PGS, TS. PHẠM THỊ GIANG THU  &ThS. NGUYỄN NGỌC YẾN

Vấn đề quản lý thị trường vàng đang thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội, không chỉ ở góc độ bảo đảm ổn định nền kinh tế vĩ mô, bảo đảm nguồn dự trữ ngoại hối của nhà nước, bảo đảm cán cân thương mại quốc tế… mà nó còn liên quan đến việc bảo đảm quyền sở hữu một loại tài sản có giá trị được cất trữ trong dân cư. Do đó, thị trường vàng được quản lý một cách hiệu quả là yêu cầu bức thiết đặt ra cho Nhà nước, trong đó bước đầu tiên là phải xác định một cách chính xác cơ quan Nhà nước nào được giao trách nhiệm chính trong hoạt động quản lý thị trường đặc thù này. Ở Việt Nam hiện nay, quản lý thị trường vàng được giao cho Ngân hàng Nhà nước thống nhất thực hiện. Bài viết sẽ tập trung làm rõ những cơ sở pháp lý cũng như thực tiễn cho Ngân hàng Nhà nước quản lý thị trường vàng, dựa vào đó đánh giá hiệu quả hoạt động này của Ngân hàng Nhà nước trong thực tế.

1. Ngân hàng Nhà nước quản lý thị trường vàng – trách nhiệm và sứ mệnh

Quản lý và kiểm soát thị trường vàng là vấn đề có tính lịch sử, bắt nguồn từ tư tưởng quản lý nền kinh tế theo chế độ bản vị vàng truyền thống, ngay cả khi các quốc gia sử dụng tiền giấy bất khả hoán. Để đảm bảo một cách tốt nhất cho giá trị nội tệ và tránh cú sốc kinh tế từ trong và ngoài nước, cũng như đảm bảo quyền lợi cho những chủ thể tham gia, quản lý, kiểm soát thị trường vàng là điều các quốc gia quan tâm. Tùy theo vai trò của vàng trong lãnh thổ mỗi quốc gia, vấn đề quản lý thị trường vàng sẽ được trao cho những cơ quan chuyên trách khác nhau thực hiện. Không quốc gia nào phủ nhận vai trò tiền tệ của vàng trong nền kinh tế, đặc biệt là chức năng cất trữ giá trị và chức năng tiền tệ quốc tế. Nếu đồng tiền khác nhau thường bị kiểm soát bởi quốc gia phát hành ra nó, giá trị chịu sự tác động trực tiếp bởi tăng trưởng hay suy thoái của kinh tế quốc gia, thì vàng là công cụ trao đổi, nhưng không chịu sự ảnh hưởng hay kiểm soát của bất kỳ nền kinh tế cụ thể nào. Mặt khác, vàng còn được coi là công cụ đầu tư, công cụ tích trữ có khả năng cao chống lại lạm phát và bất ổn xã hội, cũng như phương tiện dự trữ ngoại hối quan trọng của hầu hết các quốc gia. Do đó, các quốc gia đều coi chính sách và biện pháp quản lý thị trường vàng như một bộ phận cấu thành của chính sách quản lý kinh tế vĩ mô. Vì thế, vai trò quản lý quan trọng thuộc về Ngân hàng trung ương.

Ở Trung Quốc, vai trò của Ngân hàng nhân dân Trung Quốc (PBOC) tương đối lớn trên thị trường vàng. Hay có thể nói, chính sách quản lý thị trường vàng của Trung Quốc được xếp vào loại chặt chẽ nhất thế giới, khi mà PBOC kiểm soát thị trường vàng từ khâu khai thác đến khâu cung ứng nguyên liệu cho các đơn vị sản xuất nữ trang, đóng vai trò độc quyền thị trường vàng trong nước. Theo lộ trình tự do hóa thị trường tài chính, Trung Quốc cũng từng bước tiến hành tự do hóa thị trường vàng thông qua việc xóa bỏ cơ chế độc quyền trên thị trường vàng của PBOC. Tuy nhiên, dù thời điểm hiện tại, thị trường vàng Trung Quốc đã được tự do hóa và được thiết lập tương đối toàn diện, nhưng hoạt động giám sát và quản lý đối với thị trường này vẫn được trao thống nhất cho PBOC [11]. Hay như ở Anh, thị trường vàng thỏi London dù được xác định là thị trường vàng truyền thống với hoạt động ổn định và phát triển, có các nhà giao dịch đồng thời đóng vai trò là thành viên chịu trách nhiệm tạo lập thị trường, thị trường này vẫn được Ngân hàng Trung ương Anh giám sát trong những hoạt động của mình, bên cạnh sự tham gia ý kiến của Hiệp hội thị trường vàng thỏi London [5].

