TRẦN VŨ HẢI

ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

1. Quan niệm về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm và sự ảnh hưởng đến nội dung pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này

a) Quan niệm về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm

Hầu hết các công trình nghiên cứu hiện nay đều định nghĩa hoạt động kinh doanh bảo hiểm (KDBH) chính là việc doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) cung ứng sản phẩm bảo hiểm thông qua giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm (HĐBH). Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia nhận định: Bên cạnh hoạt động KDBH thì hoạt động đầu tư của DNBH là hết sức quan trọng, có mối liên hệ mật thiết và hỗ trợ cho hoạt động KDBH, thậm chí đầu tư còn được coi là một chức năng cơ bản của DNBH[1].

Mặc dù phần lớn các tác giả đều nhấn mạnh đến hoạt động đầu tư của DNBH, nhưng thực tế vẫn xem hoạt động KDBH và hoạt động đầu tư là hai lĩnh vực kinh doanh riêng biệt. Tuy nhiên theo người viết thì quan niệm như vậy là chưa chính xác vì những lý do cơ bản sau đây:

Thứ nhất, DNBH luôn có sẵn một lượng vốn đáng kể từ phí bảo hiểm và có quyền sử dụng nguồn vốn này để đầu tư.

Trong lĩnh vực KDBH, doanh thu từ phí bảo hiểm thường phát sinh trước chi phí bồi thường và được tích lũy dưới hình thức dự phòng nghiệp vụ. Do vậy, với nguồn dự phòng nghiệp vụ có sẵn, cộng với vốn chủ sở hữu, DNBH có thể thực hiện các hoạt động đầu tư trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh toán cho các HĐBH khi phát sinh sự kiện bảo hiểm. Do đó, hoạt động đầu tư từ nguồn dự phòng luôn gắn kết với nghiệp vụ bảo hiểm và là một phần không thể thiếu trong hoạt động KDBH. Việc sử dụng nguồn dự phòng phí bảo hiểm để đầu tư của DNBH về bản chất cũng tương tự như việc các tổ chức tín dụng có quyền sử dụng nguồn vốn huy động để cấp tín dụng, trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh toán cho những người gửi tiền theo quy định của pháp luật.

Quyền đầu tư từ nguồn dự phòng phí của DNBH luôn được pháp luật các quốc gia công nhận. Điều này được giải thích bởi hai lý do cơ bản: một mặt, DNBH là một chủ thể kinh doanh, do vậy có quyền sử dụng những nguồn lực sẵn có để tạo ra lợi nhuận cho các cổ đông/thành viên góp vốn, từ đó đóng góp của cải vật chất cho xã hội thông qua nguồn thu thuế; mặt khác, hoạt động đầu tư sẽ góp phần làm tăng khả năng của DNBH để đảm bảo chi trả cho các nghĩa vụ tài chính phát sinh từ HĐBH theo thỏa thuận với người tham gia bảo hiểm.

Thứ hai, nghiệp vụ đầu tư của DNBH từ nguồn dự phòng phí là hoạt động thuộc về bản chất của hoạt động KDBH, cho phép phân biệt hoạt động KDBH với việc đánh bạc.

Mặc dù đều dựa trên lý thuyết xác suất và có tính chất may rủi, nhưng nếu như việc đánh bạc chỉ thuần túy dựa vào may rủi thì hoạt động đầu tư của DNBH giúp cho DNBH không còn quá phụ thuộc vào yếu tố này. DNBH không chỉ trông chờ vào việc người tham gia bảo hiểm không gặp rủi ro, hay nói cách khác thì nguồn thu nhập của DNBH chủ yếu dựa vào hiệu quả của việc đầu tư, chứ không chỉ dựa vào chênh lệch giữa nguồn doanh thu phí bảo hiểm với chi phí bồi thường/trả tiền bảo hiểm. Chính vì vậy, hiệu quả đầu tư sẽ có khả năng đảm bảo cho DNBH đối mặt với những rủi ro từ các HĐBH. Ngay cả khi có những rủi ro có tính chất hàng loạt thì DNBH vẫn có thể đảm bảo khả năng chi trả khi có được hiệu quả đầu tư tốt.

Từ những lập luận trên có thể thấy rằng: khi nói đến hoạt động KDBH tức là nói đến cả hai nội dung là hoạt động cung ứng sản phẩm bảo hiểm và hoạt động đầu tư của DNBH. Hai hoạt động này có mối liên hệ mật thiết với nhau để đảm bảo việc kinh doanh của DNBH có hiệu quả.

Vậy mối quan hệ giữa hoạt động cung ứng sản phẩm bảo hiểm với hoạt động đầu tư của DNBH thể hiện như thế nào?

Về bản chất, hoạt động cung ứng dịch vụ bảo hiểm là nghiệp vụ chính, cơ bản của kinh doanh bảo hiểm, còn hoạt động đầu tư là nghiệp vụ phái sinh, thể hiện qua những nội dung chính sau đây:

– Thứ nhất, hoạt động cung ứng dịch vụ bảo hiểm là hoạt động cơ bản nhất, giúp phân biệt chức năng của DNBH với chức năng các loại hình doanh nghiệp khác. Nói cách khác, đã là DNBH thì phải cung ứng dịch vụ bảo hiểm cho khách hàng.

– Thứ hai, hoạt động đầu tư của DNBH chủ yếu dựa vào nguồn dự phòng nghiệp vụ được thiết lập dựa trên phí bảo hiểm. Nguồn vốn có được là dựa trên các sản phẩm bảo hiểm đã phân phối, theo đó khách hàng sẽ nộp phí một lần hoặc định kỳ như thỏa thuận. Như vậy, hoạt động đầu tư của DNBH liên quan chặt chẽ đến doanh thu phí bảo hiểm.

Từ những phân tích trên đây, có thể kết luận, đầu tư từ nguồn phí bảo hiểm là một nghiệp vụ quan trọng thuộc hoạt động KDBH. Về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn, lợi ích dành cho người tham gia bảo hiểm cũng như lợi nhuận của DNBH có được chủ yếu từ hoạt động đầu tư, thay vì từ việc quản lý đơn thuần doanh thu phí bảo hiểm và chi trả tiền bảo hiểm.

b) Sự ảnh hưởng từ quan niệm về hoạt động đầu tư của DNBH đến nội dung pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này

Xuất phát từ quan niệm đã phân tích ở trên về mối quan hệ chặt chẽ giữa hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm và hoạt động đầu tư trong kinh doanh bảo hiểm đã đòi hỏi pháp luật cần đảm bảo điều chỉnh những nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, pháp luật cần có các quy định nhằm đảm bảo an toàn cho danh mục đầu tư.

Mặc dù an toàn trong đầu tư là một nguyên tắc chung đối với mọi hoạt động đầu tư, tuy nhiên đối với DNBH lại càng hết sức quan trọng, bởi lẽ hầu hết các sản phẩm bảo hiểm đều đòi hỏi DNBH phải sẵn sàng thực hiện việc bồi thường/trả tiền, do đó nếu hoạt động đầu tư gặp rủi ro cũng đồng nghĩa với việc ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của DNBH. Theo Hiệp hội quốc tế các cơ quan giám sát bảo hiểm (IAIS) thì những rủi ro mà DNBH thường phải đối mặt là rủi ro tiền tệ, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và rủi ro do mức độ tập trung đầu tư quá mức[2]. Do đó, để đảm bảo an toàn, pháp luật các quốc gia thường yêu cầu DNBH tập trung danh mục đầu tư vào những tài sản có độ an toàn cao và được quản lý tốt. Theo tổng kết năm 2010 của Ủy ban bảo hiểm Châu Âu (CEA) thì trên 80% vốn của DNBH được đầu tư vào các tổ chức tài chính, nơi tài sản đầu tư thường được quản lý tốt hơn những chủ thể khác[3].

Thứ hai, pháp luật cần có các quy định nhằm đảm bảo tính thanh khoản đối với tài sản đầu tư.

