You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat chung khoan’ category.

TRẦN VŨ HẢI

Thế nào là Quỹ đầu tư chứng khoán?

Trong hoạt động kinh doanh, đầu tư được hiểu là việc cá nhân, tổ chức sử dụng tài sản để tiến hành hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu thu được lượng tài sản nhiều hơn trong tương lai. Lĩnh vực đầu tư rất phong phú, từ việc sản xuất, kinh doanh hàng hoá, đến việc góp vốn, mua cổ phần hay đơn giản là việc gửi tiết kiệm tại ngân hàng hoặc tham gia vào một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Một trong những lĩnh vực đầu tư rất hấp dẫn, không những về khả năng sinh lời mà còn ở tính hấp dẫn của nó, đó chính là đầu tư chứng khoán. Đầu tư chứng khoán được hiểu là việc một chủ thể nắm giữ chứng khoán để kỳ vọng vào lợi nhuận do chứng khoán đó mang lại trong tương lai. Lợi nhuận có thể thu được từ lãi chứng khoán đang nắm giữ hoặc chênh lệch từ hoạt động mua, bán chứng khoán.

Tình huống: Ông Lợi quyết định mua 1000 chứng chỉ quỹ đầu tư mệnh giá 10000đ với giá 12000 đ/chứng chỉ vào ngày 31/12/2004. Lợi tức trả năm 2005 của quỹ là 10%. Sau khi nhận lợi tức, ông Lợi quyết định bán số chứng khoán này cho bà Nhuận, với mức giá 13500 đ/chứng chỉ.

Như vậy, lợi nhuận mà ông Lợi thu được là:

(13500 x 1000 + 10000 x 1000 x 10%) – 12000 x 1000 = 2500000 đ

Cũng giống như các lĩnh vực đầu tư khác, đầu tư chứng khoán có thể được phân chia thành hai loại là đầu tư chuyên nghiệp và đầu tư không chuyên nghiệp.

Đầu tư chuyên nghiệp là hoạt động của các chủ thể trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán như các công ty chứng khoán, ngân hàng hoặc những định chế đầu tư chuyên nghiệp khác. Những chủ thể này có nguồn vốn dồi dào, có kỹ năng chuyên môn và sẵn sàng chấp nhận rủi ro để thu lợi nhuận. Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp thường có những dấu hiệu như:

– Hoạt động đầu tư chứng khoán là hoạt động chính của chủ thể đó;

– Hoạt động đầu tư chứng khoán mang lại nguồn thu nhập chính;

– Nhà đầu tư chứng khoán có kiến thức và kỹ năng tiến hành hoạt động đầu tư chứng khoán.

Những nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp thường được biết đến là các công ty chứng khoán tự doanh, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm và một số tổ chức tài chính khác.

Bên cạnh những nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, có những chủ thể có thể không đủ kiến thức hoặc kỹ năng để tự mình đầu tư, hoặc không coi đó là nghề nghiệp của mình nhưng vẫn có nguyện vọng tham gia đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán để tăng thu nhập. Những chủ thể này được gọi là những nhà đầu tư không chuyên nghiệp.

Ông An là một nhà giáo đã nghỉ hưu. Ông có một khoản tiết kiệm và muốn nó sinh lời nhiều hơn so với việc ông gửi tiền vào ngân hàng. Ông quyết định đầu tư vào chứng khoán, nhưng ông không am hiểu lắm về lĩnh vực này. Thông qua tư vấn của luật sư, ông quyết định mở một tài khoản tại công ty chứng khoán ABC và uỷ thác việc đầu tư cho công ty này. Nhân viên hành nghề chứng khoán của công ty có trách nhiệm sử dụng tiền và chứng khoán trên tài khoản của ông An để mua, bán chứng khoán vì lợi ích của ông.

Trong những trường hợp như vậy, những chủ thể này có thể đầu tư thông qua việc uỷ thác cho công ty chứng khoán hoặc tham gia góp vốn để hình thành một quỹ tài chính, gọi là Quỹ đầu tư chứng khoán.

Advertisements

ThS. TRẦN MẠNH DŨNG
Nghiên cứu sinh tiến sỹ Đại học Macquarie, Úc

Việc lựa chọn tỷ lệ chiết khấu được coi là vấn đề trung tâm trong việc quyết định quy mô của chi phí giảm giá trị của tài sản. Trong mô hình chiết khấu luồng tiền, lựa chọn tỷ lệ chiết khấu tùy ý có thể được sử dụng một cách cơ hội để xuyên tạc giá trị hiện tại, chi phí giảm giá trị của tài sản, lợi nhuận và ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý của các khoản mục trên Báo cáo tài chính (BCTC).

Nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng về hành vi cơ hội trong việc kiểm soát chi phí và lợi nhuận thông qua việc kiểm tra giảm giá trị của tài sản. Bằng việc so sánh tỷ lệ chiết khấu ước tính và tỷ lệ chiết khấu do các Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hồng Kông trình bày trong thời kỳ từ năm 2005 đến năm 2007, nghiên cứu phát hiện ra rằng có sự biến động lớn về tỷ lệ chiết khấu áp dụng giữa các năm theo hướng tỷ lệ chiết khấu được áp dụng cao hơn mức hợp lý.

1. Giới thiệu
Lợi thế thương mại (LTTM) là một trong các chủ đề gây tranh luận nhất trên thế giới. Trước đó, LTTM được mô tả như là sự không nhìn thấy được, không tin cậy, có thể rắc rối và hay thay đổi trong việc ghi nhận, đo lường và báo cáo. Sau nhiều năm tranh luận gay gắt, LTTM vẫn được coi như là chỉ tiêu lạc lõng trên BCTC.
Với bản chất vô hình của LTTM và có nhiều cách hiểu khác nhau, vì vậy có nhiều sự thay đổi trong việc ghi nhận, đo lường và báo cáo nó trên BCTC. Qua thời gian và hệ thống pháp lý, sự lộn xộn trong việc ghi nhận, đo lường và báo cáo nó được mô tả trong các chuẩn mực kế toán. Cụ thể, LTTM được ghi giảm vào quỹ dự phòng hoặc vào lợi nhuận chưa phân phối; vốn hóa LTTM và chỉ ghi giảm khi có đủ bằng chứng; vốn hóa LTTM và khấu hao định kỳ theo phương pháp bình quân; và vốn hóa LTTM và tiến hành kiểm tra giảm giá trị của LTTM hàng năm.
Trong ngữ cảnh của Hồng Kông, sự tranh luận về kế toán LTTM và tài sản cố định vô hình đã diễn ra nhiều năm với nhiều phương pháp ghi nhận, đo lường và báo cáo. Phương pháp khấu hao bắt buộc hàng năm đã bị thay thế bằng phương pháp mới, sự giảm giá trị của LTTM mà phương pháp mới này dựa trên rất nhiều các giả định mang tính chủ quan.
Theo Chuẩn mực Kế toán Hồng Kông số 36 (HKAS 36) “Giảm giá trị của tài sản”, có hai phương pháp để xác định giá trị có thể thu hồi của tài sản là phương pháp giá trị hợp lý và giá trị sử dụng. Trong việc áp dụng phương pháp giá trị sử dụng, mô hình chiết khấu luồng tiền được coi là mô hình có độ tin cậy cao để xác định giá trị có thể thu hồi của tài sản, qua đó so sánh với giá trị ghi sổ của tài sản để xác định chi phí giảm giá trị của tài sản. Trong mô hình này, tỷ lệ chiết khấu được coi là rất quan trọng trong việc chiết khấu luồng tiền tương lai về giá trị hiện tại.

Đọc tiếp »

HOÀNG XUÂN

Sau một thời gian dài trầm lắng, làn sóng chia cổ phiếu thưởng lại xuất hiện trở lại trên thị trường chứng khoán

Sau một thời gian dài trầm lắng, làn sóng chia cổ phiếu thưởng lại xuất hiện trở lại trên thị trường chứng khoán.
Nhiều nhà đầu tư – dù trước đó đã thua lỗ đến sạt nghiệp – vẫn đua theo trào lưu và quên luôn bài học “vỡ lòng” về đầu tư đó.
Các doanh nghiệp khi chọn hình thức chia thưởng cổ phiếu có muôn vàn lý do. Có doanh nghiệp chia thưởng trong năm 2009 nhằm hỗ trợ cổ đông không phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Nhưng cũng có những doanh nghiệp chọn hình thức này để tăng vốn điều lệ, từ đó tăng năng lực tài chính và có cơ hội tiếp cận khoản vay lớn hơn để thực hiện các dự án lớn…
Còn về phía thị trường, nhất là trong giai đoạn thị trường khởi sắc, thông tin chia thưởng cổ phiếu được xem như một lực đỡ quan trọng cho giá chứng khoán tăng hàng ngày.
Đối với những cổ phiếu có thị giá cao, việc chia tách sẽ gia tăng tính thanh khoản do giá cổ phiếu đã được điều chỉnh giảm theo tỷ lệ chia thưởng. Những nhà đầu tư ít vốn sẽ có cơ hội đầu tư khi có cảm giác cổ phiếu đã rẻ đi. Việc cho phép nhiều nhà đầu tư có mức tiền vừa phải sẽ tham gia nhiều hơn, làm tăng cầu chứng khoán và khi cầu chứng khoán tăng sẽ tác động làm tăng giá chứng khoán.
“Trong chừng mực nào đó, việc phát hành cổ phiếu thưởng giống như doanh nghiệp chia nhỏ cổ phần để giá mỗi cổ phiếu sau khi chia nhỏ sẽ giảm xuống, tạo tính thanh khoản trên thị trường. Thưởng cổ phiếu là một nghiệp vụ làm tăng số lượng cổ phiếu, chứ không làm gia tăng giá trị vốn cổ phần.
Nói cách khác, về phương diện hạch toán kế toán, đó chẳng qua là một bút toán chuyển từ tài khoản thặng dư vốn – capital surplus (có công ty lấy từ quỹ đầu tư phát triển) sang vốn điều lệ (capital stock – tính trên mệnh giá) của bảng cân đối kế toán một công ty. Như vậy, việc tăng giá từ thông tin này cũng chỉ dừng lại ở một mức độ hợp lý nhờ tính thanh khoản của cổ phiếu cao hơn trước”, một chuyên gia chứng khoán cho biết.
Dễ gây hiểu lầm
Theo ông Lưu Trung Dũng, sáng lập viên Công ty Cổ phần Đào tạo và Tư vấn đầu tư (DoBF), khái niệm “cổ phiếu thưởng” bấy lâu cũng đã gây hiểu lầm đối với nhiều người ngay cả trong giới đầu tư. Tuy nhiên, về lâu về dài cũng nên có một khái niệm thích hợp hơn để gọi số cổ phiếu này.

Đọc tiếp »

TUẤN NGUYỄN

Khi so sánh P/E nhiều người liên tưởng đến tính “đắt” hay “rẻ” nhưng đơn giản nhất có thể hiểu P/E là thời gian hòa vốn tính theo năm của một cổ phiếu nếu toàn bộ thu nhập tạo ra từ công ty được trả hết cho cổ đông.

Có nhiều loại P/E khác nhau dựa trên yếu tố “E”. Nếu E là lãi trên cổ phiếu của năm tài chính gần nhất thường được gọi là “P/E lịch sử”. Nếu E là lãi trên cổ phiếu của 4 quý gần nhất thì khái niệm đó là “P/E tính trượt” và nếu E là lãi trên cổ phiếu của năm dự báo thì đó là “P/E dự báo”.  

Lý thuyết đơn giản vậy nhưng thực tế không dễ để nhà đầu tư trên thị trường Việt Nam có thể tiếp cận những con số được tính toán chính xác và đáng tin cậy về PE để tìm hiểu, nghiên cứu và quan trọng nhất là phục vụ hoạt động đầu tư.

P/E của một công ty – ở Việt Nam nên tính trượt hàng ngày

Thông thường các tổ chức cung cấp dữ liệu, kể cả Bloomberg hay Reuters, tính toán các chỉ số tài chính trượt theo quý (tức là dựa trên số liệu tài chính của 4 quý gần nhất), trong đó có chỉ số P/E.

Tuy nhiên điều này chỉ đúng khi mà biến động cơ cấu vốn là không nhiều và các hoạt động điều chỉnh như cổ phiếu thưởng, phát hành cho cổ đông hiện hữu, phát hành cho cán bộ công nhân viên, v.v. không tác động lớn.

Đọc tiếp »

          Trong quá trình theo dõi và tham gia thị trường, thỉnh thoảng người đầu tư nhận thấy Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (TTGDCK Tp. HCM) không lấy giá đóng cửa của một cổ phiếu nào đó trong phiên giao dịch trước đó làm giá tham chiếu cho cổ phiếu này trong ngày giao dịch tiếp theo như thường lệ. Đó là ở trường hợp ở những phiên giao dịch người đầu tư giao dịch không được nhận cổ tức bằng tiền, không được nhận thưởng bằng tiền, ngày giao dịch không được hưởng quyền mua cổ phiếu mới trong đợt phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn hay trong ngày giao dịch không được hưởng phần phát thưởng bằng cổ phiếu, ngày không được hưởng cổ tức bằng cổ phiếu hoặc tổ hợp nào đó của các yếu tố trên.

Điểm qua một số thông tin liên quan, chúng ta thấy việc phát hành thêm cổ phiếu để huy động thêm vốn phát triển sản xuất của Công ty cổ phần (CtyCP) giấy Hải phòng (Haphaco). Công ty này đã phát hành tăng vốn lên gấp đôi, từ hơn 10 tỷ lên hơn 20 tỷ để xây dựng một dây chuyền sản xuất giấy Craft. Và cứ mỗi cổ phiếu sở hữu nhận được một quyền mua một cổ phiếu trong đợt phát hành mới. Tại đây đã xuất hiện nhu cầu về định giá chứng khoán phái sinh là quyền mua cổ phiếu và làm cơ sở để định giá bán cổ phiếu cho người có quyền. Trong thời gian đó, giá cổ phiếu Haphaco đang ở mức cao trên 60-70 ngàn đồng/cổ phiếu và thị trường đang có xu hướng suy giảm. Công ty Haphaco đã xác định giá bán cho người có quyền là 50, sau đó là 40 và cuối cùng là 32 ngàn đồng/cổ phiếu trong đợt phát hành mới khi giá cổ phiếu này trên thị trường giảm xuống trên dưới 50 ngàn đồng. Và trên thực tế đã xuất hiện ngày giao dịch không hưởng quyền mua cổ phiếu này và TTGDCK Tp. HCM đã điều chỉnh giá tham chiếu.

          Ngoài ra, đối với những công ty niêm yết (CtyNY) khác, đã có một số công ty phát hành thêm cổ phiếu để thưởng hay cổ phiếu dùng để trả cổ tức như CtyCP Xuất nhập khẩu Bình Thạnh, CtyCP Giao nhận kho vận ngoại thương, CtyCP nước giải khát Sài gòn, CtyCP cáp và vật liệu viễn thông…Vì vậy, việc định giá tham chiếu của cổ phiếu trong ngày giao dịch không có thưởng, không hưởng cổ tức bằng cổ phiếu cũng đã được TTGDCK Tp. HCM tính toán và thông báo…

Đọc tiếp »

Đặt vấn đề
Chủ đề về cơ cấu vốn tối ưu là đề tài của nhiều nghiên cứu. Các nghiên cứu cho rằng, các doanh nghiệp hoạt động có lãi thường sử dụng ít nợ vay hơn các doanh nghiệp có lãi ít hơn.