Một ví dụ khác ở Thái Lan – một trong những trung tâm sản xuất nữ trang lớn trên thế giới, nơi mà việc quản lý thị trường vàng, đặc biệt là vàng trang sức được thể hiện thông qua những chính sách thuế ưu đãi, xóa bỏ hạn chế nhập khẩu vàng khối. Với những chính sách này, Chính phủ Thái Lan giao quyền hạn khá lớn cho Bộ Tài chính và Bộ Thương mại Thái Lan. Dù vậy, Ngân hàng Trung ương Thái Lan vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý vàng, đặc biệt là vàng thuộc dự trữ ngoại hối của quốc gia [3, mục 12]. Với những ví dụ này, có thể thấy, ở bất kỳ quốc gia nào, ở thị trường vàng phát triển hay chưa phát triển, dù vàng đóng vai trò như thế nào trong nền kinh tế – xã hội của các quốc gia, Ngân hàng trung ương vẫn là cơ quan có trách nhiệm quan trọng trong việc quản lý thị trường này.

Đồng thời, ở những nước mà Ngân hàng trung ương có vị trí là cơ quan của Chính phủ như Việt Nam, thị trường vàng là một trong những bộ phận cấu thành nền kinh tế vĩ mô do Chính phủ kiểm soát và thực hiện. Chính phủ trao cho những cơ quan trực thuộc mình quyền quản lý chuyên ngành đối với những lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Chính sách tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước (sau đây viết tắt là NHNN) thực hiện, tiền do duy nhất NHNN phát hành, trong khi, vàng là một loại tài sản tài chính, do đó, trao cho NHNN quản lý thị trường vàng cũng chính là quản lý cung ứng tiền của nền kinh tế [10]. Với sứ mệnh quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng và ngoại hối, thực hiện hoạt động góp phần ổn định nền kinh tế vĩ mô, rõ ràng, NHNN cần có sự quan tâm đặc biệt đối với vàng. Trao cho NHNN chuyên trách trong hoạt động này, Chính phủ mới có thể quản lý được việc chuyển đổi tự do giữa tiền và vàng. Thêm vào đó, NHNN hoàn toàn có thể quản lý thị trường vàng thông qua hệ thống tổ chức tín dụng chịu sự quản lý trực tiếp của mình, vốn dĩ là chủ thể quan trọng với vai trò người kinh doanh trên thị trường vàng từ trước đến nay. Thông qua đó, những bất ổn xuất phát từ sự liên thông và tác động giữa thị trường vàng với các bộ phận khác nhau của thị trường tài chính sẽ được giảm thiểu.Không chỉ vậy, với vị trí và chức năng của mình, NHNN mới đủ năng lực, chuyên môn, thẩm quyền và tiềm lực tài chính để quản lý thị trường vàng, bao gồm trong đó cả những hoạt động điều hành cụ thể trên thị trường vàng như tiến hành mua bán vàng miếng để can thiệp, bình ổn thị trường vàng phổ thông.

Mặt khác, pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội. Dựa vào pháp luật, các cơ quan đại diện cho Nhà nước xác định được hoạt động mình phải làm, các chủ thể khác trong xã hội biết được những gì họ cần thực hiện để đảm bảo quyền lợi cho mình và không ảnh hưởng đến quyền lợi của những chủ thể khác. Đối với thị trường vàng, pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý thị trường vàng có thể hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trên thị trường vàng và trong quá trình quản lý thị trường vàng. Như vậy, pháp luật sẽ đảm bảo khả năng quản lý của Nhà nước đối với các chủ thể tham gia trên thị trường vàng, cũng như khả năng điều hành thực tế của Nhà nước trong những trường hợp cụ thể để thị trường vàng hoạt động theo đúng định hướng phát triển chung của đất nước.

Cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý thị trường vàng sẽ phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản, gồm: (i) bảo đảm quyền sở hữu vàng hợp pháp của tổ chức, cá nhân được công nhận và bảo vệ, cũng như tôn trọng quyền tự do mua – bán, kinh doanh trên thị trường vàng; (ii) NHNN là cơ quan thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý và điều hành thị trường vàng; (iii) thị trường vàng cần được quản lý theo quy luật cung – cầu trên cơ sở liên thông, gắn kết với thị trường vàng thế giới. Nhìn nhận được những nguyên tắc cơ bản này, kết hợp với vai trò của vàng và thị trường vàng đối với nền kinh tế Việt Nam, có thể xác định được tại sao NHNN quản lý hiệu quả thị trường vàng, cũng như phạm vi thẩm quyền quản lý, phương thức quản lý của NHNN.

Bên cạnh đó, xuyên suốt lịch sử ra đời và tồn tại các văn bản pháp luật điều chỉnh đối với thị trường vàng, từ quản lý vàng thuộc dự trữ ngoại hối quốc gia, đến quản lý thị trường vàng trong nước, trách nhiệm quản lý thị trường này luôn được trao cho NHNN. Tuy nhiên, ở giai đoạn trước đây, chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh vàng của NHNN không được quy định một cách đồng nhất, không rõ ràng và còn phân tán. Cụ thể, NHNN chỉ quản lý hoạt động về vàng có liên quan tới điều hành chính sách tiền tệ như: (i) xuất, nhập khẩu vàng nguyên liệu; (ii) sản xuất vàng miếng. Các hoạt động kinh doanh vàng khác như mua bán vàng trang sức mỹ nghệ, vàng miếng được coi là hoạt động kinh doanh bình thường giống như các loại hàng hóa khác do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố cấp phép; Bộ công thương quản lý thị trường… Những kẽ hở trong quản lý nhà nước đối với hoạt động của thị trường vàng làm xuất hiện những hoạt động kinh doanh vàng mới, nhưng lại tạo nên những tiêu cực cho sự phát triển của nền kinh tế. Khắc phục tình trạng đó, với sự thay đổi của thị trường, cùng với việc nhận thức rõ tầm quan trọng trong sự điều tiết của nhà nước đối với thị trường vàng Việt Nam, vai trò của NHNN trong quản lý thị trường vàng mới được nhận diện một cách đầy đủ thông qua những cơ sở pháp lý mà Nhà nước trao cho.

2. Thực trạng về hoạt động quản lý thị trường vàng của Ngân hàng Nhà nước

Thứ nhất, cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý thị trường vàng của NHNN chưa hệ thống và tập trung.

Hiện nay, chưa có văn bản nào do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cao nhất ban hành trao toàn quyền cho NHNN trong quản lý thị trường vàng, dù rằng, ở những hoạt động khác nhau trên thị trường vàng, quyền quản lý đều được trao cụ thể cho NHNN. Chẳng hạn, Luật Ngân hàng Nhà nước 2010 quy định NHNN có nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về ngoại hối, hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng [8; khoản 17 Điều 4]; Pháp lệnh Ngoại hối 2005, sửa đổi 2013 trao cho NHNN thực hiện quản lý vàng thuộc Dự trữ ngoại hối Nhà nước, quản lý và tổ chức thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng; quản lý vàng trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú [15; Điều 31]; Nghị định 24/2012/NĐ-CP, Chính phủ giao cho NHNN là cơ quan thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý các hoạt động kinh doanh vàng theo quy định của Nghị định này [2; khoản 2 Điều 4]. Đến Quyết định số 16/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước của NHNN, NHNN cũng được trao quyền quyết định can thiệp thị trường vàng thông qua việc sử dụng dự trữ ngoại hối của Nhà nước để mua, bán vàng miếng với các tổ chức được phép kinh doanh vàng miếng.