Đảm bảo tính thanh khoản đối với tài sản đầu tư cũng là một nguyên tắc quan trọng không kém nguyên tắc đảm bảo an toàn. Bởi lẽ, DNBH cần đảm bảo duy trì khả năng chi trả đối với các HĐBH khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. Một đặc trưng của sự kiện bảo hiểm chính là việc không thể dự đoán trước khi nào nó xảy ra, do đó, DNBH phải luôn trong tình trạng sẵn sàng đáp ứng quyền lợi của khách hàng. Chính vì vậy, pháp luật các quốc gia thường yêu cầu danh mục đầu tư của DNBH cần ưu tiên cho những loại tài sản đầu tư có tính thanh khoản cao, ví dụ như các sản phẩm tài chính như cổ phiếu, trái phiếu v.v.. Trên thực tế, các DNBH thường rất hạn chế tham gia hoạt động đầu tư trực tiếp vì tính thanh khoản kém hơn nhiều so với hoạt động đầu tư gián tiếp trên thị trường tài chính.

Thứ ba, pháp luật các quốc gia thường có nhiều quy định hạn chế đầu tư để đảm bảo khả năng thanh toán của DNBH.

Về nguyên tắc, pháp luật thường yêu cầu các DBHN phải tiến hành đầu tư một cách an toàn, trên cơ sở đảm bảo giữ vững khả năng thanh toán thường xuyên theo dự kiến bằng những tiêu chí đánh giá nhất quán. IAIS cho rằng pháp luật điều chỉnh về đầu tư cần đảm bảo khả năng thanh toán của DNBH, giúp DNBH có thể giải quyết các rủi ro phải đối mặt. Pháp luật có thể đặt ra các quy định hoặc những giới hạn cụ thể về các hoạt động đầu tư của DNBH để hạn chế việc DNBH theo đuổi những mục tiêu đầu tư có nhiều rủi ro[4]. Ở châu Âu, pháp luật thường quy định DNBH phải tuân thủ một số nguyên tắc về chiến lược đầu tư hoặc đặt ra giới hạn định lượng về các loại tài sản mà DNBH có thể đầu tư như giới hạn phần trăm lượng vốn đầu tư vào cổ phiếu, bất động sản hay việc hạn chế đầu tư ra nước ngoài[5]. IAIS còn cho rằng những yêu cầu của pháp luật cần phải cung cấp cơ sở và động lực cho việc thực hiện quản lý rủi ro hiệu quả của các DNBH trong lĩnh vực đầu tư, chứ không đơn thuần chỉ là hạn chế đầu tư[6].

Thứ tư, pháp luật cũng cần có những quy định điều chỉnh khác nhau đối với bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ.

Do nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ có những đặc trưng khác nhau, nên pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của DNBH cũng cần những quy định điều chỉnh đặc thù đối với từng loại hình[7]. Trong lĩnh vực BHNT thì hầu hết các sản phẩm bảo hiểm đều phát sinh nghĩa vụ trả tiền của DNBH một cách khá chắc chắn, trừ sản phẩm bảo hiểm tử kỳ thuần túy là hoàn toàn phụ thuộc vào rủi ro. Hay nói cách khác, hầu hết các sản phẩm BHNT đều là sự kết hợp giữa nhu cầu bảo hiểm và nhu cầu tiết kiệm. Nhiều sản phẩm BHNT hiện nay có khuynh hướng nhấn mạnh hơn đến yếu tố đầu tư, bên cạnh yếu tố bảo hiểm truyền thống. Do đó, lợi ích mà DNBH cung cấp sản phẩm BHNT có được chính là quyền sử dụng dự phòng nghiệp vụ trong khoảng thời gian có hiệu lực của hợp đồng. Do vậy, DNBH luôn phải tiến hành các hoạt động đầu tư mới có khả năng thu được lợi nhuận sau khi thực hiện các nghĩa vụ chi trả cho người tham gia bảo hiểm. Bên cạnh đó, lợi nhuận từ hoạt động đầu tư của DNBH mới đảm bảo yếu tố tiết kiệm trong các sản phẩm BHNT, ít nhất là việc bảo vệ người tham gia bảo hiểm trước tình trạng lạm phát của nền kinh tế do tham gia bảo hiểm với thời hạn dài. Trong khi đó đối với lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, yếu tố bảo hiểm chiếm ưu thế tuyệt đối cùng với thời hạn bảo hiểm ngắn nên đã ảnh hưởng đến khả năng đầu tư dài hạn của DNBH. Chính vì vậy, pháp luật các quốc gia thường có những quy định mở rộng hơn quyền đầu tư của DNBH kinh doanh sản phẩm BHNT so với DNBH kinh doanh sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ.

