ĐẬU ANH TUẤN

TRƯỞNG BAN PHÁP CHẾ

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Đẩy mạnh phát triển kinh tế và chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả là một trong những định hướng quan trọng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta.

Thời gian qua, Chính phủ đã ký kết và thực thi nhiều hiệp định mở cửa thương mại quan trọng, trong đó đáng kể là Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA), gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và 10 Hiệp định thương mại tự do (FTA). Sắp tới đây sẽ là những FTA thế hệ mới với một loạt các đối tác thương mại hàng đầu thế giới như Hoa Kỳ, EU… được ký kết.

Các Hiệp định này mở ra con đường hội nhập thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam cũng như toàn bộ nền kinh tế với các đối tác thương mại lớn. Đồng thời thông qua việc thực thi các cam kết trong đó, môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam cũng được cải thiện mạnh mẽ, tạo điều kiện để doanh nghiệp tự do sáng tạo, kinh doanh, làm giàu cho mình và cho đất nước.

Mặc dù vậy, có một thực tế đầy lo ngại là dường như những lợi ích tiềm tàng to lớn từ những Hiệp định, thỏa thuận thương mại này đã chưa được hiện thực hóa bao nhiêu trên thực tế. Ở thị trường xuất khẩu, chỉ mới khoảng 30% hàng hóa Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA. Trong khi đó thị trường nội địa lại chứng kiến sự đổ bộ nhanh chóng của hàng hóa, dịch vụ nước ngoài. Dường như doanh nghiệp Việt Nam sau hai thập kỷ hội nhập tính từ thời điểm gia nhập ASEAN đến nay vẫn đang loay hoay, lúng túng trong việc tìm ra cách thức để hội nhập hiệu quả.

Tất nhiên lời giải cho bài toán này trước hết nằm ở doanh nghiệp, trong việc tìm biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập.

Dù vậy, từ góc độ khác, sự hỗ trợ từ Nhà nước là rất cần thiết để các doanh nghiệp Việt Nam, vốn còn nhỏ bé, non trẻ và yếu ớt trong cuộc chơi với các đối thủ sừng sỏ, dày dạn kinh nghiệm, có thể tồn tại, lớn lên kiên cường và cạnh tranh sòng phẳng trong nền kinh tế toàn cầu hóa này.

Ở đây tôi chỉ xin đề cập tới 02 vấn đề lớn nhất mà doanh nghiệp đang rất cần sự hỗ trợ từ Nhà nước để hội nhập hiệu quả:

I. Doanh nghiệp cần Nhà nước hỗ trợ về cơ chế để có các tổ chức đại diện mạnh và hiệu quả

Trong quá trình hội nhập này, đặc biệt là từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thể chế kinh tế cũng như cách thức quản lý Nhà nước về kinh tế có nhiều thay đổi theo hướng giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào các lĩnh vực trong nền kinh tế thị trường, giải phóng sức sáng tạo và khả năng kinh doanh của người dân, doanh nghiệp và tăng cường tính chủ động, liên kết của các doanh nghiệp thông qua các hiệp hội doanh nghiệp – tổ chức tập hợp và đại diện cho tiếng nói của các doanh nghiệp.

Vì vậy, tăng cường vai trò và cải thiện hiệu quả hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp là một trong những nhiệm vụ được nhấn mạnh trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/12/2011 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã nhấn mạnh việc cần “phát huy vai trò của các tổ chức đại diện của cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân”.

Cũng trong giai đoạn này, pháp luật về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội, trong đó có các Hiệp hội doanh nghiệp cũng dần được hình thành, cụ thể:

– Nghị định 45/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21/4/2010 về tổ chức hoạt động và quản lý Hội;

– Nghị định 33/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/4/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 45/2010/NĐ-CP về tổ chức hoạt động và quản lý Hội;

– Thông tư 03/2013/TT-BNV quy định chi tiết thi hành Nghị định 45/2010/NĐ-CP và Nghị định 33/2012/NĐ-CP về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội.