Như vậy, ở các văn bản pháp luật khác nhau, thẩm quyền quản lý thị trường vàng về cơ bản được giao cho NHNN. Tuy nhiên, việc quy định này kéo theo giá trị hiệu lực của văn bản không đồng nhất. Mặt khác, mỗi văn bản điều chỉnh có phạm vi riêng, chỉ có sự trùng lặp với chủ thể quản lý là NHNN, do liên quan đến những đối tượng đặc thù có mối quan hệ liên kết. Dù rằng, không thể phủ nhận, ở thời điểm hiện tại, những văn bản nói trên đã tạo cơ sở pháp lý cho NHNN thực hiện hoạt động quản lý thị trường vàng trên nhiều khía cạnh như việc NHNN ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các hoat động quản lý cụ thể, hay trực tiếp can thiệp vào thị trường vàng. Nhưng điều này không đồng nghĩa với việc, không cần một cơ sở pháp lý chắc chắn và mang tính hệ thống hơn, khẳng định quyền quản lý trên các bộ phận khác nhau của thị trường vàng của NHNN. Có như vậy mới tạo điều kiện cho NHNN thống nhất và chủ động trong việc thực hiện các hoạt động quản lý thị trường vàng.

Thứ hai, thực tiễn triển khai trách nhiệm quản lý thị trường vàng của NHNN còn nhiều bất cập.

Theo quy định tại Điều 16 Nghị định 24/2012/NĐ-CP của Chính phủ, NHNN có trách nhiệm (i) xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành chiến lược, kế hoạch về phát triển thị trường vàng và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động kinh doanh vàng; (ii) bổ sung vàng miếng vào Dự trữ ngoại hối Nhà nước; (iii) thực hiện can thiệp, bình ổn thị trường vàng thông qua các biện pháp: xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu, tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng, thực hiện mua bán vàng miếng trên thị trường trong nước và tổ chức huy động vàng; (iv) cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận đối với các hoạt động trên thị trường vàng; (v) kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ, hoạt động kinh doanh, mua, bán vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ, hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu và hoạt động kinh doanh vàng khác…

Dựa vào cơ sở pháp lý này, NHNN đã thực hiện nhuần nhuyễn và triệt để những chức năng, nhiệm vụ của mình để quản lý thị trường vàng, từ việc ban hành các văn bản pháp luật để thiết lập lại cơ chế hoạt động của thị trường, loại hàng hóa nào được phép giao dịch trên thị trường, giới hạn chủ thể tham gia trên thị trường và những hoạt động của các chủ thể ấy, cho tới việc can thiệp, bình ổn thị trường vàng. Qua đó, NHNN đã tạo ra những thay đổi cơ bản trên thị trường vàng. Cụ thể, quyền sở hữu vàng hợp pháp của người dân vẫn được bảo vệ, số lượng đơn vị kinh doanh vàng bị thu hẹp so với trước kia, đặc biệt là kinh doanh vàng miếng. NHNN độc quyền sản xuất vàng miếng, độc quyền xuất khẩu, nhập khẩu vàng miếng nhưng NHNN cũng tổ chức các phiên đấu thầu vàng miếng để can thiệp, tạo nguồn cung cho thị trường. Tính đến hết năm 2013, NHNN đã tổ chức tổng số 76 phiên đấu thầu vàng với gần 80 tấn vàng được cung ứng cho nhu cầu thị trường [4].

Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện hoạt động quản lý thị trường vàng của NHNN hiện nay vẫn tồn tại những ý kiến trái chiều, tiêu biểu:

Một là, hoạt động quản lý thị trường vàng của NHNN được thực hiện chưa đồng đều. Điều này được thể hiện thông qua lộ trình đưa ra các biện pháp quản lý và điều hành thị trường vàng của NHNN. NHNN tác động tới chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh vàng là TCTD – chủ thể chịu sự quản lý trực tiếp của NHNN thông qua yêu cầu chấm dứt một số hoạt động kinh doanh vàng của TCTD, quy định về trạng thái vàng của TCTD thực hiện kinh doanh vàng miếng. Điều tương tự cũng được áp dụng với hàng hóa trên thị trường vàng, bắt đầu từ quản lý chặt chẽ vàng miếng, sau đó mới đến các loại hàng hóa khác. Có thể hiểu, lộ trình quản lý và điều hành của NHNN là việc giải quyết trước tiên những đối tượng đặc thù có sức ảnh hưởng lớn đến thị trường vàng. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, dường như, sự quản lý đặc biệt của NHNN với các TCTD tạo nên sự phân biệt giữa TCTD với các chủ thể kinh doanh vàng khác. Đơn cử ở việc NHNN quy định TCTD thực hiện kinh doanh mua, bán vàng miếng không được giữ trạng thái vàng cuối ngày vượt quá 2% so với vốn tự có và không được duy trì trạng thái vàng âm [7], trong khi, cũng là doanh nghiệp kinh doanh mua, bán vàng miếng, lại không phải đảm bảo yêu cầu này.

Hai là, NHNN thực hiện chính sách chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng trong hoạt động của các TCTD, chuyển toàn bộ dạng quan hệ này sang quan hệ mua – bán vàng. Chưa kể, thời gian qua NHNN thực hiện cung cho nền kinh tế một lượng lớn vàng thông qua đấu thầu. Liên quan đến vấn đề này, theo ước tính của Công ty cổ phần Sài Gòn Kim Hoàng ACB – SJC, người dân Việt Nam đang tích trữ khoảng 500 tấn vàng, theo ước tính của Hiệp hội Kinh doanh vàng, lượng vàng trong dân hiện vào khoảng 300 – 400 tấn, tương đương hơn 20 tỷ USD, còn Hội đồng Vàng thế giới cho rằng số vàng ròng cất trữ trong dân ở Việt Nam lên đến 1.000 tấn (tương đương 45 tỷ USD và bằng ½ GDP) [12]. Những con số này có thể chưa được thống nhất, tuy nhiên, nhìn vào đó, ta có thể thấy lượng vàng đang được tích trữ trong tay người dân Việt Nam tương đối lớn. Đồng thời, nếu việc chấm dứt huy động vốn bằng vàng của các TCTD như hiện nay, sẽ khiến cho lượng vàng này nằm yên trong túi của người dân, trong khi, nếu lượng vàng này được tham gia vào nền kinh tế, sẽ đáp ứng một nguồn lực lớn phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội.

Ba là, hoạt động quản lý thị trường vàng của NHNN còn chậm đổi mới, không theo kịp sự phát triển của thị trường, chính sách quản lý đối với một số mảng kinh doanh vàng còn bỏ ngỏ, đặc biệt là hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản. Có những hoạt động kinh doanh vàng phát sinh, nhưng vì chưa có được sự điều chỉnh của pháp luật hợp lý, nên Nhà nước lựa chọn việc cấm những hoạt động ấy diễn ra, thay vì lựa chọn phát triển và định hướng nó theo hướng tạo đà phát triển kinh tế, khai thác mặt tích cực của nó. Việc cấm kinh doanh vàng trên tài khoản nước ngoài, việc đóng cửa các sàn giao dịch vàng là những ví dụ điển hình. Từ việc pháp luật giới hạn mạng lưới kinh doanh của TCTD, doanh nghiệp kinh doanh vàng miếng, khiến cho tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế khó khăn hơn nhiều trong việc giao dịch vàng miếng so với trước kia; đến việc những sàn vàng bất hợp pháp vẫn duy trì sau nhiều quy định cấm hoạt động của pháp luật là những thực trạng phản ánh chính sách quản lý thị trường vàng của NHNN ở thời điểm này. Có thể các biện pháp chế tài vẫn tồn tại áp dụng với những hành vi vi phạm nói trên, nhưng khi mức chế tài còn chưa nghiêm, chưa đủ sức răn đe so với lợi nhuận có thể mang lại, thì những hành vi vi phạm pháp luật vẫn luôn tồn tại.

3. Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý thị trường vàng ở Việt Nam hiện nay

Định hướng hoàn thiện

Hoạt động quản lý thị trường vàng dù được xem xét dưới khía cạnh nào cũng phải vừa tôn trọng được quy luật thị trường trong điều tiết hoạt động kinh doanh vàng, vừa phải thể hiện được định hướng của nhà nước, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của thị trường vàng. Ở nước ta, hoạt động mua – bán vàng còn mang màu sắc tập quán, lịch sử và văn hóa lâu đời, vấn đề quan trọng ở đây là làm sao để có thể phát triển lành mạnh thị trường vàng, đảm bảo sự thông suốt trong phạm vi nền kinh tế và liên thông với thị trường quốc tế, hạn chế các tác động tiêu cực và tăng cường đóng góp của thị trường vàng vào sự phát triển của đất nước. Đồng thời, liên quan đến hoạt động quản lý thị trường vàng, cần phải tạo nên một cơ sở pháp lý vững chắc hơn để làm tiền đề cho NHNN thực hiện hiệu quả được hoạt động này trên thực tiễn. Cơ sở pháp lý cần là sự đúc kết dựa trên năng lực thực tế của NHNN và việc học tập kinh nghiệm từ các quốc gia khác để lựa chọn hướng đi, cách quản lý phù hợp với thị trường vàng Việt Nam.

Giải pháp cụ thể

Thứ nhất, cần ban hành một văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Nhà nước thông qua, trong đó, trao trách nhiệm, quyền hạn quản lý thị trường vàng nói chung cho NHNN, xác định những hoạt động NHNN được thực hiện để quản lý từng bộ phận của thị trường vàng. Như vậy mới có thể đảm bảo quyền lợi của những chủ thể tham gia trên thị trường vàng, cũng như tạo cho NHNN cơ sở pháp lý vững chắc để thực hiện trọng trách của mình. Việc trao trách nhiệm này có thể được thể hiện tại Luật Ngân hàng Nhà nước sửa đổi bổ sung.

Thứ hai, NHNN cần xây dựng đồng bộ các biện pháp quản lý và điều hành thị trường vàng, để đảm bảo sự bình đẳng trong ứng xử với các chủ thể khác nhau thực hiện hoạt động trên thị trường, và những hàng hóa khác nhau của thị trường. Cụ thể, NHNN cần tổ chức, sắp xếp và chú trọng phát triển thị trường vàng trang sức bên cạnh sự quan tâm thị trường vàng miếng từ trước đến nay; hay bổ sung thêm quy định về trạng thái vàng của các doanh nghiệp được phép kinh doanh mua, bán vàng miếng để tránh hiện tượng các doanh nghiệp này lợi dụng việc nắm giữ nhiều vàng để đầu cơ, làm giá, gây cung – cầu giả tạo trên thị trường, gây khó khăn cho NHNN kiểm soát giá vàng.

Thứ ba, NHNN cần xây dựng lộ trình chuyển đổi vàng với tính chất là tài sản tài chính thành nguồn lực để đầu tư phát triển. Đối với việc huy động vàng trong dân, theo kinh nghiệm của các quốc gia khác như Mỹ, như Ấn Độ, hoạt động này không phải vấn đề dễ thực hiện, ngay cả khi cố gắng áp đặt các biện pháp hành chính. Sự thất bại của Chính phủ Mỹ trong việc cố gắng áp đặt biện pháp hành chính trên thị trường vàng là một ví dụ điển hình. Khi Chính phủ Mỹ quyết định tịch thu vàng để xóa bỏ hoàn toàn vai trò của vàng trong hệ thống tiền tệ vào này 5/4/1933, chỉ có khoảng 21,9% lượng tiền vàng trong lưu thông vào thời điểm đó được giao nộp, và số lượng còn lại vẫn được cá nhân nắm giữ trái phép [13; tr.306 – 307]. Do đó, NHNN khi muốn huy động vàng trong dân cần chuẩn bị đầy đủ những điều kiện cần và đủ. Điều kiện cần ở đây là sự ổn định về chính sách kinh tế vĩ mô kết hợp với cơ sở pháp lý rõ ràng và chắc chắn. Điều kiện đủ là NHNN phải xây dựng một lộ trình tương đối cụ thể và chặt chẽ, đồng thời phải đặt vấn đề an toàn tài sản cho người dân, cũng như an toàn cho toàn hệ thống tài chính và việc sử dụng nguồn lực huy động này lên hàng đầu.