Hiện nay, danh mục đầu tư của DNBH trong lĩnh vực BHNT thường tập trung vào các tài sản đầu tư dài hạn như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, cổ phiếu, thậm chí cả bất động sản. Trong khi đó, hoạt động đầu tư của các DNBH phi nhân thọ thường tập trung vào đầu tư ngắn hạn và tài sản có tính thanh khoản cao, ví dụ như gửi tiền ngân hàng hoặc mua tín phiếu Kho bạc nhà nước.

2. Đánh giá về thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của DNBH

a) Những kết quả đã đạt được

Thứ nhất, pháp luật Việt Nam đề cao nguyên tắc an toàn và hiệu quả trong đầu tư của DNBH.

Tương tự pháp luật của nhiều quốc gia, Luật KDBH hiện hành[8] ở Việt Nam quy định hoạt động đầu tư vốn của DNBH phải bảo đảm nguyên tắc an toàn, hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu chi trả thường xuyên cho các cam kết theo HĐBH. Để đảm bảo nguyên tắc này, DNBH chỉ được thực hiện hoạt động đầu tư ở những nội dung như mua trái phiếu Chính phủ; mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản; góp vốn vào các doanh nghiệp khác; trực tiếp cho vay theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng; và gửi tiền tại các tổ chức tín dụng.

Thứ hai, pháp luật quy định nguồn vốn đầu tư bao gồm hai loại chủ yếu là nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ và nguồn vốn chủ sở hữu.

Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ của DNBH là tổng dự phòng nghiệp vụ trừ các khoản tiền mà DNBH dùng để trả tiền bảo hiểm thường xuyên trong kỳ. Đối với nguồn vốn này, DNBH được quyền đầu tư vì hai mục đích: trước hết, làm gia tăng lợi nhuận cho DNBH; sau đó, tăng cường khả năng chi trả và lợi ích cho người tham gia bảo hiểm. Cũng theo quy định của Nghị định 46/2007/NĐ-CP thì để đảm bảo khả năng chi trả bình thường, khoản tiền dùng để trả tiền bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với DNBH kinh doanh BHNT không thấp hơn 5% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm (mức này đối với DNBH phi nhân thọ là 25%) và phải được gửi tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam.

Đối với nguồn vốn chủ sở hữu, Thông tư 155/2012/TT-BTC phân chia nội dung đầu tư thành hai nhóm: đầu tiên, đối với hoạt động đầu tư để thiết lập cơ sở vật chất và trang trải chi phí kinh doanh thì được thực hiện theo quy định chung; sau đó, đối với phần vốn chủ sở hữu còn lại thì phải được sử dụng để đầu tư tương tự như đối với nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm. Đồng thời, để đảm bảo sự minh bạch, pháp luật cũng quy định DNBH phải tách bạch trong hạch toán các loại nguồn đầu tư, cũng như đảm bảo ghi nhận các tài sản đầu tư một cách nhất quán.

Thứ ba, pháp luật quy định về giới hạn đầu tư đối với từng loại hình đầu tư.