Các nghiên cứu cũng cho thấy các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao cũng có tỷ lệ nợ/Vốn chủ sở hữu cao. Chi phí phá sản (đại diện bởi quy mô của doanh nghiệp) cũng tác động đến cơ cấu vốn (Krause và Litzenberger, 1973; Harris và Ravis, 1991). Các nhân tố tác động đến cơ cấu vốn cũng tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Cơ cấu vốn tối ưu là
cơ cấu vốn mà tại đó giá trị công ty là lớn nhất, hay nói cách khác là chi phí tài chính là nhỏ nhất và do vậy cũng làm tối đa hóa doanh thu của doanh nghiệp. Nếu cơ cấu vốn tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, thì cơ cấu vốn cũng sẽ tác động đến sức khỏe tài chính cũng như khả năng phá sản của doanh nghiệp. Từ góc độ của chủ nợ thì tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu giúp ích cho việc hiểu được chiến lược quản lý rủi ro của ngân hàng và bằng cách nào ngân hàng xác định được khả năng phá sản liên quan đến các doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính. Tóm lại, chủ đề về cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp rất quan trọng đối với các nhà nghiên cứu cũng như những người làm thực tế.
Khái niệm về hiệu quả hoạt động là một chủ đề gây tranh cãi trong tài chính bởi do ý nghĩa rộng lớn của nó. Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp xuất phát từ lý thuyết tổ chức và quản trị chiến lược (Murphy, 1996). Hiệu quả hoạt động đo lường trên cả phương diện tài chính và tổ chức. Hiệu quả hoạt động tài chính như
tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên tài sản, và tối đa hóa lợi ích của cổ đông là vấn đề cốt lõi của tính hiệu quả của doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động được đo lường bằng tốc độ tăng trưởng doanh thu và thị phần, cho một định nghĩa rộng hơn về hiệu quả hoạt động.

Việc đo lường hiệu quả hoạt động có thể bị tác động bởi mục tiêu của công ty mà mục tiêu này có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách đo lường hiệu quả hoạt động của công ty và sự phát triển của thị trường chứng khoán và thị trường vốn. Ví dụ, nếu thị trường chứng khoán không phát triển cao thì đo lường hiệu quả hoạt động theo thị trường sẽ không cho kết quả tốt. Các biến đại diện cho hiệu quả hoạt động phổ biến là ROA và ROE hay lợi nhuận trên đầu tư ROI. Những đo lường hiệu quả hoạt động theo kế toán này đại diện cho các chỉ số tài chính thu được từ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng (Demsetz và Lahn, 1985; Gorton và Rosen, 1995; Mehran, 1995; Ang, Cole và Line, 2000).
Ngoài ra, còn có các đo lường hiệu quả hoạt động khác được gọi là đo lường hiệu quả hoạt động thị trường, như là giá mỗi cổ phần trên thu nhập mỗi cổ phần (P/E), tỷ số giá thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu (MBVR), và chỉ số Tobin’s Q. Hiệu quả hoạt động đo lường bằng ROA và ROE thường được sử dụng nhiều nhất.

Đọc tiếp »

HOÀNG XUÂN

Ngay cả khi thị trường UpCOM được vận hành thì các chuyên gia chứng khoán khẳng định rằng cũng không thể xóa hết được những chợ giao dịch cổ phiếu hiện nay.

Dù ẩn chứa nhiều rủi ro nhưng sức sống mãnh liệt của những chợ cổ phiếu OTC tự phát là không thể phủ nhận được.
Trong khi đó, một sàn giao dịch chính thức cho OTC tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội – dự kiến tháng 6/2009 sẽ đi vào hoạt động – lại không nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của các doanh nghiệp cũng như giới đầu tư.
Làm thế nào để quản lý những giao dịch OTC, đảm bảo sự minh bạch và an toàn cho thị trường? Đó là vấn đề đang làm đau đầu các nhà quản lý thị trường.
Tại các sàn giao dịch OTC hiện nay, bên cạnh tính ưu việt như: phương thức giao dịch linh hoạt, thì tiềm ẩn rủi ro rất lớn, như việc người tham gia không kiểm chứng được thông tin, và cuộc chơi chỉ dựa trên niềm tin là chính.  
Giao dịch OTC tại công ty chứng khoán
Trước nhu cầu gia tăng đột biến, gần đây, một số công ty chứng khoán đã tỏ ra khá mạnh dạn trong việc phát triển dịch vụ OTC.
So với các phòng môi giới OTC ở phần nhiều các công ty chứng khoán (chủ yếu chuyên làm dịch vụ quản lý sổ cổ đông cho các công ty đại chúng), một số công ty chứng khoán khác đã tổ chức thành sàn giao dịch OTC ngay tại trụ sở với đầy đủ trang thiết bị cần có như bảng điện tử, lệnh mua lệnh bán….
Gần đây nhất, Công ty Chứng khoán Phố Wall đã công bố khai trương sàn giao dịch OTC nhằm giúp cho người mua và người bán có thể tìm đến nhau một cách nhanh chóng hơn, qua đó, khắc phục việc rủi ro trong thanh toán khi các đầu tư thực hiện mua bán không qua tổ chức trung gian chuyên nghiệp.

Đọc tiếp »

DUY CƯỜNG

Đến lúc này, nhiều nhà đầu tư cá nhân vẫn còn thắc mắc: tại sao vừa qua có thời điểm khối lượng giao dịch hai sàn lên đến hơn 100 triệu đơn vị và giá trị giao dịch lên hơn 2.000 tỷ đồng/phiên?
Hay trong một phiên giao dịch, khối lượng khớp lệnh thành công của STB, SSI, KLS, ACB… lại tăng bất thường lên hơn 5 triệu, thậm chí 13 triệu đơn vị, cùng đó là lượng dư mua bán cũng trở nên bất thường.
Bên cạnh đó, hai chỉ số chứng khoán tăng vọt và ngay cả cổ phiếu OTC khối ngân hàng cũng có những bước tiến “không biên độ”.
Đáng chú ý, ngay sau phiên lên trần biên độ với khối lượng giao dịch thành công lớn, người ta lại có thể tăng bán một cách “không thương tiếc” cổ phiếu mà mình vừa “kỳ vọng” ngày hôm qua, mặc dù về cơ bản tình hình không có gì thay đổi so với phiên trước đó.
Hiện tượng này, nếu thử nhìn sâu hơn, có thể sẽ thấy một diễn biến khác.
Trong bản báo cáo ra vào ngày 20/3/2009, Khối phân tích và Tư vấn đầu tư của Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI cho rằng: “Thị trường lên điểm lần này không phải được hỗ trợ từ những thông tin về kinh tế vĩ mô mà được ghi nhận là do luồng tiền trong nước đổ mạnh vào thị trường trong hai tuần qua. Theo đánh giá của chúng tôi, luồng tiền chủ yếu mang tính chất đầu cơ giá lên do cách đẩy lệnh mua trần ở nhiều mã cổ phiếu bắt đầu từ những cổ phiếu có giá trị vốn hoá nhỏ và thị giá thấp sau đó quay sang blue-chip”.
Quá trình tăng/giảm của VN-Index cơ bản được đóng góp từ sự lên giá hay giảm giá của cổ phiếu khối blue-chip tại hai sàn giao dịch. Nên việc “làm giá” cũng sẽ được tập trung vào khối này.
Rõ ràng, người dẫn dắt thị trường không thể do nhà đầu tư các nhân nhỏ lẻ tạo nên được. Bởi hàng nghìn lệnh đặt của nhà đầu tư cá nhân khó có thể thể bằng với vài lệnh của nhà đầu tư tổ chức.

Đọc tiếp »

PHAN LONG (ĐH Monashm – Australia)

Phát hành trái phiếu ra công chúng thực sự là một kênh huy động vốn hiệu quả, tiết kiệm, chi phí phát hành đối với các DN tại các nước có thị trường vốn phát triển như Anh, Mỹ. Nhiều công ty cổ phần Việt Nam hiện đang huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán nhưng chủ yếu bằng cách phát hành chứng khoán ra công chúng mà chưa coi trọng đúng mức việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, ngoại trừ một số ngân hàng phát hành trái phiếu chuyển đổi.

Phát hành trái phiếu ra công chúng thực sự là một kênh huy động vốn hiệu quả, tiết kiệm, chi phí phát hành đối với các DN tại các nước có thị trường vốn phát triển như Anh, Mỹ. Nhiều công ty cổ phần Việt Nam hiện đang huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán nhưng chủ yếu bằng cách phát hành chứng khoán ra công chúng mà chưa coi trọng đúng mức việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, ngoại trừ một số ngân hàng phát hành trái phiếu chuyển đổi.

Trái phiếu và các thuật ngữ

Trái phiếu (bond) là chứng chỉ do Chính phủ hoặc DN (Người vay hay người phát hành) phát hành nhằm huy động vốn vay. Theo đó, người phát hành có trách nhiệm phải trả cho người sở hữu trái phiếu (người cho vay hay trái chủ) một số tiền nhất định vào thời điểm xác định trước.

Tiền gốc (principle) hay mệnh giá trái phiếu và số tiền thanh toán cho người sở hữu trái phiếu tại thời điểm đáo hạn của trái phiếu. Số tiền gốc được ghi cụ thể trên mỗi trái phiếu. Do đó, giá trị số tiền gốc còn được gọi là giá trị đáo hạn (maturity value) của trái phiếu. Ví dụ: tiền gốc của mỗi trái phiếu do chính phủ Mỹ phát hành thường là 1.000 USD

Tiền lãi danh nghĩa (côupn) là số tiền lãi thực thanh toán định kỳ cho người sở hữu trái phiếu. Thông thường, khoản tiền lãi này được trả theo từng năm hoặc được trả 06 tháng một lần (như tại Mỹ). Để đơn giản hoá, bài viết này dựa trên giả định tiền lãi được trả định kỳ theo năm.

Lãi suất danh nghĩa là tỷ lệ giữa tiền lãi danh nghĩa theo năm và tiền gốc. Lãi suất danh nghĩa được ghi cụ thể trên trái phiếu.

Lãi suất tới hạn (Yield to matyrity) là lãi suất, theo đó, giá trị hiện tại của toàn bộ khác khoản tiền phải thanh toán trong trường hợp trái chủ nắm giữ trái phiếu đến khi đáo hạn, bao gồm tiền lãi và tiền gốc, bằng với giá mua trái phiếu. Lãi suất tới hạn thông thường bằng với lãi suất bình quân của thị trường.

Đọc tiếp »

ThS. LÊ VĂN HINH

(ĐTCK) Thực tế cho thấy, khi công cụ tài chính phát triển thì hành vi gian lận dựa vào công cụ tài chính cũng ngày càng phổ biến. Tại Mỹ, nơi TTCK có lịch sử hàng trăm năm đã nổi lên vụ Bernard Madoff và Allen Stanford, cho thấy gian lận trên TTCK là vấn đề đáng quan tâm. Tại Việt Nam, hiện Quốc hội đang xem xét bổ sung một số tội danh trong lĩnh vực chứng khoán vào Bộ luật Hình sự. Điều đó có nghĩa là các tội danh chứng khoán ở Việt Nam dường như chưa được nhận diện và vấn đề đặt ra là nên hình sự hoá hay đơn giản hoá?

Nhận diện tội danh chứng khoán: thách thức lớn

Trên thực tế, không hề dễ dàng nhận diện được hành vi lừa đảo trên TTCK hay thị trường tài chính nói chung. Các nhà tài phiệt ở lĩnh vực này sử dụng công cụ tài chính để thực hiện ý đồ của mình nhằm chiếm đoạt tài sản từ cộng đồng NĐT. Tại Mỹ, gần đây người ta phát hiện ra các hành vi lừa đảo tài chính đã tồn tại hàng chục năm qua, điển hình là vụ Bernard Madoff.

Theo một chuyên gia cao cấp của CTCP Quản lý quỹ đầu tư Sài Gòn – Hà Nội (SHF), trên thị trường tài chính, có rất nhiều mô hình lừa đảo tài chính và các biến thể của nó, phổ biến nhất là mô hình pyramid scheme/ponzy scheme hay còn gọi là mô hình xây tháp ngược tài chính.

Xây tháp ngược tài chính là mô hình khá cổ điển. Theo mô hình này, kẻ lừa đảo dựng lên hình ảnh tốt đẹp về mình như: có tiềm lực tài chính, có năng lực quản lý… và đưa ra một chương trình với lợi ích mang lại rất hấp dẫn (lãi suất, lợi nhuận rất cao…), qua đó huy động tiền của giới đầu tư. Để vận hành chương trình, kẻ chủ mưu lấy tiền của NĐT sau trả lãi cho NĐT trước. Cứ như thế mà tạo ra sự tăng tốc về số người tham gia vào cuộc chơi. Lượng người bị cuốn vào cuộc chơi tăng rất nhanh và số tiền cũng tăng lên như núi (tháp ngược). Khi số tiền rất lớn, kẻ chủ mưu tìm cách bỏ cuộc chơi và rút tiền (bỏ trốn, tuyên bố phá sản…). Và hậu quả là cộng đồng NĐT đến sau sẽ lĩnh đủ.

Ngoài hình thức lừa đảo theo mô hình cổ điển, biến thể của mô hình lừa đảo này là rất đa dạng trên nhiều thị trường: chứng khoán, tiền tệ, hàng hoá… Hình thức điển hình của các biến thể này trên TTCK như: đưa thông tin sai lệch (che dấu thông tin, lập báo cáo khống về lợi nhuận), kích giá chứng khoán (thao túng giá) và trục lợi từ quá trình này (phát hành thêm chứng khoán…). Hình thức biến thể so với mô hình cổ điển thì lại càng khó nhận diện.

Đọc tiếp »

LÊ HƯỜNG

Hiệp hội kinh doanh chứng khoán cho biết, khoảng 70-80% các công ty chứng khoán đang hoạt động cầm chừng. Như vậy, chuyện phá sản của nhiều công ty chứng khoán là điều hoàn toàn có thể xảy ra trong thời gian tới.
Chính phủ đã ban hành Nghị định 114/2008/NĐ-CP để hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, khung pháp lý như vậy chưa đủ để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.
Nhà đầu tư là ai khi công ty chứng khoán phá sản?
Luật phá sản hiện hành và Nghị định 114 không xem xét các nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá sản của công ty chứng khoán cũng như xác định nguyên nhân công ty chứng khoán làm thất thoát tài sản là chứng khoán và tiền của nhà đầu tư.
Việc bị thất thoát tài sản này có thể là hậu quả của nhiều nguyên nhân. Việc làm rõ các nguyên nhân này là do các cơ quan có thẩm quyền khác ngoài Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán xem xét và xử lý theo các quy định của các luật chuyên ngành khác.
Trong trường hợp này, tuỳ thuộc vào yếu tố lỗi cố ý hay vô ý của công ty chứng khoán mà người quản lý và/hoặc nhân viên của công ty chứng khoán có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các hành vi phạm tội tương ứng.
Luật phá sản 2004 và Nghị định 114 chỉ đưa ra biện pháp để thực hiện thủ tục phá sản công ty chứng khoán nhằm mục đích giải quyết quyền lợi của chủ nợ.

Đọc tiếp »

MINH ĐỨC

Vẫn là câu hỏi có nên điều chỉnh các quy định công bố thông tin hiện hành, có tăng cường sự chấn chỉnh và chế tài xử phạt, hay để tiền lệ nối dài tiền lệ?

“Đừng đề cập đến câu chuyện báo cáo tài chính của BBT nữa. Như thế chỉ xát thêm muối vào lòng cổ đông…”.
Đó là nội dung phản hồi của một bạn đọc gửi về VnEconomy trước thông tin về trường hợp của Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết (mã BBT, sàn HOSE) trong năm 2008.
Nhưng câu chuyện soát xét, công bố báo cáo tài chính, công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết vẫn luôn mới cho đến thời điểm này. Và trước thềm hạn nộp báo cáo thường niên năm 2008 (ngày 10/4/2009), tại hội nghị các công ty niêm yết tổ chức tại Hà Nội sáng 8/4, câu chuyện này lại tiếp tục là một điểm nóng với những dữ liệu mới, định hướng xử lý mới.
Tiền lệ nối tiếp tiền lệ
Hội nghị các công ty niêm yết năm nay diễn ra không mấy sôi động, có lẽ phản ánh một phần không khí của thị trường sau một thời gian dài suy giảm. Nhưng không vì thế mà câu chuyện công bố báo cáo tài chính bớt nhạt. Nó được đề cập gần như đầu tiên và xuyên suốt từ gợi mở của đại diện Ủy ban Chứng khoán cho đến nội dung trao đổi của hội nghị.
Sau một năm đầu tư tài chính khó khăn, vấn đề đầu tiên được đề cập đến là một số bất cập trong các khoản trích lập dự phòng đầu tư tài chính dẫn đến những xáo trộn trong báo cáo của một số doanh nghiệp niêm yết. Vấn đề không quá mới, nhưng lợi ích của cổ đông, nhà đầu tư bị ảnh hưởng luôn mới. Và đó có phải là một phần lý do khiến một tiền lệ lại nối tiếp phổ biến: xin hoãn hoặc chậm nộp báo cáo tài chính.

Đọc tiếp »

HOÀNG VŨ

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước có kết luận, Vinaland chính thức thông báo ngừng phát hành “Chứng chỉ quỹ tiết kiệm nhà ở”.
Ngày 30/3, Công ty Cổ phần Đầu tư Bất động sản Viên Nam (Vinaland) chính thức có thông cáo về việc ngừng phát hành chứng chỉ quỹ tiết kiệm nhà ở mà công ty này triển khai để huy động vốn cho dự án căn hộ tại quận 7, Tp.HCM, và một số thông tin liên quan.
Một phát kiến quá mới
Trước đó, kế hoạch phát hành của Vinaland đã thu hút sự chú ý của thị trường, do lần đầu tiên có loại “chứng chỉ quỹ tiết kiệm nhà ở”, do một công ty bất động sản tự phát hành để huy động vốn. Với nhiều người dân, sự chú ý đó còn có ở tính hấp dẫn mà mô hình công ty này đưa ra.
Cụ thể, bằng chứng chỉ quỹ tiết kiệm nhà ở, người dân chưa đủ khả năng tài chính hiện tại có nhu cầu có thể sở hữu một căn hộ cao cấp thông qua hình thức gửi góp mỗi tháng. Về mục đích, đây là một sản phẩm cần cho nhiều người dân, là một giải pháp huy động vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, về cơ sở pháp lý, loại chứng chỉ này còn có nhiều ý kiến khác nhau…

Đọc tiếp »

TRẦN ĐỨC NAM

Nhằm đối phó với tình trạng ”đẩy lỗ” vào cuối năm của các doanh nghiệp, dự thảo Thông tư hướng dẫn công bố thông tin trên TTCK do Ủy ban Chứng khoán công bố đã đưa ra quy định báo cáo tài chính quý của các công ty niêm yết phải được soát xét bởi kiểm toán viên, đồng thời báo cáo của kiểm toán viên phải được công bố cùng với báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Mục đích của quy định này rất rõ ràng: nâng cao chất lượng thông tin cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, liệu quy định này có thực sự mang lại hiệu quả mong muốn hay không thì chưa thể khẳng định. Bài viết này sẽ phân tích một số điểm cần cân nhắc kỹ trước khi đưa quy định soát xét báo cáo tài chính quý vào thực hiện.

Chế độ kế toán chỉ là điều kiện cần

Phản ứng của UBCKNN cho thấy dường như chúng ta đang quá chú trọng đến các vấn đề kỹ thuật kế toán và báo cáo tài chính, trong khi đó không thực sự là mấu chốt của vấn đề. Một hệ thống chế độ kế toán chất lượng cao chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để bảo đảm một môi trường thông tin minh bạch. Các nghiên cứu kế toán trên phạm vi quốc tế cho thấy một chế độ kế toán chất lượng cao (ví dụ như chuấn mực kế toán quốc tế) sẽ chỉ phát huy tác dụng khi áp dụng ở một quốc gia với hạ tầng pháp lý đủ mạnh để bảo đảm việc thực thi hệ thống kế toán đó. Ngược lại, nếu hạ tầng pháp lý yếu kém thì hệ thống kế toán chất lượng cao không đủ để tạo ra sự khác biệt. Đọc tiếp »

Một số giám đốc ngân hàng Mỹ đã cảnh báo rằng Washington đang buộc họ hướng tới một lựa chọn thảm họa: chấp nhận những giới hạn đối với các khoản tiền thưởng hoặc trả lại hàng tỷ đôla tiền cứu trợ của liên bang mà họ đã nhận.

Lựa chọn thứ nhất có thể hạn chế khả năng cạnh tranh của các ngân hàng với các đối thủ trong khi lựa chọn thứ hai có thể cản trở hoạt động cho vay tiền và gây tổn hại cho nền kinh tế Mỹ.

Những lập luận trái ngược

“Tất cả chúng ta sẽ mất mát do việc này”, giám đốc của một ngân hàng lớn đã nhận tiền cứu trợ của liên bang nói. Ông và các giám đốc khác đã rất sốc trước sự tiến triển nhanh của dự luật đánh thuế tiền thưởng. Theo họ, dự luật này có thể buộc các ngân hàng cắt giảm lớn đối với tiền lương của hàng nghìn nhân viên và phó mặc ngành ngân hàng cho một quốc hội đang sôi lên vì giận.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Mười Một 2017
H B T N S B C
« Th9    
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,782,257 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • “Sức khỏe” ngành ngân hàng đã cải thiện? 19/11/2017
    (TBKTSG) - Ngày 31-10-2017, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s đã nâng mức đánh giá triển vọng của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ “ổn định” lên “tích cực”. Trước đó, vào tháng 12-2014, Moody’s đã nâng triển vọng của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ “tiêu cực” lên “ổn định”.  Số liệu thống kê gần nhất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng cho thấy sự cải thiện đán […]
  • 2017 - năm thoái vốn thành công của SCIC 18/11/2017
    (TBKTSG) - Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ( SCIC ) vừa công bố lịch trình thoái vốn tại Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu y tế Domesco (DMC - Hose); Tổng công ty cổ phần Xây dựng và Xuất nhập khẩu Việt Nam (VCG - Hnx); Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh (BMP - Hose); Công ty cổ phần Nhựa Tiền Phong (NTP - Hnx); Công ty cổ phần FPT (FPT - Hose). Tron […]
  • SCIC kỳ vọng thu thêm 8.000 tỉ đồng từ thoái vốn 17/11/2017
    (TBKTSG Online) – Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) tự tin sẽ thoái vốn thành công tại 5 doanh nghiệp vào tháng 12 tới và kỳ vọng thu về khoảng 8.000 tỉ đồng từ hoạt động này.
  • Dự trữ ngoại hối tăng lên 46 tỉ đô la Mỹ 17/11/2017
    (TBKTSG Online) - “Nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng đến cuối tháng 9-2017 khoảng 566 ngàn tỉ đồng, tức là giảm hơn so với con số 600 ngàn tỉ đồng vào cuối năm 2016”, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng trả lời đại biểu Quốc hội.
  • NHNN: không tăng trưởng tín dụng bằng mọi giá 17/11/2017
    (TBKTSG Online) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng cho biết tăng trưởng tín dụng 21% không phải mục tiêu bắt buộc của Chính phủ, và Ngân hàng Nhà nước không yêu cầu các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng bằng mọi giá.
  • Thanh khoản tăng mạnh 16/11/2017
    (TBKTSG Online) - Thị trường mở cửa phiên giao dịch với sắc xanh trên diện rộng nhờ sự đóng góp của một số mã như VNM, FPT, PVD, KDC, VCB, PLC… Về cuối phiên sáng, nhóm cổ phiếu trụ cột tiếp tục tăng mạnh tạo động lực cho thị trường. Tạm dừng phiên sáng, VN-Index tăng 5,62 điểm (+0,63%) lên 888,21 điểm và HNX-Index tăng 0,49 điểm (+0,45%) lên 107,97 điểm. […]
  • Thách thức cho công ty chứng khoán có vốn ngoại 16/11/2017
    (TBKTSG) - Dù có ưu thế về vốn và kinh nghiệm nhưng để tạo được đột phá trên một thị trường mà những đối thủ “nội” đã xác lập được vị trí vững chắc là điều không dễ dàng cho các công ty chứng khoán (CTCK) có vốn ngoại.
  • SCIC tiếp tục bán cổ phần tại bốn doanh nghiệp 15/11/2017
    (TBKTSG Online) - Sau thành công của thương vụ bán 3,33% vốn ở Vinamilk thu về gần 9.000 tỉ đồng, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) tiếp tục triển khai việc bán cổ phần bốn doanh nghiệp khác vào tháng 12 để thu tiền về cho Nhà nước.
  • Cổ phiếu vốn hóa lớn phân hóa mạnh 15/11/2017
    (TBKTSG Online) - Thị trường mở cửa phiên giao dịch với sự điều chỉnh của nhiều cổ phiếu lớn như VNM, VRE, đặc biệt là nhóm dầu khí gồm GAS, PVD, PVS, PVC… Cuối phiên sáng, thị trường nhích lên trên mốc tham chiếu nhờ nhóm cổ phiếu lớn thu hẹp đà giảm. Tạm dừng phiên sáng, VN-Index tăng nhẹ 0,51 điểm (+0,06%) lên 881,41 điểm và HNX-Index tăng 0,05 điểm (+0,0 […]
  • Chào giá cạnh tranh khi bán tiếp cổ phần Sabeco 15/11/2017
    (TBKTSG Online) - Bộ Công Thương vẫn chưa công bố số lượng cổ phần chào bán tại Tổng công ty Rượu bia nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) mà mới chỉ công bố phương thức kinh doanh là chào giá cạnh tranh.