Hiện trạng

Hiện chưa có số liệu thống kê đầy đủ và chính thức nào về số lượng các hiệp hội doanh nghiệp (hoạt động dưới các tên gọi khác nhau như Hội, Hiệp hội, Liên đoàn, Liên minh, Đoàn, Hội liên hiệp… và là tập hợp của các doanh nghiệp tổ chức, cá nhân kinh doanh) trên cả nước. Mặc dù vậy, cùng với sự gia tăng các hoạt động kinh tế, đặc biệt là hội nhập kinh tế, số lượng các hiệp hội doanh nghiệp ở Viêt Nam đang gia tăng. Tập hợp sơ bộ của VCCI cho thấy thời điểm tháng 12/2014 có khoảng 446 hiệp hội doanh nghiệp. Tuy nhiên, số lượng này có thể chưa đầy đủ vì còn nhiều hiệp hội doanh nghiệp ở các cấp thấp hơn (xã, huyện…) chưa được cập nhật.

Trong nỗ lực thúc đẩy sự phát triển các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam thông qua việc hỗ trợ thành lập các hiệp hội doanh nghiệp mới và nâng cao năng lực các hiệp hội đang hoạt động, năm 2013, VCCI đã tiến hành Nghiên cứu về các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam thông qua Dự án Xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực của các hiệp hội doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế trong khuôn khổ Chương trình hậu gia nhập WTO (B-WTO). Nghiên cứu này được thực hiện đối với 78 Hiệp hội doanh nghiệp cấp tỉnh, khu vực và quốc gia trên cả nước và là nghiên cứu có quy mô lớn nhất về các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam cho đến nay.

Những phát hiện, đánh giá từ Nghiên cứu phản ánh bức tranh chung về các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam (ít nhất là ở cấp tỉnh, khu vực và quốc gia) trên các mặt sau:

Về sáng kiến thành lập hiệp hội doanh nghiệp: số lượng các hiệp hội được hình thành từ chính nhu cầu và sáng kiến của các doanh nghiệp chiếm đa số;

Về nhân lực hiệp hội: số lượng cán bộ, nhân viên chuyên trách của các hiệp hội doanh nghiệp qua các năm có xu hướng gia tăng, đặc biệt trong giai đoạn sau 2007. Phần lớn các cán bộ Hiệp hội đã từng làm việc trong các cơ quan Nhà nước. Trình độ của các cán bộ Hiệp hội là khá cao;

Về hội viên: số lượng hội viên các hiệp hội đã gia tăng nhanh chóng sau thời điểm Việt Nam gia nhập WTO. Tính trung bình, đối với các hiệp hội thành lập trước 2007, số lượng hội viên vào thời điểm thành lập là 85 hội viên, sang năm 2007 tăng lên 177 hội viên, tháng 6/2012 là 364 hội viên.

Về tổ chức hoạt động: cơ bản các hiệp hội doanh nghiệp đã thiết lập được cơ chế tổ chức, vận hành hệ thống. Tuy nhiên tính chuyên nghiệp trong hoạt động của các hiệp hội vẫn còn là vấn đề lớn;

Về năng lực tài chính: mức độ bền vững của ngân sách các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam dường như vẫn còn là vấn đề lớn. So sánh tổng thu so với tổng chi của các hiệp hội được khảo sát cho thấy ở giai đoạn thành lập, số hiệp hội có tổng chi lớn hơn thu là 54% và giảm xuống 35% vào năm 2007 (thời điểm Việt Nam gia nhập WTO) và vẫn giữ nguyên ở tỷ lệ này vào năm 2011. Nhìn chung, các hiệp hội cấp tỉnh có tình hình tài chính khó khăn hơn các hiệp hội cấp quốc gia. Nguồn thu chính của hầu hết các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam là từ nguồn hội phí mà các doanh nghiệp hội viên đóng góp. Tuy nhiên, thu phí hội viên từ các doanh nghiệp thành viên là vấn đề khó khăn đối với bất cứ hiệp hội nào (tỷ lệ các hội viên đóng phí thường xuyên trung bình của các hiệp hội là 75% vào giai đoạn thành lập, giảm xuống liên tục ở mức 66% năm 2007, và tới tháng 6 năm 2012 chỉ còn 54%).

Về hoạt động dịch vụ/hỗ trợ hội viên: chức năng phục vụ hội viên xúc tiến thương mại, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập hiện nay đang ngày càng được các hiệp hội doanh nghiệp chú trọng, đặc biệt thông qua việc thành lập các bộ phận chuyên môn riêng cho hoạt động này.