Nghị định 46/2007/NĐ-CP cho phép DNBH được mua không hạn chế trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh cũng như gửi tiền tại các tổ chức tín dụng. Đối với hoạt động đầu tư cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh hoặc góp vốn vào các doanh nghiệp khác thì DNBH kinh doanh BHNT chỉ được thực hiện tối đa bằng 50% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ (trong khi DNBH phi nhân thọ có mức giới hạn thấp hơn, chỉ là 35%). Tương tự, đối với kinh doanh bất động sản hoặc cho vay, các giới hạn này lần lượt là 40% (đối với DNBH kinh doanh BHNT) và 20% (đối với DNBH phi nhân thọ) vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ. Quy định này cũng được áp dụng đối với nguồn vốn chủ sở hữu dành để đầu tư. Từ quy định cho thấy, các hạn mức đối với DNBH kinh doanh BHNT thường là cao hơn nếu so sánh với DNBH phi nhân thọ. Thông tư 155/2012/TT-BTC cũng hướng dẫn bổ sung, theo đó để bảo đảm an toàn tài chính, DNBH không được đầu tư trở lại dưới mọi hình thức cho các cổ đông/thành viên góp vốn và người có liên quan (trừ trường hợp gửi tiền vào tổ chức tín dụng), đồng thời những tổ chức tín dụng nhận tiền gửi phải có mức tín nhiệm cao (thuộc nhóm 1 và 2) theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước.

Thứ tư, pháp luật quy định về hoạt động đầu tư ra nước ngoài của DNBH.

Pháp luật hiện hành quy định DNBH có quyền sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu để đầu tư ra nước ngoài và DNBH được phép thực hiện nhiều hình thức đầu tư như đầu tư thành lập DNBH, chi nhánh DNBH ở nước ngoài và các hình thức đầu tư khác. Tuy nhiên, DNBH chỉ được đầu tư ra nước ngoài ở phần vốn tương ứng với số chênh lệch giữa vốn chủ sở hữu vượt quá so với vốn pháp định. Trong trường hợp biên khả năng thanh toán tối thiểu lớn hơn vốn pháp định, thì giới hạn đầu tư ra nước ngoài sẽ là chênh lệch giữa vốn chủ sở hữu vượt quá biên khả năng thanh toán tối thiểu. Một nội dung quan trọng khác cũng được quy định trong việc thực hiện đầu tư ra nước ngoài của DNBH đó là phải được sự chấp thuận của Bộ Tài chính khi tiến hành đầu tư, điều chỉnh và chấm dứt đầu tư với quy trình được quy định tại Thông tư 125/2012/TT-BTC.

Từ những phân tích trên đây, có thể nhận xét rằng các quy định của pháp luật Việt Nam về đầu tư của DNBH là khá tương đồng với quy định ở nhiều quốc gia trên thế giới như các giới hạn đầu tư và hạn chế đầu tư. Một số nước cũng có quy định về hạn chế đầu tư ra nước ngoài của DNBH nhằm đảm bảo cho nguồn vốn đầu tư đáp ứng những nhu cầu trong nước, đặc biệt là những nước đang phát triển. Ví dụ trong thời gian gần đây, pháp luật Trung Quốc có nhiều quy định mới nhằm hạn chế việc đầu tư ra nước ngoài của các DNBH Trung Quốc. Theo quy định mới năm 2012 của Cơ quan quản lý bảo hiểm Trung Quốc (CIRC), việc đầu tư ra nước ngoài chỉ giới hạn trong việc đầu tư gián tiếp vào trái phiếu, cổ phiếu, các quỹ đầu tư và bất động sản, đồng thời DNBH phải đảm bảo khả năng thanh toán và chỉ được đầu tư không quá 15% tổng tài sản của mình. Tổ chức đầu tư ở nước ngoài nhận ủy thác đầu tư từ DNBH Trung Quốc cũng phải đảm bảo năng lực tài chính và kinh nghiệm[9].

b) Những bất cập còn tồn tại

Bên cạnh những ưu điểm đạt được, các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của DNBH vẫn còn một số bất cập, thể hiện ở những khía cạnh chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, các quy định về giới hạn đầu tư còn khá sơ sài, chưa đảm bảo sự cân bằng giữa nguyên tắc an toàn và tính sinh lời của hoạt động đầu tư.