Cách thức huy động vàng từ người dân được nhiều ý kiến đồng thuận nhất và học tập kinh nghiệm từ các quốc gia khác là NHNN sẽ phát hành chứng chỉ vàng. Chứng chỉ vàng là chứng nhận về quyền sở hữu của chủ sở hữu vàng thay vì việc lưu trữ vàng thực tế [9; tr.27]. Chứng chỉ vàng có thể được phát hành với các loại mệnh giá 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ, 1 lượng, 2 lượng, 5 lượng [14]… Mặt khác, khi thực hiện huy động vàng thông qua chứng chỉ vàng như vậy, đồng nghĩa với việc NHNN phải đảm bảo được tính thanh khoản tốt cho loại chứng chỉ này. Chứng chỉ vàng được cầm cố, thế chấp, cho vay, chuyển nhượng… và lâu dài, có thể được coi là một loại chứng khoán để giao dịch trên thị trường giao dịch vàng tập trung. Như vậy, một mặt, người dân thay vì phải nắm giữ vàng vật chất, sẽ nắm chứng chỉ vàng với ưu điểm là an toàn, tiện lợi, không sợ vàng giả, vàng không đủ tuổi, không đủ trọng lượng, không sợ chênh lệch giá… Mặt khác, nền kinh tế sẽ có những thay đổi tích cực, do nguồn vàng trong dân tập trung được về hệ thống ngân hàng, góp phần tăng dự trữ quốc gia và tiết kiệm được USD do không phải sử dụng để nhập khẩu vàng.

Thứ tư, nghiên cứu thành lập Sở giao dịch vàng quốc gia. Thực tế, các quốc gia khác như Trung Quốc, Ấn Độ… sau quãng thời gian quản lý và kiểm soát chặt chẽ thị trường vàng như nước ta bây giờ, đã nhận ra nhiều điều bất cập. Thay bằng kiểm soát chặt chẽ, các quốc gia này lựa chọn việc tự do hóa thị trường vàng theo những lộ trình nhất định [14; tr.150]. Sự thay đổi đó đến nay đã mang lại những kết quả tốt, và một trong những thành công từ việc quản lý thị trường vàng của hai nước này là sự ra đời của Sở giao dịch vàng quốc gia. Đây là giải pháp quan trọng trong việc đưa thị trường vàng trong nước gắn kết hợp lý với thị trường vàng quốc tế. Vì thế, thành lập Sở giao dịch vàng quốc gia là mô hình chúng ta nên học tập.

Mô hình này sẽ loại trừ đi trong đó việc các doanh nghiệp, TCTD tự mình thành lập những sàn vàng tự do. Bởi lẽ thực tế, năm 2007 – 2009, nước ta có sự “nở rộ” rất nhiều sàn vàng, các sàn vàng hoạt động rầm rộ, cho phép các nhà đầu tư kinh doanh vàng qua tài khoản trực tiếp với thị trường quốc tế. Sàn vàng đã thu hút sự tham gia của nhiều đơn vị: doanh nghiệp kinh doanh vàng, ngân hàng, thậm chí tổ chức không có chức năng kinh doanh vàng…, lôi kéo hàng chục ngàn nhà đầu tư tham gia đã tạo nên một cơn sốt vàng ảo; kéo theo đó là rất nhiều hệ lụy đối với nhà đầu tư, doanh nghiệp và tổ chức tài chính, ảnh hưởng đến sự ổn định trên thị trường vàng, ngoại hối và tiền tệ. Với những bất cập này, cuối năm 2009, Nhà nước đã cấm việc mở các sàn giao dịch vàng.

Mặt khác, việc quản lý nhà nước với sở giao dịch vàng quốc gia sẽ góp phần đảm bảo thị trường hoạt động minh bạch, hiệu quả, đảm bảo ổn định thị trường tài chính và nền kinh tế, làm giảm chi phí lưu thông vàng vật chất, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng cho hoạt động kinh doanh vàng, thỏa mãn được nhu cầu kinh doanh của các cá nhân và doanh nghiệp, đồng thời giúp giải quyết tình trạng nhiều cá nhân và doanh nghiệp mở tài khoản buôn bán vàng ở nước ngoài, làm nguồn vốn chảy ra bên ngoài một cách không chính thức; giúp cân bằng giá vàng trong nước và quốc tế nhờ tính liên thông giữa hai thị trường. Thêm nữa, sở giao dịch vàng quốc gia sẽ giúp Chính phủ và NHNN quản lý thị trường vàng được tốt hơn, NHNN cũng có thể có sự can thiệp vào thị trường vàngthông qua nơi này. Như vậy, Sở giao dịch vàng sẽ tạo ra một sân chơi minh bạch, bình đẳng, có kiểm soát, có những quy định rõ ràng thay vì cấm như trước đây [11].

Từ khóa liên quan: Ngân hàng Nhà nước, quản lý, thị trường vàng

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Chính phủ (2014), Nghị định 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng

2. Chính phủ (2012), Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 03/04/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng

3. Đạo Luật Ngân hàng Thái Lan (1943)

4. Thanh Lan (2014), “Ngân hàng nhà nước: chưa cần đấu thầu vàng trở lại”, Báo điện tử tin nhanh Việt Nam VNExpress, truy cập ngày 17/3/2014, tại địa chỉ: http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/hang-hoa/ngan-hang-nha-nuoc-chua-can-dau-thau-vang-tro-lai-2965019.html

5. PGS, TS. Nguyễn Thị Phương Liên và đ.t.g (2011), Thị trường vàng và hoạt động kinh doanh vàng của các Ngân hàng thương mại – Cơ sở lý luận và thực tiễn Việt Nam, Nxb. Thống kê, Hà Nội

6. Ngân hàng Nhà nước (2012), Báo cáo công tác quản lý nhà nước đối với thị trường vàng, trang tin nhanh Việt Nam, truy cập ngày 30/5/2013, tại địa chỉ http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/vi-mo/thu-hep-chenh-lech-gia-vang-chi-la-muc-tieu-tinh-the-2769629-p5.html

7. Ngân hàng Nhà nước (2012), Thông tư 38/2012/TT-NHNN ngày 28/12/2012 của Ngân hàng Nhà nước quy định về trạng thái vàng của các Tổ chức tín dụng

8. Quốc hội (2010), Luật số 46/2010/QH12, Luật Ngân hàng Nhà nước

9. Ronald H.L.Tan (1981), The Gold market, Singapore University Press, Kent Ridge, Singapore

10. GS, TS. Trần Ngọc Thơ (2014), Quản lý thị trường vàng: sứ mệnh của Ngân hàng Nhà nước, Đặc san Toàn cảnh Ngân hàng Việt Nam 2014, Báo Đầu tư chứng khoán – Báo đầu tư, xuất bản ngày 5/5/2014

11. Trang tin nhanh Việt Nam, Bài học quản lý thị trường vàng Trung Quốc và Ấn Độ, truy cập ngày 29/09/2013, tại địa chỉ http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/ebank/ngan-hang/bai-hoc-quan-ly-thi-truong-vang-trung-quoc-va-an-do-2866678.html

12. Xuân Tùng (2014), “Chính phủ yêu cầu huy động vàng trong dân”, Báo Đất Việt, truy cập ngày 06/01/2014, tại địa chỉ: http://baodatviet.vn/kinh-te/thi-truong/chinh-phu-yeu-cau-huy-dong-vang-trong-dan-2363802/

13. James Turk & John Rubino (2009), Sự sụp đổ của đồng đô – la và phương pháp tìm kiếm lợi nhuận từ nó, Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Trung, Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh

14. Ủy ban Kinh tế Quốc Hội (2013), Diễn đàn kinh tế Mùa thu – Kinh tế Việt Nam 2013, triển vọng 2014: Nỗ lực thực hiện ba đột phá chiến lược, Nxb. Tri thức, 2013

15. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2005), Pháp lệnh ngoại hối (sửa đổi, bổ sung 2013)

NGUỒN: TẠP CHÍ LUẬT HỌC, SỐ THÁNG 6-2015

Advertisements