Các nhóm hoạt động hỗ trợ/dịch vụ chủ yếu mà các hiệp hội doanh nghiệp hiện đang cung cấp cho hội viên là xúc tiến thương mại, giúp doanh nghiệp quảng bá thương hiệu, sản phẩm; đào tạo nhân lực; cung cấp thông tin; tư vấn đầu tư, tư vấn, phản biện chính sách, pháp luật, hỗ trợ các vấn đề pháp lý; và các dịch vụ, hoạt động khác như kết nối giữa doanh nghiệp và chính quyền, tổ chức sự kiện, bảo lãnh đầu tư…

Hoạt động tư vấn chính sách, pháp luật và hỗ trợ giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế là một phần quan trọng trong chức năng hỗ trợ, bảo vệ quyền lợi hội viên của các hiệp hội. Trong bối cảnh hội nhập, khi doanh nghiệp mở rộng các hoạt động kinh doanh với nước ngoài, và đặc biệt là khi hàng hóa Việt Nam phải đối mặt với nhiều vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ ở nước ngoài, hoạt động này của các hiệp hội càng có ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên, kết quả khảo sát lại cho thấy đây là mảng hoạt động ít thường xuyên nhất của các hiệp hội. Một phần lý do có thể là bởi năng lực chuyên môn về chính sách, pháp luật của các hiệp hội còn khá hạn chế. Theo khảo sát thì có tới 76% số hiệp hội không có bộ phận chuyên môn về chính sách, pháp luật trong khi việc duy trì liên kết với các tổ chức, đơn vị tư vấn pháp lý lại lỏng lẻo.

Về chức năng đại diện, vận động chính sách: kết quả khảo sát cho thấy các hoạt động chủ yếu để thực hiện chức năng này là tham vấn ý kiến hội viên về cải thiện môi trường kinh doanh (73% số hiệp hội được khảo sát có thực hiện hoạt động này), tiến hành đối thoại với chính quyền (85%). Tuy nhiên, các hiệp hội doanh nghiệp thường hạn chế hơn ở những vận động đòi hỏi chuyên môn sâu, năng lực tổ chức tốt như tiến hành các nghiên cứu để phục vụ cho hoạt động vận động chính sách của mình hay tổ chức các hoạt động vận động chính sách pháp luật (chỉ 44% số hiệp hội từng thực hiện các hoạt đông này). Việc liên kết, phối hợp giữa các hiệp hội doanh nghiệp trong vận động các chính sách mà họ cùng có mối quan tâm hiện đã được một số hiệp hội chú ý tới nhưng vẫn còn hạn chế (chỉ khoảng 54% các hiệp hội đã từng thực hiện việc này).

Trong tổng thể, có thể thấy các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam đã có sự lớn mạnh, phát triển không ngừng từ thời điểm Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 cả về số lượng và phạm vi cũng như năng lực hoạt động.

Mặc dù vậy, so với kỳ vọng về vai trò và hiệu quả của các hiệp hội doanh nghiệp trong việc hỗ trợ doanh nghiệp hội nhập cũng như làm cầu nối giữa Nhà nước với các doanh nghiệp thì những gì đã đạt được còn rất hạn chế. Các hiệp hội doanh nghiệp hiện nay đa phần đều chưa bền vững, thiếu về nguồn lực (nhân lực, vật lực) và yếu về năng lực (đặc biệt trong việc hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết các vấn đề về chính sách cũng như các vấn đề phát sinh trong thương mại quốc tế).

Nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của việc tăng cường vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thời gian qua VCCI đã có nhiều hoạt động nhằm kết nối, trợ giúp cũng như phát triển mạng lưới các hiệp hội doanh nghiệp trên toàn quốc, đặc biệt trong những vấn đề có liên quan tới hội nhập và thương mại quốc tế như:

– Xây dựng Bộ công cụ để các hiệp hội doanh nghiệp tự đánh giá về hiện trạng năng lực và tính bền vững của mình (2014);

– Thiết lập khung cơ bản hướng dẫn các hiệp hội ngành hàng xây dựng chiến lược phát triển ngành trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (2013); thực hiện nghiên cứu thử nghiệm đối với một số ngành (2014);

– Cơ chế phối hợp thường xuyên nhằm hỗ trợ các hiệp hội liên quan trong vận động chính sách, góp ý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp đến chuyên ngành của hiệp hội;

– Làm đầu mối nghiên cứu, hỗ trợ các hiệp hội trong tham vấn đàm phán các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới;

– Tổ chức các khóa đào tạo nâng cao năng lực hội nhập và thương mại quốc tế dành riêng cho các hiệp hội doanh nghiệp (ví dụ về FTA thế hệ mới, về không gian chính sách sau hội nhập, về các biện pháp phòng vệ trong thương mại quốc tế…).

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng hiệu quả của các hoạt động hỗ trợ phát triển hệ thống các hiệp hội doanh nghiệp của VCCI vẫn còn chưa được chưa mong muốn bởi nhiều lý do, ví dụ:

– Cơ chế chính sách, pháp lý dành cho các hiệp hội doanh nghiệp vẫn còn nhiều bất cập;

– Cơ chế để hiệp hội doanh nghiệp tham gia vào quá trình hoạch định chính sách thương mại trong nước, quốc tế đã có nhưng việc thực thi (tham vấn, lấy ý kiến) từ phía các cơ quan Nhà nước liên quan còn hạn chế, không thường xuyên và chưa thực sự thực chất;

– Phạm vi được phép hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp còn hạn chế, do đó khả năng thu hút, liên kết hội viên thấp;

– Thiếu nguồn lực để thực hiện các hoạt động hỗ trợ hiệp hội.

Đề xuất

Trong thời gian tới, để tăng cường hơn nữa năng lực cũng như vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, rất mong Quốc hội và Chính phủ quan tâm thực hiện sớm các giải pháp sau đây:

(i) Các biện pháp nhằm tạo ra môi trường, cơ chế để các hiệp hội doanh nghiệp có không gian phát triển:

– Sớm hoàn thiện pháp luật về Hội (ban hành Luật về Hội), để tạo ra một khung khổ pháp lý an toàn, hợp lý để các Hội nói chung và hiệp hội doanh nghiệp nói riêng có thể hình thành thuận lợi, phát triển ổn định;

– Tăng cường chuyển giao dần các dịch vụ công trong các lĩnh vực hoạt động kinh doanh cho các hiệp hội doanh nghiệp (ví dụ việc cấp các chứng chỉ chuyên môn, các dịch vụ xác nhận, cấp phép liên quan tới hoạt động kinh doanh…);

– Tăng cường hiệu quả thực thi các quy định về sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình hoạch định chính sách, pháp luật nội địa (Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định 24/2009/NĐ-CP hướng dẫn Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật) và đàm phán thương mại quốc tế (Quyết định 06/2012/QĐ-TTg), đặc biệt là trách nhiệm tham vấn, lấy ý kiến doanh nghiệp thông qua các hiệp hội doanh nghiệp của các cơ quan liên quan (cơ quan soạn thảo, cơ quan đàm phán).

(ii) Các biện pháp nhằm tăng cường nguồn lực, năng lực hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp, đặc biệt trong những vấn đề liên quan tới hội nhập

– Đặt hàng cho Hiệp hội trong việc thực hiện những hoạt động nghiên cứu, phát triển ngành cũng như hỗ trợ doanh nghiệp (sử dụng ngân sách nhà nước);

– Tăng cường các hoạt động nhằm phát triển lực lượng, tập hợp các hiệp hội doanh nghiệp thông qua các đầu mối có khả năng hướng dẫn, hỗ trợ, nâng đỡ các hiệp hội doanh nghiệp trong các hoạt động của mình (đặc biệt là các hoạt động mới, phức tạp trong hội nhập như vận động chính sách thương mại quốc tế, bảo vệ doanh nghiệp trong các tranh chấp thương mại…) như VCCI.

II. Doanh nghiệp cần Nhà nước thông tin, tư vấn cho doanh nghiệp trong các vấn đề liên quan tới cam kết hội nhập

Hiểu biết chính xác về các cam kết hội nhập, từ đó có sự chuẩn bị đầy đủ, chính xác và kịp thời để tận dụng các cơ hội từ các cam kết (đặc biệt là các cam kết cho phép tiếp cận thị trường đối tác) và vượt qua thách thức cạnh tranh (chủ yếu từ việc mở cửa thị trường cho đối tác nước ngoài) là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp có thể hội nhập thành công sau WTO và các hiệp định thương mại tự do mà Chính phủ đàm phán, ký kết.

Hiện trạng

Sau thời điểm gia nhập WTO, nhiều hoạt động phổ biến, tuyên truyền, cung cấp thông tin về các cam kết WTO đã được các bộ, ngành thực hiện. Toàn văn các cam kết đã được đăng tải trên website của nhiều bộ, ngành. Hàng trăm các hội thảo, đào tạo về WTO đã được thực hiện. Rất nhiều các bài báo, chương trình truyền hình, ấn phẩm… tuyên truyền, phổ biến về cam kết WTO đã được phát hành.

Với các FTA, mức độ tuyên truyền, phổ biến có thấp hơn cả về tần suất và diện, dù vậy cũng vẫn được các bộ, ngành liên quan thực hiện theo cách này hay cách khác.

Mặc dù vậy, những thông tin về các cam kết WTO, về FTA và hội nhập mà doanh nghiệp cần biết lại rất thiếu, bởi nhiều lý do:

– Các cam kết, hiệp định được đăng tải toàn văn trên các website của các bộ, ngành là quá phức tạp, quá hàn lâm, khó hiểu với các doanh nghiệp; thậm chí vẫn có những Hiệp định, cam kết chưa từng được đăng tải, dù chỉ là đăng toàn văn (không có xử lý hay tóm tắt nào);

– Thông tin cung cấp qua các khóa đào tạo, hội thảo, các phương tiện thông tin đại chúng thì chung chung, sơ sài, không đi vào cụ thể các lĩnh vực, khía cạnh mà doanh nghiệp quan tâm;

– Đối với những vướng mắc cụ thể về các vấn đề liên quan tới cam kết của doanh nghiệp thì không có một đơn vị hay đầu mối nào để giải đáp, hướng dẫn một cách chính thức.

Thiếu thông tin cụ thể, thiếu những hướng dẫn rõ ràng, thiếu các đầu mối giải thích cam kết… được cho là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng các doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng, nắm bắt được các cơ hội to lớn mà các cam kết thương mại quốc tế mang lại.

Trong nỗ lực cải thiện tình hình này, VCCI đã thành lập một đơn vị riêng, chuyên trách về các vấn đề hội nhập để hỗ trợ doanh nghiệp về WTO và các cam kết mở cửa thương mại – Trung tâm WTO và Hội nhập (sau đây gọi tắt là “Trung tâm WTO”) từ năm 2010.

Cho đến nay, sau 05 năm hoạt động, Trung tâm WTO – VCCI là đầu mối thông tin và hỗ trợ pháp lý về hội nhập cho doanh nghiệp lớn nhất tại Việt Nam. Ba mảng hoạt động hỗ trợ chủ yếu của Trung tâm WTO – VCCI gồm:

– Cung cấp thông tin pháp lý và thực tiễn cập nhật về các cam kết WTO và FTA cho doanh nghiệp với tất cả các thông tin đều được xử lý/tóm tắt phù hợp với trình độ và sự quan tâm của doanh nghiệp (trang web www.trungtamwto.vn và trang www.wtocenter.vn với tổng cộng gần 15 triệu lượt truy cập; bản tin quý về chính sách thương mại quốc tế với trên 15 số đã phát hành; trên 40 cẩm nang tóm tắt nội dung các hiệp định, cam kết trong WTO…);

– Đào tạo, nâng cao năng lực về thương mại quốc tế cho doanh nghiệp và các hiệp hội doanh nghiệp (khoảng 10 khóa đào tạo);

– Đường dây nóng tư vấn, hướng dẫn doanh nghiệp về các vấn đề WTO, FTA và hội nhập (hàng trăm lượt tư vấn mỗi năm);

– Hỗ trợ, đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp đưa ra các khuyến nghị về phương án đàm phán các FTA thế hệ mới, các Hiệp định/Thỏa thuận/Công ước/Điều ước khác có liên quan tới thương mại (trung bình mỗi năm Trung tâm WTO đưa ra khoảng 30 khuyến nghị).

Những nỗ lực của Trung tâm WTO – VCCI đã mang lại những hiệu quả ban đầu thiết thực. Mặc dù vậy, các hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế và chưa đạt được kỳ vọng mong muốn bởi các lý do:

Thiếu nguồn lực thực hiện: trong nhiều trường hợp, do không có nguồn lực, các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp chưa được thực hiện kịp thời và với tần suất mong muốn (ví dụ do thiếu kinh phí dịch thuật nên không thể cung cấp thông tin bằng tiếng Việt cho các doanh nghiệp về những vấn đề nóng trong hội nhập trên thế giới; cũng do nguồn kinh phí hạn chế nên không thể có tư vấn tốt để thực hiện việc xử lý, tóm tắt các cam kết và chuyển tải sang ngôn ngữ dễ hiểu, phù hợp với doanh nghiệp; không kịp thời soạn thảo xuất bản được các ấn phẩm, cẩm nang hữu ích cho doanh nghiệp…);

Thiếu hỗ trợ chuyên môn từ các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: các cán bộ đàm phán và thực thi là những người hiểu rõ nhất, chính xác nhất về các cam kết và vì vậy cũng là những người có thể giải thích, tư vấn tốt nhất cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải lúc nào VCCI cũng nhận được sự phối hợp, hỗ trợ về chuyên môn của các cán bộ, cơ quan này trong việc giải đáp vướng mắc, tư vấn cho doanh nghiệp; mọi sự phối hợp, nếu có, đều phụ thuộc vào sự thiện chí của cá nhân từng cán bộ cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứ hoàn toàn không có một cơ chế phối hợp chắc chắn, thường xuyên và ràng buộc nào;

Thiếu các đầu mối giải thích cam kết chính thức: trong quá trình thực thi các cam kết, nhiều trường hợp tư vấn hay giải thích từ cán bộ VCCI chỉ có tính chất tham khảo, doanh nghiệp cần có sự giải thích thống nhất và có hiệu lực từ các cơ quan có thẩm quyền để áp dụng trong trường hợp cụ thể của mình. Tuy nhiên hiện chưa có một cơ quan nào cụ thể được giao trách nhiệm và thẩm quyền này. Điều này dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong thực tế (bởi cơ quan quản lý ở địa phương và doanh nghiệp có cách hiểu khác nhau về các cam kết và không ai làm trọng tài cho các trường hợp này).

Đề xuất

Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của một loạt các FTA thế hệ mới với phạm vi cam kết rộng, mức độ cam kết sâu, những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp dự kiến sẽ rất lớn. Do đó, vấn đề thông tin, hỗ trợ, tư vấn cho doanh nghiệp càng cần được nhấn mạnh. Do đó, cần thiết phải có sự thay đổi về chất trong hoạt động hỗ trợ, cung cấp thông tin, tư vấn cho doanh nghiệp về các cam kết thương mại.

Vì vậy, rất mong Quốc hội và Chính phủ có các biện pháp thích hợp để khắc phục những hạn chế thời gian qua, từ đó tăng cường hiệu quả thực chất của những hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp hội nhập, trong đó có:

Hỗ trợ về nguồn lực cho các đầu mối cung cấp thông tin, tư vấn hội nhập tương tự Trung tâm WTO – VCCI (chú ý chỉ hỗ trợ cho những đầu mối chứng minh được rằng hoạt động có hiệu quả, có sản phẩm và kết quả cụ thể, cho phép công chúng/doanh nghiệp tiếp cận được thuận tiện nhất…; không hỗ trợ tràn lan lãng phí nguồn lực như giai đoạn trước đây);

– Nhấn mạnh hơn nữa yêu cầu công khai minh bạch nhanh chóng và kịp thời các nội dung cam kết FTA tới người dân, doanh nghiệp (gắn với trách nhiệm cụ thể của các cơ quan liên quan trong việc công khai thông tin này);

– Đặt ra cơ chế phối hợp bắt buộc giữa các cơ quan có chuyên môn về các cam kết hội nhập với các đầu mối cung cấp thông tin, tư vấn cho doanh nghiệp như Trung tâm WTO – VCCI để kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp trong những vấn đề đòi hỏi chuyên môn sâu của cán bộ đàm phán, thực thi;

Thiết lập các đầu mối có thẩm quyền trong việc hướng dẫn, giải thích nội dung các cam kết một cách chính thức cho các doanh nghiệp.

Các hiệp định mở cửa thương mại thời gian qua và những FTA thế hệ mới sắp tới chắc chắn sẽ là một động lực mới, mang theo những cơ hội chưa từng có cho nền kinh tế Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam. Dù vậy, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm để những cơ hội đó không bị chuyển hóa thành thách thức mà thực sự trở thành hiện thực. Doanh nghiệp sẽ phải là những người đầu tiên cần thay đổi, cải thiện năng lực cạnh tranh sẽ phải là việc tiên quyết phải làm, nhưng Nhà nước cũng phải làm nhiều việc, để doanh nghiệp có thể vững chãi tiến lên trên con đường hội nhập sắp tới./.

NGUỒN: ỦY BAN KINH TẾ QUỐC HỘI, KỶ YẾU DIỄN ĐÀN KINH TẾ MÙA THU, 2015

Advertisements