Với những quy định trên, nhìn chung DNBH khá thuận lợi trong hoạt động đầu tư để đảm bảo đa dạng hóa danh mục đầu tư. Tuy nhiên, cần có những giới hạn cụ thể hơn để đảm bảo sự an toàn cũng như có căn cứ cho hoạt động giám sát trong một số hoạt động đầu tư, ví dụ như đầu tư vào cổ phiếu, góp vốn doanh nghiệp v.v.. Nghị định 46/2007/NĐ-CP mới chỉ quy định những hạn chế về tỷ lệ vốn đầu tư tối đa đối với từng loại hình đầu tư mà chưa có các quy định khống chế tỷ lệ đầu tư cụ thể đối với từng loại tài sản đầu tư, ví dụ như tỷ lệ hay mức đầu tư vào cổ phiếu không bảo lãnh tại một doanh nghiệp, hoặc tỷ lệ hay mức cho vay tối đa đối với một khách hàng v.v.. Bên cạnh đó, Nghị định 46/2007/NĐ-CP cũng không phân biệt giữa chứng khoán được niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán chính thức và chứng khoán không được niêm yết hoặc đăng ký giao dịch, trong khi đó chứng khoán trên thị trường chính thức thường có độ an toàn cao hơn. Pháp luật nhiều quốc gia thường quy định cụ thể về những giới hạn này. Chẳng hạn, Luật mẫu về hoạt động đầu tư của DNBH của Hiệp hội quốc gia các Ủy ban bảo hiểm Hoa Kỳ (NAIC) quy định nhiều giới hạn đầu tư đối với lĩnh vực BHNT như: DNBH không được nắm giữ quá 5% cổ phiếu có quyền biểu quyết của một tổ chức lưu ký, không được nắm giữ quá 20% so với tài sản của DNBH đối với các khoản đầu tư được xếp hạng là trung bình hoặc thấp, v.v.[10].

Hiện hành, các giới hạn đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam chỉ có giới hạn tối đa mà không có giới hạn tối thiểu như nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở Liên minh Châu Âu[11]. Trong khi đó, quy định về giới hạn đầu tư tối thiểu có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo nguồn vốn đầu tư của DNBH được đa dạng và phù hợp với định hướng phát triển thị trường vốn của nhà nước.

Trên thực tế, hoạt động đầu tư của các DNBH kinh doanh BHNT tại Việt Nam thời gian qua được đánh giá là khá đơn giản, chỉ tập trung chủ yếu vào hai lĩnh vực là đầu tư vào trái phiếu Chính phủ và gửi tại tổ chức tín dụng, còn phần lớn nguồn vốn đầu tư còn lại dành để ủy thác đầu tư. Số liệu thống kê năm 2012 của Bộ Tài chính đã chứng minh cho nhận định trên. Ví dụ: các DNBH kinh doanh BHNT có tỷ lệ đầu tư bình quân vào trái phiếu Chính phủ là 48,33%, gửi vào tổ chức tín dụng là 15,25%, ủy thác đầu tư là 23,83%, cho vay là 7,05%, các lĩnh vực đầu tư khác không đáng kể và đặc biệt là không có hoạt động đầu tư bất động sản. Thậm chí có nhiều DNBH có vốn đầu tư nước ngoài mới thành lập những năm gần đây chỉ đầu tư bằng hình thức gửi tiền tại tổ chức tín dụng[12]. Trong khi đó ở nhiều quốc gia tại Liên minh Châu Âu, trừ Đức, có cơ cấu đầu tư của DNBH nghiêng về trái phiếu và cổ phiếu, trong đó đầu tư cổ phiếu chiếm một tỷ lệ đáng kể từ 20% đến 30%[13].

Thứ hai, quy định về ủy thác đầu tư là không rõ ràng, có thể làm sai lệch các giới hạn đầu tư trên thực tế.

