Ngọc Cư, Vũ Xuân Tịnh và Trịnh Quốc Ước, với các tai nạn na ná như tai nạn ông Tuấn và nơi xảy ra tai nạn đều ở các tỉnh phía bắc. Thí dụ: Ông Trần Ngọc Cư nói bị tai nạn "ngoài ý muốn", "chấn thương sọ não rất trầm trọng" ở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Ông Cư cho biết đã gửi hồ sơ tới BV Hải Dương, nay đề nghị BVBP xác nhận thì BV Hải Dương mới có cơ sở bồi thường cho ông Cư. Thấy có dấu hiệu bất thường xung quanh các vụ đòi bồi thường bảo hiểm, ông Trần Văn Sung – GĐ BVBP đã chỉ đạo xác minh và phát hiện có hành vi lừa đảo, nhằm chiếm đoạt tiền bảo hiểm, trên phạm vi từ Bắc vô Nam.

Ngụy tạo tai nạn, giả mạo hồ sơ

Đọc tiếp »

Trần Vũ Hải

Đại học Luật Hà Nội[1]

 Xem thêm:

Góp ý của tác giả đăng trên website VCCI

Góp ý của VCCI

Nhận được đề nghị của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tôi đã dành thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng nội dung của Dự thảo Nghị định. Tôi đánh giá cao quá trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc của Ban soạn thảo, từ đó có những lập luận, lý giải khá thuyết phục trong dự thảo tờ trình, giúp cho những người tham gia thảo luận có được cái nhìn toàn diện hơn về sự cần thiết và cấu trúc điều chỉnh của dự thảo. Bên cạnh đó, cá nhân tôi cho rằng, dự thảo cần tiếp tục được xem xét, thảo luận và góp ý kỹ lưỡng để khi ban hành có được hiệu quả điều chỉnh như mong đợi. Cá nhân tôi có một số đánh giá, góp ý sau đây:

I. Về những vấn đề lớn cần xem xét, cân nhắc

1. Về việc ban hành một Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung

Theo cách tiếp cận của Ban soạn thảo thì việc xây dựng 01 Nghị định vừa chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm vừa sửa đổi, bổ sung Nghị định 45/2007/NĐ-CP là để “giảm thiểu số lượng các văn bản pháp luật”, “đơn giản hóa thủ tục hành chính” là chưa thực sự hợp lý vì những lý do sau đây:

– Thứ nhất, về bản chất, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 (sau đây gọi tắt là Luật 2010) không thể là một văn bản có hiệu lực điều chỉnh độc lập các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo hiểm, mà nó phải gắn liền với Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sau đây gọi tắt là Luật 2000). Mặc dù có Luật 2010 nhiều quy định là mới (bổ sung), nhưng không thể tách nó ra khỏi Luật 2000 được. Không thể hiểu được, vận dụng được Luật 2010 nếu không gắn nó với nội dung của Luật 2000, tức là, Luật 2010 là một bộ phận cùng với Luật 2000 tạo nên một luật hoàn chỉnh là Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010). Do đó, nếu là Nghị định quy định chi tiết thi hành thì phải là Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010) chứ không thể riêng rẽ chỉ quy định chi tiết đối với Luật 2010. Về thực tiễn từ trước đến nay, các Nghị định quy định chi tiết thi hành đều theo hướng ban hành một Nghị định mới thay thế sau khi văn bản Luật có sửa đổi, bổ sung, chứ không ban hành một Nghị định riêng điều chỉnh đồng thời.

– Thứ hai, lý do mà Ban soạn thảo đưa ra về việc hạn chế số lượng các văn bản pháp luật có lẽ là chưa thỏa đáng, vì nếu ban hành một Nghị định mới thay thế Nghị định 45/2007/NĐ-CP gồm các quy định mới như trong dự thảo cùng với các quy định được giữ lại ở Nghị định 45 thì sẽ chỉ có 01 văn bản, còn nếu theo hướng như hiện nay lại có 02 văn bản cùng có hiệu lực (gồm Nghị định 45 và Nghị định đang được soạn thảo). Điều này sẽ gây khó khăn cho việc tìm hiểu, vận dụng trên thực tế. Bên cạnh đó, không hẳn là nội dung điều chỉnh của hai văn bản này đã tách bạch nhau. Một là, trong Nghị định 45 cũng quy định một số nội dung về doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đầu tư vào Việt Nam (nhưng không quy định về chi nhánh) nên nếu muốn tìm hiểu về hiện diện thương mại của DNBH nước ngoài tất yếu phải đọc cả hai văn bản. Hai là, Nghị định 45 cũng quy định về đấu thầu, nhưng không chi tiết (Điều 17), bây giờ lại được quy định chi tiết tại một văn bản pháp lý hiệu lực tương đương. Ba là, dự thảo Nghị định mới có quy định về sửa đổi, bổ sung Nghị định 45, dẫn đến việc không tách bạch về mặt nội dung, nên áp dụng sẽ khó khăn khi dẫn chiếu văn bản pháp quy.

Vì những lý do trên, tôi đề nghị Ban soạn thảo xem xét xây dựng Nghị định thay thế Nghị định 45/2007/NĐ-CP theo hướng: giữ lại những quy định hiện hành, sửa đổi những quy định cần sửa đã có trong dự thảo, bổ sung các quy định mới như tinh thần của dự thảo hiện nay.

2. Về việc phân định giữa tổ chức bảo hiểm tương hỗ và hợp tác xã bảo hiểm Đọc tiếp »

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10.

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm.

1. Bổ sung khoản 19 và khoản 20 Điều 3 như sau:

“19. Bảo hiểm hưu trí là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm đạt đến độ tuổi xác định được doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

20. Bảo hiểm sức khoẻ là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm bị thương tật, tai nạn, ốm đau, bệnh tật hoặc chăm sóc sức khỏe được doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.”

2. Khoản 1 Điều 6 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“1. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có nhu cầu bảo hiểm được lựa chọn tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam hoặc sử dụng dịch vụ bảo hiểm qua biên giới.”

3. Điều 7 được sửa đổi, bổ sung như sau: “Điều 7. Các loại nghiệp vụ bảo hiểm

1. Bảo hiểm nhân thọ bao gồm:

a) Bảo hiểm trọn đời; b) Bảo hiểm sinh kỳ; c) Bảo hiểm tử kỳ;

d) Bảo hiểm hỗn hợp;

đ) Bảo hiểm trả tiền định kỳ; e) Bảo hiểm liên kết đầu tư; g) Bảo hiểm hưu trí.

2. Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Mười 2019
H B T N S B C
« Th7    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 302 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements