KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Năm 2014, Kiểm toán Nhà nước đã tiến hành kiểm toán tại 190 đầu mối[1] và kiểm toán Báo cáo quyết toán NSNN năm 2013 tại Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Căn cứ Điều 58 Luật Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán Nhà nước trân trọng công bố một số nội dung chủ yếu từ kết quả kiểm toán năm 2014 như sau:

A. KẾT QUẢ KIỂM TOÁN QUYẾT TOÁN NSNN NĂM 2013

Năm 2013, kinh tế trong nước tiếp tục gặp nhiều khó khăn, song với sự chỉ đạo quyết liệt của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương và sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân nên những khó khăn đang từng bước được khắc phục, nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực; thu ngân sách vượt 1,5% dự toán, trong đó một số khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN như thu từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu từ khu vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngoài quốc doanh có xu hướng tăng; các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã triển khai phân bổ và giao kế hoạch vốn đầu tư năm 2013 cho các đơn vị cơ bản theo đúng Nghị quyết của Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; việc sử dụng nguồn tăng bội chi, giảm chi NSTW và dự phòng ngân sách cơ bản phù hợp quy định; tổng chi chuyển nguồn và chuyển nguồn của những nhiệm vụ chậm triển khai đều giảm cả về số tuyệt đối và tương đối so với năm 2012, tình trạng sử dụng kinh phí NSNN chưa phù hợp với tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước tại các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã dần được khắc phục[2], các đơn vị đã triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, tuân thủ Luật NSNN, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Phòng, Chống tham nhũng…, song qua kết quả kiểm toán, bên cạnh những mặt chuyển biến tích cực vẫn còn nổi lên một số vấn đề:

1. Về lập và giao dự toán

– Dự toán thu trung ương giao chưa đảm bảo mức tăng bình quân tối thiểu 14-16% theo định hướng, tuy dự toán được lập trên cơ sở ước thực hiện dự toán năm 2012 cao hơn thực hiện thực tế; một số bộ, cơ quan trung ương, địa phương lập và giao dự toán thu năm 2013 chưa sát thực tế.

Tại các đơn vị được kiểm toán còn tình trạng: Chưa bố trí kế hoạch vốn để thu hồi các khoản ứng trước; chưa phân bổ, phân khai chi tiết kế hoạch vốn ngay từ đầu năm; điều chỉnh kế hoạch vốn sau thời gian quy định; phân bổ vốn thấp hơn quy định hoặc thấp hơn dự toán trung ương giao; bố trí vốn cho các dự án khởi công mới không phải công trình cấp bách, chưa đủ điều kiện bố trí vốn; bố trí vốn sai nội dung nguồn kinh phí, không tuân thủ thứ tự ưu tiên, thiếu căn cứ, không sát với thực tế; chưa bố trí đủ dự toán để trả các khoản nợ vay đến hạn; bố trí vốn cho các dự án nhóm B quá 05 năm, nhóm C quá 03 năm; điều chỉnh, bổ sung kế hoạch vốn trong năm không thông qua HĐND tỉnh.

Ngoài ra, qua rà soát Quyết định số 1756/QĐ-BKHĐT ngày 20/12/2012 của Bộ trưởng Bộ KH&ĐT về việc giao chi tiết kế hoạch đầu tư phát triển nguồn NSNN năm 2013 cho thấy: (i) Bố trí NSTW cho một số dự án còn sai sót[3]; (ii) Bố trí vốn cho một số dự án cấp bách theo ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước nhưng Bộ KH&ĐT chưa chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính làm việc với các bộ, cơ quan trung ương, địa phương để đề xuất và báo cáo Thủ tướng Chính phủ; (iii) Bố trí vốn cho một số dự án thông tin chưa đầy đủ và còn sai lệch.

– Dự toán chi thường xuyên vẫn lặp lại các sai sót đã được phát hiện trong những năm trước như: Dự toán của một số bộ, cơ quan trung ương lập cao hơn số kiểm tra của Bộ Tài chính, chưa sát thực tế; giao dự toán chưa phù hợp quy định. Một số địa phương lập dự toán thiếu cơ sở, giao dự toán chưa tuân thủ định mức phân bổ của HĐND tỉnh, chưa tính trừ tiết kiệm chi thường xuyên thực hiện cải cách tiền lương theo quy định; giao chỉ tiêu biên chế cao hơn chỉ tiêu do Bộ Nội vụ giao… Tình trạng giao dự toán chậm so với thời gian quy định, giao không hết lần đầu, phải điều chỉnh nhiều lần trong năm tiếp tục diễn ra phổ biến ở các bộ, cơ quan trung ương và địa phương được kiểm toán.

Ngoài ra, Bộ Tài chính giao dự toán bổ sung 11.160 tỷ đồng nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm 2012, 2013 cho 43 địa phương nhưng không yêu cầu các địa phương lập báo cáo xác định nguồn và nhu cầu cải cách tiền lương để thẩm tra trước khi bổ sung dự toán, dẫn đến một số địa phương được bổ sung dự toán thừa so với nhu cầu 3.305 tỷ đồng phải chuyển nguồn sang năm sau.

2. Về chấp hành ngân sách

2.1. Về quản lý thu NSNN:

(i) Việc hạch toán và kê khai thiếu doanh thu, xác định sai chi phí tính thuế, từ đó tính thiếu thuế GTGT và thuế TNDN phải nộp, lợi nhuận còn lại phải nộp NSNN… vẫn diễn ra tại các doanh nghiệp, đơn vị được kiểm toán; tình trạng thất thu về thuế, phí, lệ phí và thu khác NSNN tại các đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc bộ, cơ quan trung ương, địa phương chưa khắc phục được nhiều… qua kiểm toán, KTNN xác định các khoản phải nộp NSNN tăng thêm 3.284,5 tỷ đồng[4]; (ii) Việc thực hiện quy định về phí, lệ phí tại các cơ sở đào tạo, khám chữa bệnh công lập chưa có chuyển biến tích cực như: Thu vượt học phí, viện phí, các khoản lệ phí và thu một số khoản chưa có trong quy định; chưa nộp kịp thời hoặc chưa đầy đủ vào KBNN các khoản phí, lệ phí đã thu; (iii) Công tác quản lý thuế còn hạn chế, nợ thuế do ngành Thuế và Hải quan quản lý tăng so với năm trước…

2.2. Về quản lý chi NSNN

(i) Chi ĐTPT: Mặc dù chủ trương[5] hạn chế tối đa việc ứng trước nhưng Chính phủ vẫn cho ứng trước kế hoạch vốn 13.142,2 tỷ đồng, dẫn đến số vốn ứng trước dự toán còn phải thu đến hết năm 2013 là 64.465,1 tỷ đồng, trong khi số thu hồi vốn ứng trước năm 2013 chỉ là 7.210,6 tỷ đồng; 11/35 địa phương được kiểm toán còn tình trạng dư nợ vay vượt mức quy định của Luật NSNN; nợ đọng XDCB đến 31/12/2013 theo báo cáo của Chính phủ là 57.977,3 tỷ đồng[6] (tăng 11.401 tỷ đồng so với năm 2012), bằng 33% kế hoạch vốn năm 2013, trong đó một số bộ, cơ quan trung ương và địa phương có số nợ đọng trên 1.000 tỷ đồng; nhiều dự án hoàn thành nhưng chậm nộp báo cáo quyết toán hoặc đã nộp báo cáo quyết toán nhưng chậm phê duyệt quyết toán; hầu hết các sai sót trong chấp hành trình tự đầu tư tại nhiều dự án chưa được khắc phục như: Phải phê duyệt điều chỉnh quy mô, tăng tổng mức đầu tư so với quyết định ban đầu; chất lượng khảo sát, thiết kế chưa đảm bảo; còn sai sót trong đấu thầu; công tác quản lý chất lượng công trình đối với một số dự án chưa được thực hiện nghiêm túc; nghiệm thu sai khối lượng, chủng loại, đơn giá, không đúng thực tế thi công và nghiệm thu khi chưa đảm bảo đầy đủ hồ sơ, thủ tục; thanh toán vượt giá trị quyết toán…

(ii) Chi Thường xuyên: Một số địa phương hụt thu nhưng không rà soát, cắt giảm nhiệm vụ chi theo quy định; chưa quán triệt, thực hiện tốt chủ trương thực hành tiết kiệm trong mua sắm tài sản; 05/35 tỉnh chi quản lý hành chính, Đảng đoàn thể có mức vượt trên 30%; tình trạng sử dụng sai nguồn kinh phí xảy ra ở nhiều địa phương được kiểm toán, KTNN kiến nghị 27/35 địa phương được kiểm toán bố trí hoàn trả nguồn 1.294 tỷ đồng; một số địa phương sử dụng sai nguồn kinh phí và không còn kết dư ngân sách, dẫn đến một số nhiệm vụ chi theo quy định được chuyển nguồn nhưng thực chất không có nguồn đảm bảo để chuyển nguồn; 09/35 địa phương chi hỗ trợ không đúng nhiệm vụ chi 143,86 tỷ đồng; 14/35 địa phương sử dụng dự phòng chưa đúng quy định. Tình trạng chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức còn xảy ra phổ biến tại hầu hết các bộ, cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được kiểm toán…

(iii) Hệ thống văn bản, chính sách hướng dẫn thực hiện các chương trình mục tiêu, dự án quốc gia chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ; công tác chỉ đạo điều hành, phối hợp thực hiện đối với một số chương trình còn hạn chế; bố trí vốn không sát thực tế; chưa huy động và lồng ghép các nguồn vốn theo quy định; chưa bố trí đủ vốn đối ứng; còn tình trạng chi không đúng định mức quy định; tỉ lệ giải ngân thấp; việc tổng hợp báo cáo tình hình thực hiện chương trình còn chưa đầy đủ, thường xuyên; một số mục tiêu của các chương trình đạt thấp; chưa phát huy hiệu quả.

(iv) Chi chuyển nguồn năm 2013 sang năm 2014 là 189.557 tỷ đồng (giảm 2.904 tỷ đồng so với năm 2012), bằng 14,8% tổng chi NSNN (năm 2012 là 16,4%); số chi chuyển nguồn do chậm triển khai nhiệm vụ giảm chưa nhiều (19.215 tỷ đồng so với 22.454 tỷ đồng); còn 12/35 địa phương số chuyển nguồn tăng so với năm trước; một số địa phương chuyển nguồn sai quy định. (v) Một số bộ, cơ quan trung ương và địa phương được kiểm toán chưa triển khai giao quyền tự chủ hoặc triển khai nhưng chưa triệt để; quy chế chi tiêu nội bộ được ban hành chưa bao quát hết nguồn thu, nhiệm vụ chi; chưa thực hiện rà soát, phân loại, đánh giá mức độ tự chủ của các đơn vị sự nghiệp sau mỗi giai đoạn; chưa phê duyệt hoặc chậm phê duyệt đề án kiện toàn tổ chức và hoạt động đối với các tổ chức khoa học công nghệ công lập; còn tình trạng bổ sung kinh phí ngoài kinh phí đã giao tự chủ; thực hiện cơ chế khoán chi và tự chủ tài chính nhưng chưa có tiêu chí lượng hóa để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ.

(vi) Một số bộ, cơ quan trung ương mua sắm, sửa chữa tài sản chưa tuân thủ quy định; một số địa phương còn xảy ra tình trạng mua xe ô tô vượt tiêu chuẩn hoặc trang bị xe ô tô vượt mức quy định; chưa ban hành quy chế quản lý và sử dụng tài sản công theo quy định; chưa hạch toán, theo dõi đầy đủ tài sản; sử dụng tài sản không đúng mục đích, chưa hiệu quả; công tác quản lý, sử dụng đất tại một số bộ, cơ quan trung ương và địa phương còn sai sót.

(vii) 28/35 địa phương được kiểm toán chưa trích đủ nguồn thực hiện cải cách tiền lương theo quy định 318 tỷ đồng, 18/35 địa phương còn sử dụng nguồn cải cách tiền lương để chi thường xuyên và một số nhiệm vụ khác… chưa đúng quy định 689,68 tỷ đồng. Ngoài ra, một số bộ, cơ quan trung ương và địa phương xác định, báo cáo chưa đầy đủ nguồn cải cách tiền lương được để lại từ nguồn thu học phí, viện phí và thu sự nghiệp khác, nguồn năm trước chuyển sang.

3. Về các cuộc kiểm toán chuyên đề

Bên cạnh những mặt đã làm được góp phần đạt mục tiêu đề ra, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực NSNN đầu tư cho các hoạt động, chuyên đề được kiểm toán, kết quả kiểm toán còn cho thấy:

– Một số hướng dẫn quản lý nguồn vốn TPCP ban hành chậm, chưa chặt chẽ; cơ chế phân bổ vốn TPCP còn bất cập, chưa hợp lý; tỷ lệ phát hành vốn TPCP có kỳ hạn ngắn (dưới 03 năm) chiếm tỷ trọng cao nên áp lực trả nợ lớn; một số bộ, cơ quan trung ương, địa phương xây dựng nhu cầu vốn năm 2013 chưa theo thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện nên tỷ lệ giải ngân thấp; đăng ký nhu cầu vốn cho dự án đã đình hoãn, giãn tiến độ, dự án không có nhu cầu, không có trong danh mục dự án được sử dụng vốn TPCP giai đoạn 2012-2015; xây dựng nhu cầu vốn cho phần tăng quy mô không đúng quy định; chưa ưu tiên xây dựng kế hoạch thu hồi vốn ứng trước…; công tác phân bổ, ứng trước, thanh toán vốn còn nhiều sai sót[7].

– CTMTQG Việc làm và Dạy nghề giai đoạn 2012-2013: một số địa phương chưa huy động và lồng ghép các nguồn vốn khác để thực hiện Chương trình; một số bộ, cơ quan trung ương và địa phương phân bổ vốn không đúng mục tiêu, quy định; việc tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn chưa gắn với nhu cầu thị trường lao động và thế mạnh của từng địa phương; việc hỗ trợ tín dụng tại một số địa phương còn nhiều hạn chế, mức hỗ trợ cho vay thấp, còn tình trạng sử dụng vốn vay sai mục đích; một số địa phương không thực hiện được dự án hỗ trợ lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nên phải điều chỉnh; hiệu suất khai thác, sử dụng trang thiết bị được đầu tư thấp, một số cơ sở dạy nghề được đầu tư nhưng không có học sinh theo học hoặc có tuyển sinh nhưng số lượng rất thấp…

– Công tác quản lý thu, chi Quỹ Bảo trì đường bộ tại trung ương và các địa phương còn sai sót, chưa đồng bộ; còn một số vướng mắc, bất cập về cơ chế, chính sách như: Đối tượng nộp phí chưa hợp lý; quy định về quản lý, bảo trì đường bộ chậm sửa đổi, không phù hợp thực tế; còn quy định chồng chéo nhiệm vụ của các cơ quan.

4. Về quyết toán thu, chi NSNN năm 2013[8]

KTNN thống nhất với báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội về tổng thu, chi NSNN, như sau: Thu cân đối NSNN 1.084.064 tỷ đồng; chi cân đối NSNN 1.277.710 tỷ đồng; bội chi NSNN 236.769 tỷ đồng, bằng 6,6% GDP (GDP năm 2013 là 3.584.262 tỷ đồng), tăng 1,3% so với Nghị quyết của Quốc hội.

5. Về quản lý nợ công

5.1. Theo Báo cáo của Bộ Tài chính, tổng dư nợ công đến 31/12/2013 theo Luật quản lý nợ công là 1.954.261 tỷ đồng[9], bằng 54,5% GDP, bao gồm: Nợ Chính phủ 1.528.131 tỷ đồng (nợ nước ngoài 763.198 tỷ đồng, nợ trong nước 764.933 tỷ đồng), chiếm 78,2%; nợ được Chính phủ bảo lãnh 396.114 tỷ đồng, chiếm 20,3%; nợ chính quyền địa phương 30.016 tỷ đồng, chiếm 1,5%. Dư nợ nước ngoài của quốc gia đến 31/12/2013 là 1.336.194 tỷ đồng.

Kết quả kiểm toán cho thấy: (i) Bộ Tài chính thống kê, tổng hợp số liệu nợ công chưa kịp thời, đầy đủ; còn báo cáo thừa, thiếu một số khoản vay, dẫn đến số liệu nợ công đến 31/12/2013 giảm 25,28 tỷ đồng so với số báo cáo tại Báo cáo về các chỉ tiêu giám sát nợ năm 2013[10]; (ii) Số liệu theo dõi nợ nước ngoài của Chính phủ tại hệ thống DMFAS còn sai sót, chưa đối chiếu đầy đủ với các chủ nợ.

5.2. Việc xây dựng, thẩm định và phê duyệt dự án không sát thực tế, đầu tư không đồng bộ, dự án triển khai chậm, phải điều chỉnh tổng mức đầu tư nhiều lần, sau đầu tư gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm; một số doanh nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm trong quản trị chi phí, rủi ro hối đoái, dòng tiền… dẫn đến sử dụng vốn vay chưa hiệu quả, một số dự án gặp khó khăn trong việc trả nợ, Quỹ tích lũy phải ứng trả nợ thay lớn và có nguy cơ biến thành nghĩa vụ trực tiếp của NSNN. Hầu hết các chủ dự án chỉ cam kết, chưa bố trí đủ mức vốn chủ sở hữu theo quy định; chưa báo cáo đầy đủ tiến độ góp vốn chủ sở hữu trong quá trình triển khai dự án; 38/38 dự án đã hoàn thành rút vốn và nghiệm thu quá 06 tháng đều chưa đăng ký tài sản đảm bảo… Trái phiếu được bảo lãnh Chính phủ phát hành có kỳ hạn ngắn (chủ yếu 02 năm, 03 năm và 05 năm), trong khi không ít dự án có thời gian cho vay kéo dài từ trên 05 năm đến 12 năm, dẫn đến rủi ro mất cân bằng kỳ hạn giữa huy động và cho vay, làm tăng hạn mức bảo lãnh phát hành trái phiếu để đảo nợ hoặc rủi ro nghĩa vụ nợ dự phòng do NSNN gánh chịu.

5.3. Việc quản lý nợ chính quyền địa phương chưa được kiểm soát chặt chẽ; chưa có chế tài xử lý đối với các trường hợp vi phạm quy định trong huy động vốn của chính quyền địa phương.

5.4. Việc quản lý, sử dụng Quỹ Tích lũy trả nợ nước ngoài chưa được theo dõi chặt chẽ; Thông tư 29/2013/TT-BTC ngày 15/3/2013 của Bộ Tài chính quy định việc quản lý, sử dụng số tiền thu được từ phí cho vay lại và phí bảo lãnh được trích tại Bộ Tài chính giai đoạn 2012-2015 có một số điểm chưa phù hợp với Quyết định 46/2012/QĐ-TTg ngày 29/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ.

B. KẾT QUẢ KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG

1. Công tác cấp phép và quản lý nhà nước đối với các cơ sở khám, chữa bệnh ngoài công lập (cơ sở KCB) trên địa bàn thành phố Hà Nội cơ bản đã chấp hành các quy định của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở KCB phát triển, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân. Song: Quy trình cấp giấy phép hoạt động chưa chặt chẽ; còn cơ sở được cấp phép chưa đảm bảo đầy đủ thủ tục theo quy định; công tác thanh tra, kiểm tra còn hạn chế[11] trong khi hầu hết các cơ sở KCB được KTNN kiểm tra thực tế đều có vi phạm; do số lượng các cơ sở KCB tăng nhanh và mật độ phân bố không đồng đều nên công tác quản lý của cơ quan nhà nước bị quá tải; hiệu lực công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực y tế tư nhân còn hạn chế, do thiếu quy định về công khai, giám sát đối với các cơ sở KCB có hành vi vi phạm…

2. UBND thành phố Hà Nội và các chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội (NOXH) đã nỗ lực triển khai phát triển NOXH theo mục tiêu của Chương trình phát triển nhà ở của Thành phố giai đoạn 2012-2020 và định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đến nay, một số dự án NOXH đã được bàn giao và đưa vào sử dụng, bước đầu tạo được sự quan tâm, tin tưởng của người dân đối với chủ trương an sinh xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước. Song, Chương trình còn một số hạn chế: Mục tiêu phát triển NOXH đến năm 2015 chưa phù hợp với nhu cầu thực tiễn; tỷ lệ thực hiện thấp; việc xây dựng Chương trình phát triển nhà ở chậm làm hạn chế vai trò định hướng, hướng dẫn tổ chức thực hiện Chương trình NOXH giai đoạn 2011-2015; hiệu lực thực hiện các cơ chế ưu tiên đặc thù của Thành phố đối với chủ đầu tư và dự án NOXH còn nhiều hạn chế; quá trình lập, phê duyệt quy hoạch đô thị chưa phù hợp với mục tiêu phát triển NOXH đã xác định; một số dự án NOXH thực hiện quy hoạch chưa kịp thời; công tác kiểm tra, kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước chưa phát hiện và xử lý kịp thời một số sai sót trong việc xác định đối tượng mua nhà của chủ đầu tư; chủ đầu tư xây dựng giá bán còn có nội dung chưa tuân thủ quy định; quy định và thực tế thực hiện thẩm định của Hội đồng liên ngành chưa đảm bảo đầy đủ cơ sở để xác định tính đúng đắn, hợp lý của giá bán; chưa quy định rõ trách nhiệm, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong công tác kiểm tra, giám sát mục đích sử dụng NOXH dẫn đến không phát hiện, xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm; công tác tổ chức đánh giá kết quả thực hiện Chương trình NOXH chưa hiệu quả; các quy định của Chính phủ về đối tượng, điều kiện và tiêu chí mua NOXH còn có nội dung chưa rõ ràng, cụ thể, tiềm ẩn rủi ro xác định không đúng đối tượng; cơ chế xác định giá bán NOXH chưa đảm bảo sự phù hợp giữa giá bán NOXH với thu nhập và khả năng thanh toán của đối tượng được mua nhà.

C. KẾT QUẢ KIỂM TOÁN CÁC DNNN VÀ CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

I. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước

Năm 2014, KTNN đã kiểm toán BCTC và các hoạt động liên quan đến quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước năm 2013 của 249 doanh nghiệp thuộc 38 TĐ, TCT[12] và 03 chuyên đề. Kết quả được khái quát như sau:

1. Về kiểm toán BCTC và các hoạt động liên quan đến quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước

Năm 2013, kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn nhưng cơ bản các DNNN vẫn bảo toàn được vốn, tiếp tục đóng góp quan trọng vào phát triển và ổn định kinh tế vĩ mô (36/38 TĐ, TCT kinh doanh có lãi, 2 TCT kinh doanh lỗ), song kết quả kiểm toán cho thấy:

– KTNN đã điều chỉnh tăng: tổng tài sản, nguồn vốn 4.437 tỷ đồng; tổng doanh thu, thu nhập 3.574 tỷ đồng; tổng chi phí 2.563 tỷ đồng; lợi nhuận kế toán trước thuế 975 tỷ đồng; số còn phải nộp NSNN 3.550 tỷ đồng.

– Nhiều TĐ, TCT quản lý nợ chưa chặt chẽ, dẫn đến nợ phải thu quá hạn, nợ khó đòi lớn; một số đơn vị xóa nợ phải thu khi chưa đủ điều kiện, trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi không đúng quy định, chưa xây dựng và ban hành quy chế quản lý các khoản nợ phải thu; nợ tạm ứng tồn đọng nhiều năm với số tiền lớn chưa được thu hồi; nợ trong nội bộ một số TCT với số tiền lớn, kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm.

– Một số đơn vị quản lý, sử dụng hàng tồn kho chưa hiệu quả, còn để hàng hóa ứ đọng, chậm luân chuyển, trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho chưa đúng quy định, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang không có nguồn bù đắp.

– Một số TCT đầu tư tài sản sử dụng không hiệu quả gây lãng phí vốn, thua lỗ; bên cạnh một số TCT đầu tư tài chính có hiệu quả, còn nhiều TCT đầu tư không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp, nhiều doanh nghiệp có vốn góp của các TCT kinh doanh thua lỗ, mất vốn, phá sản, ngừng hoạt động hoặc làm thủ tục giải thể; một số đơn vị trích dự phòng giảm giá đầu tư tài chính không đúng quy định, cho vay vốn không đúng chức năng, nhiệm vụ.

– Hầu hết TCT có hoạt động đầu tư xây dựng, kinh doanh bất động sản còn dự án chậm tiến độ làm giảm hiệu quả đầu tư, một số dự án phải tạm dừng triển khai gây lãng phí vốn đầu tư.

– Do vốn chủ sở hữu thấp nên nhiều đơn vị hoạt động kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn chiếm dụng, dẫn đến hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao, có đơn vị chưa góp đủ vốn điều lệ theo quy định, trong khi một số đơn vị có vốn chủ sở hữu lớn hơn vốn điều lệ được phê duyệt chưa được xử lý; một số TCT quản lý và sử dụng Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp chưa chặt chẽ, xây dựng đơn giá tiền lương, trích quỹ lương chưa hợp lý, chưa nộp kịp thời các khoản trích theo lương.

– Hầu hết các đơn vị phản ánh không đúng doanh thu, chi phí; một số đơn vị chưa tuân thủ đầy đủ quy định về đăng ký giá bán hàng hoặc chương trình khuyến mại với cơ quan quản lý Nhà nước.

– Một số TCT chưa sử dụng hết diện tích đất đang quản lý, sử dụng không hiệu quả, bị lấn chiếm, tranh chấp; chưa đầy đủ hồ sơ pháp lý và chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất với NSNN.

– Các đơn vị được phép khai thác tài nguyên khoáng sản đã tuân thủ quy định về quản lý và khai thác tài nguyên khoáng sản, phát huy nguồn lực tài nguyên, song còn một số đơn vị khai thác, xả thải trái phép.

– Hầu hết các TĐ, TCT được kiểm toán đã xây dựng Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp và đã được Thủ tướng Chính phủ hoặc UBND tỉnh, thành phố phê duyệt. Cơ bản công tác xây dựng Đề án của các TĐ, TCT đã bám sát các hướng dẫn và yêu cầu tại Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ. Song đề án của một số TCT có nội dung chưa phù hợp; chưa thực hiện đúng tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn hoặc giải thể doanh nghiệp.

– Các TĐ, TCT được kiểm toán đã lập kế hoạch, ban hành các văn bản chỉ đạo gửi các đơn vị trực thuộc triển khai thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Song còn đơn vị chưa xây dựng chương trình hành động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; không có báo cáo phòng chống tham nhũng hoặc báo cáo thiếu.

– Hầu hết các TĐ, TCT được kiểm toán đã ban hành quy chế giám sát tài chính và hiệu quả hoạt động, công khai tài chính, thực hiện đánh giá xếp loại doanh nghiệp, đánh giá thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước; người đại diện vốn nhà nước tại các doanh nghiệp cơ bản đã thực hiện quyền và nghĩa vụ, chế độ báo cáo theo quy định. Song, tại một số đơn vị công tác giám sát còn hạn chế, như: Chưa bổ nhiệm kiểm soát viên; chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của người đại diện vốn, quy chế giám sát tài chính.

2. Về kiểm toán chuyên đề

2.1. Thông qua việc điều hành giá xăng dầu bằng các công cụ tài chính giá xăng dầu trong nước giai đoạn 2011-2013 tương đối ổn định, hài hòa lợi ích nhà nước, doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu và người dân. Song, đầu năm 2011, chính sách điều hành giá bán xăng dầu và các quyết định trích, sử dụng Quỹ bình ổn giá chưa phù hợp, không đảm bảo mục tiêu bình ổn giá, làm chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống an sinh xã hội; việc công khai và tuyên truyền thông tin về giá xăng dầu chưa tốt, gây hiểu lầm cho người tiêu dùng. Hầu hết các đầu mối nhập khẩu xăng dầu chưa tuân thủ đầy đủ quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu; một số doanh nghiệp quy định giá bán lẻ Vùng 2 cao hơn giá bán lẻ Vùng 1 và cao hơn mức giá bán lẻ được quy định tại các văn bản điều hành của Liên bộ Công Thương, Tài chính.

2.2. Qua 04 vụ mua tạm trữ lúa, gạo trong giai đoạn 2012-2013 theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan trung ương, hiệp hội và tổ chức đã phối hợp triển khai mua tạm trữ hơn 3.775 ngàn tấn quy gạo, góp phần kiềm chế tình trạng sụt giảm giá vào thời điểm thu hoạch, giúp nông dân trồng lúa không phải bán sản phẩm với giá quá thấp, cơ bản đạt mục tiêu Chính phủ đề ra. Song các cơ quan có thẩm quyền chưa kiểm soát được sản lượng thu mua tạm trữ giữa các thương nhân; thời gian thu mua tạm trữ chưa phù hợp với thời gian thu hoạch rộ tại các địa phương có sản lượng thu hoạch lớn; phương thức tổ chức thu mua chưa đủ cơ sở để đánh giá mục tiêu đảm bảo thu nhập cho nông dân trồng lúa; hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng mua tạm trữ lúa, gạo thơm không phù hợp quy định; việc phân giao chỉ tiêu mua tạm trữ cho các thương nhân chưa tuân theo điều kiện và tiêu chí ban hành, còn phân giao trùng đối tượng.

2.3. Cơ bản, PVN đã quản lý, phân phối, sử dụng tiền lãi dầu, khí nước chủ nhà và tiền đọc tài liệu để lại (tiền lãi dầu để lại) cho Tập đoàn giai đoạn 2003-2013 theo các quy định tại từng thời kỳ; các dự án sử dụng tiền lãi dầu để lại cơ bản đảm bảo trình tự, thủ tục quy định. Song: Đến ngày 05/7/2012 Bộ Công Thương mới ban hành danh mục các công trình, dự án trọng điểm dầu khí trong và ngoài nước để PVN thực hiện; chính sách về tiền lãi dầu để lại không ổn định, nhất quán gây khó khăn trong tổ chức thực hiện; tiền lãi dầu để lại được hòa vào nguồn quỹ chung, không quản lý, quyết toán theo cơ chế riêng; số liệu quyết toán và theo dõi hạch toán tiền lãi dầu để lại còn chênh lệch chưa được xử lý.

II. Các tổ chức tài chính, ngân hàng

Kết quả kiểm toán tại NHNN, 04 tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chuyên đề Huy động và sử dụng vốn tại các công ty cho thuê tài chính giai đoạn 2011-2013 được khái quát như sau:

– Các tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm được kiểm toán cơ bản hoàn thành nhiệm vụ được giao; kinh doanh có lãi và đảm bảo các chỉ tiêu an toàn trong hoạt động. Song, còn một số chỉ tiêu chưa đạt kế hoạch đề ra.

– NHNN đã điều hành tương đối linh hoạt và hiệu quả các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ, góp phần hoàn thành các mục tiêu kinh tế vĩ mô theo kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2013. Đến ngày 31/12/2013, tổng phương tiện thanh toán tăng 14,64%; huy động vốn tăng 15,61%; tăng trưởng tín dụng 12,5% (kế hoạch khoảng 12%); thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại được cải thiện, đảm bảo khả năng thanh toán và chi trả của hệ thống; tỷ giá ngoại tệ ổn định; mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay giảm; NHNN cơ bản đã triển khai đầy đủ các nội dung Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” và đạt được một số kết quả nhất định; VAMC đã mua nợ xấu đến 31/12/2013 là 30.947 tỷ đồng và đến 31/3/2014 là 33.220 tỷ đồng, góp phần giảm tỷ lệ nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Mặc dù có những tín hiệu tốt nhưng hoạt động ngân hàng vẫn đối mặt với nhiều thách thức, như chất lượng tín dụng chưa thực sự được cải thiện, tỷ lệ nợ xấu có dấu hiệu giảm nhưng vẫn ở mức cao, nợ xấu chưa được báo cáo, phân loại và đánh giá đầy đủ; NHNN chậm triển khai tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt, chưa tổ chức hệ thống kiểm tra, soát xét dữ liệu về giao dịch trên thị trường liên ngân hàng do các tổ chức tín dụng cung cấp, đảm bảo số liệu tin cậy phục vụ điều hành chính sách tiền tệ; một số nội dung cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng thực hiện chưa phù hợp.

3. Về hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm

Các doanh nghiệp bảo hiểm được kiểm toán đã quản lý và sử dụng tài sản, vốn nhà nước theo quy định; quản lý thu nhập, chi phí chặt chẽ. Song, còn hạn chế: Đối chiếu, xác nhận nợ và trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi chưa đầy đủ; 12/18 đơn vị thuộc PJICO được kiểm toán chưa xử lý dứt điểm các khoản tạm ứng hoặc chiếm dụng phí bảo hiểm của cán bộ, nhân viên; quản lý vật tư, ấn chỉ chưa chặt chẽ; trích lập các quỹ dự phòng nghiệp vụ chưa đảm bảo theo quy định; phản ánh thu nhập, chi phí chưa chính xác, quản lý một số nghiệp vụ bảo hiểm chưa chặt chẽ; một số khoản đầu tư tài chính hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả, đặc biệt một số khoản đầu tư có nguy cơ không thu hồi được vốn.

4. Về hoạt động của BHXHVN

Năm 2013, BHXHVN đã có nhiều chuyển biến tích cực trong triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao và phối hợp với các sở, ngành của các địa phương. Đến 31/12/2013 có 61,93 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp, tăng 4,8% so với năm 2012; tổng số thu 165.018 tỷ đồng, tăng 18,11% so với năm 2012; tổng chi các chế độ bảo hiểm 160.233 tỷ đồng; số dư các quỹ bảo hiểm đến 31/12/2013 là 303.734 tỷ đồng, tăng 27,24% so với năm 2012; tổng số lãi thu được trong năm từ các quỹ bảo hiểm là 22.342 tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2012. Về cơ bản, việc thu, chi các chế độ bảo hiểm đã tuân thủ quy định, đáp ứng kịp thời, đầy đủ quyền lợi của người lao động. Song, việc quản lý, sử dụng quỹ còn một số hạn chế: (i) Tình trạng nợ đọng, chậm nộp các loại bảo hiểm vẫn xảy ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố và ngày càng gia tăng, trong đó tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; (ii) Tình trạng cấp trùng thẻ BHYT cho các đối tượng chính sách xảy ra tại hầu hết các tỉnh, thành phố được kiểm toán; (iii) Nhiều đối tượng đang hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng, chuyển sang hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp một lần với lý do tìm được việc làm mới nhưng tháng tiếp theo không kê khai và đóng các chế độ bảo hiểm theo quy định; nhiều Trung tâm giới thiệu việc làm thuộc các Sở Lao động Thương binh và Xã hội giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động không đúng quy định, KTNN đã kiến nghị thu hồi, giảm chi bảo hiểm thất nghiệp 18,8 tỷ đồng.

5. Về hoạt động của các công ty cho thuê tài chính giai đoạn 2011-2013

Trong giai đoạn 2011- 2013, cơ bản 03 công ty cho thuê tài chính được kiểm toán đã huy động và sử dụng vốn theo quy định, song huy động vốn không đạt kế hoạch và chủ yếu huy động từ ngân hàng mẹ; hoạt động cho thuê tài chính của ALCI (tập trung vào cho thuê tàu biển) không hiệu quả dẫn đến khó có khả năng hoàn trả các khoản vốn huy động, không đáp ứng các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng trong cả giai đoạn 2011-2013; 02/03 Công ty có tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm 31/12/2013 cao; phân loại nhóm nợ và xác định giá trị tài sản đảm bảo để khấu trừ khi trích lập dự phòng rủi ro tín dụng không chính xác, dẫn đến trích lập chưa đầy đủ; hoạt động cho thuê tài chính đối với một số đơn vị thuê tàu biển vi phạm quy định, tiềm ẩn rủi ro cao.

D. VỀ THỰC HIỆN KIẾN NGHỊ KIỂM TOÁN 2013

– Về kiến nghị xử lý tài chính thực hiện đến 31/3/2015 là 13.390 tỷ đồng, đạt 63,1% (13.390/21.206 tỷ đồng) tổng số kiến nghị, trong đó kiến nghị tăng thu, giảm chi NSNN là 5.561 tỷ đồng, đạt 66,2% (5.561/8.395 tỷ đồng).

– 41 văn bản đã và đang được Chính phủ, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung theo kiến nghị của KTNN (03 nghị định, 12 thông tư, 9 quyết định, 15 công văn, 02 văn bản khác).

E. KIẾN NGHỊ

1. KTNN kính đề nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan trung ương, địa phương, đơn vị được kiểm toán thực hiện nghiêm túc các kết luận, kiến nghị của KTNN trong năm 2014 đối với niên độ ngân sách 2013, trong đó:

1.1. Xử lý tài chính 23.103,5 tỷ đồng (tăng thu 4.669,4 tỷ đồng; giảm chi 7.460,6 tỷ đồng; nợ đọng phát hiện tăng thêm 3.142,2 tỷ đồng; nộp, hoàn trả và quản lý qua NSNN 7.799,5 tỷ đồng; xử lý khác 31,8 tỷ đồng).

1.2. Chỉ đạo các bộ, cơ quan trung ương địa phương rà soát để hủy bỏ hoặc thay thế, sửa đổi, bổ sung 110 văn bản[13] không phù hợp với quy định chung của nhà nước.

2. Kiểm toán Nhà nước kính đề nghị Quốc hội

2.1. Xem xét, phê chuẩn quyết toán NSNN năm 2013: Thu cân đối 1.084.064 tỷ đồng, chi cân đối 1.277.710 tỷ đồng, bội chi NSNN 236.769 tỷ đồng, bằng 6,6% GDP.

2.2. Ban hành Nghị quyết để chỉ đạo các đơn vị thực hiện đầy đủ, kịp thời các kết luận, kiến nghị hợp lý của KTNN.

2.3. Đối với nguồn vốn TPCP, KTNN kính đề nghị Quốc hội, UBTVQH nghiên cứu, xem xét:

– Việc bố trí vốn TPCP cần đầu tư vào những lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ phát triển kinh tế – xã hội (giao thông, thủy lợi) để tập trung nguồn vốn, sớm phát huy hiệu quả sử dụng của dự án nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, phát triển sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa xã hội, tăng thu NSNN, sớm trả nợ và đầu tư cho các lĩnh vực khác.

– Xem xét để đưa nguồn TPCP vào cân đối ngân sách, tránh có quá nhiều hệ thống văn bản hướng dẫn quản lý sử dụng đối với từng nguồn vốn, trong khi mục tiêu sử dụng vốn đều cho mục đích đầu tư phát triển kinh tế – xã hội (đối với lĩnh vực đầu tư), nhằm quản lý một cách tập trung, thống nhất và tránh phân tán nguồn vốn.


[1] Báo cáo quyết toán của 14 bộ, cơ quan trung ương; 35 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; 37 dự án đầu tư, chương trình, dự án quốc gia; 21 chuyên đề; 40 đầu mối thuộc lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và các tổ chức tài chính ngân hàng; 41 đầu mối thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, các cơ quan đảng; 02 cuộc kiểm toán hoạt động.

[2] Năm 2013 kiểm toán 16 bộ, cơ quan trung ương, kiến nghị thu hồi nộp NSNN do chi sai chế độ 8 tỷ đồng, 34 địa phương (trong đó có 5 thành phố trực thuộc trung ương) kiến nghị thu hồi nộp NSNN do chi sai chế độ 605,7 tỷ đồng; năm 2014 kiểm toán 14 bộ, cơ quan trung ương (trong đó có 05 bộ có quy mô ngân sách lớn), kiến nghị thu hồi nộp NSNN do chi sai chế độ 4,5 tỷ đồng, 35 địa phương (trong đó có 04 thành phố trực thuộc trung ương, trừ TP Cần Thơ) kiến nghị thu hồi nộp NSNN do chi sai chế độ 541,4 tỷ đồng.

[3] Vượt cơ cấu nguồn vốn NSTW trong tổng mức đầu tư, vượt tỷ lệ hỗ trợ NSTW, dự án không thuộc đối tượng đầu tư; quyết định đầu tư không ghi nguồn vốn NSTW, bố trí vốn trước khi có quyết định phê duyệt dự án và bố trí vốn để thanh toán nợ đọng XDCB của địa phương.

[4] Các tập đoàn, tổng công ty 1.619,8 tỷ đồng; các địa phương 1.505,8 tỷ đồng, các bộ, cơ quan trung ương 158,9 tỷ đồng.

[5] Điểm b, Mục 3, Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 24/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước năm 2013.

[6] Theo Báo cáo số 428/BC-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ về thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế trong lĩnh vực đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và hệ thống ngân hàng theo Nghị quyết số 10/2011/QH13 của Quốc hội và Báo cáo số 480/BC-CP ngày 18/11/2013 của Chính phủ về tình hình nợ đọng XDCB nguồn vốn NSNN, TPCP tính đến 31/12/2012 và 30/6/2013.

[7] (i) Phân bổ, giao kế hoạch vốn vượt nhu cầu, tổng mức vốn TPCP giai đoạn 2012-2015; giao kế hoạch vốn cho một số dự án không thuộc danh mục dự án được sử dụng vốn TPCP, một số dự án địa phương không đăng ký nhu cầu; việc rà soát danh mục dự án để bổ sung kế hoạch vốn TPCP giai đoạn 2014-2016 còn sai lệch và chưa đúng nguyên tắc Chính phủ đã trình UBTVQH, dẫn đến 04 dự án không thuộc danh mục được sử dụng vốn TPCP đã giải ngân 1.273,59 tỷ đồng và một số dự án có tăng quy mô được xác định sử dụng vốn TPCP 1.437,6 tỷ đồng; phân bổ vốn cho dự án khởi công mới, chưa sát với thực tế…; (ii) Địa phương được kiểm toán thanh toán cho các dự án không có trong danh mục dự án được sử dụng vốn TPCP theo quy định; thanh toán cho phần vượt quy mô, nội dung theo quyết định đầu tư sử dụng nguồn vốn khác, vượt tổng mức vốn TPCP giai đoạn 2012-2015 hoặc vượt tỷ lệ vốn được TW hỗ trợ; thanh toán sai khối lượng, đơn giá tại hầu hết các dự án được kiểm toán chi tiết…; (iii) Ứng trước vốn cho dự án không có trong danh mục dự án được sử dụng vốn TPCP giai đoạn 2012-2015; việc thu hồi vốn ứng trước chưa tích cực; thậm chí không thu hồi mà tiếp tục bố trí vốn; tỷ lệ giải ngân vốn ứng trước thấp…

[8] Theo Báo cáo quyết toán NSNN năm 2013 Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội tại Tờ trình số 189/TTr-CP ngày 04/5/2015.

[9] Theo số liệu tại Báo cáo về các chỉ tiêu giám sát nợ năm 2013 (Văn bản số 13473/BTC-QLN ngày 24/9/2014 của Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ), tổng dư nợ công đến 31/12/2013 theo Luật quản lý nợ công là 1.942.098 tỷ đồng và số điều chỉnh tăng chi cân đối NSNN năm 2013 là 12.163 tỷ đồng (tăng chi khác khoản trả nợ Quỹ hoàn thuế giá trị gia tăng phát sinh từ năm 2010-2011 là 13.190 tỷ đồng; giảm chi chuyển nguồn 1.027 tỷ đồng).

[10] Tổng hợp thiếu 26,13 tỷ đồng, thừa 51,41 tỷ đồng

[11] Thiếu cơ chế phối hợp giữa Sở Y tế (SYT) và các Phòng Y tế quận, huyện, thị xã (PYT) nên hoạt động thanh tra, kiểm tra còn chồng chéo và chưa bao quát được hoạt động của các cơ sở KCB; kết quả kiểm tra của một số PYT còn chưa phát hiện được hành vi vi phạm của các cơ sở KCB để có biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời; một số hồ sơ thanh kiểm tra của SYT và PYT chưa lưu trữ đầy đủ bằng chứng về vi phạm và xử lý hành vi vi phạm; UBND các phường không có chức năng kiểm tra các cơ sở KCB, thực tế đã thực hiện nhiều lượt kiểm tra nhưng hiệu quả thấp; trình độ cán bộ y tế đảm nhận công tác kiểm tra của các phường, xã, thị trấn còn hạn chế.

[12] Riêng 04 doanh nghiệp thuộc VTC còn kiểm toán BCTC năm 2012

[13] Sửa đổi, bổ sung 99 văn bản: 02 Nghị định, 15 Thông tư, 04 Nghị quyết, 27 Quyết định, 06 Công văn, 45 văn bản khác; hủy bỏ 11 văn bản: 03 Quyết định, 06 Công văn, 02 văn bản khác.

NGUỒN: KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC, kiemtoannn.gov.vn

Advertisements