Theo quy định hiện hành thì DNBH có thể trực tiếp đầu tư hoặc đầu tư thông qua ủy thác cho chủ thể khác có chức năng đầu tư, ví dụ như công ty quản lý đầu tư. Một thực tế hiện nay đang là xu hướng chung trên thế giới là việc các DNBH thực hiện đầu tư thông qua ủy thác đầu tư. Tại Việt Nam, xu hướng này cũng đang dần rõ nét trong thời gian gần đây với việc rất nhiều DNBH xin cấp phép để thành lập công ty đầu tư trực thuộc. Do đó, vấn đề đầu tư ủy thác mặc dù đang rất cần được pháp luật điều chỉnh nhưng hiện vẫn chưa có quy định cụ thể. Các quy định hiện hành không thể hiện rõ việc đầu tư qua ủy thác có phải đáp ứng những giới hạn đầu tư theo quy định hay không. Về bản chất, ủy thác đầu tư là một phương thức đầu tư chứ không phải là lĩnh vực đầu tư vì nó không thể hiện được hiện DNBH đang đầu tư vào loại tài sản đầu tư nào hoặc chủ thể nào tiếp nhận đầu tư. Những thống kê số liệu của Bộ Tài chính về hoạt động đầu tư của DNBH trong những năm qua cho thấy cơ quan này đang quan niệm đầu tư qua ủy thác là một lĩnh vực đầu tư. Sự nhầm lẫn này sẽ làm cho việc xem xét các giới hạn đầu tư trở nên khó khăn hơn, thậm chí sẽ tạo điều kiện cho DNBH “lách” các quy định về giới hạn đầu tư bằng cách ủy thác đầu tư cho chính những công ty đầu tư do mình lập ra. Trong khi đó, các quốc gia có thị trường bảo hiểm phát triển như Liên minh Châu Âu hay Hoa Kỳ đều quan niệm là khi xác định các giới hạn đầu tư thì không phụ thuộc vào việc DNBH trực tiếp đầu tư hay đầu tư qua ủy thác. Điều này thể hiện rất rõ tại Luật mẫu về hoạt động đầu tư của DNBH của NAIC và các hướng dẫn của IAIS. Với sự thiếu vắng các quy định như phân tích ở trên, hoạt động đầu tư ủy thác của DNBH trong thời gian qua được các chuyên gia đánh giá là chưa đạt những chuẩn mực cần thiết theo thông lệ quốc tế[14].

Thứ ba, có sự mâu thuẫn giữa Luật KDBH và Luật Các tổ chức tín dụng liên quan đến nghiệp vụ cho vay.

Theo quy định của Luật KDBH, cho vay là một trong những lĩnh vực đầu tư được thực hiện theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, trong đó bao gồm cả việc cho vay độc lập và cho vay theo hợp đồng bảo hiểm (đối với lĩnh vực BHNT). Mặc dù Luật KDBH quy định việc cho vay phải được thực hiện theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, nhưng bản thân Luật Các tổ chức tín dụng lại cấm các tổ chức không phải tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng với tư cách là một hoạt động kinh doanh, trừ giao dịch ký quỹ, giao dịch mua, bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán[15]. Như vậy, nghiệp vụ cho vay của DNBH hiện đang được thực hiện trên thực tế được xem là không hợp pháp theo cách tiếp cận của Luật Các tổ chức tín dụng vì DNBH đương nhiên không phải là tổ chức tín dụng.

3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động đầu tư của DNBH

Từ những đánh giá ở trên, có thể khẳng định pháp luật quy định về hoạt động đầu tư của DNBH kinh doanh BHNT vẫn còn nhiều bất cập, cần được sửa đổi, bổ sung theo những giải pháp dưới đây.

Thứ nhất, pháp luật cần quy định cụ thể hơn về những giới hạn đầu tư của DNBH đối với từng loại tài sản đầu tư.

Theo quan điểm của người viết, ngoại trừ trái phiếu Chính phủ là tài sản được đầu tư không hạn chế thì các tài sản đầu tư khác đều nên có quy định về giới hạn đầu tư. Ngay cả đối với việc đầu tư bằng cách gửi tiền vào tổ chức tín dụng và đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh cũng cần phải hạn chế một tỷ lệ nhất định. Bản thân tổ chức tín dụng cũng là trung gian tài chính nên việc gửi tiền vào tổ chức tín dụng sẽ làm tăng chi phí vốn cho nền kinh tế hơn những kênh đầu tư gián tiếp khác. Trong khi đó hiện nay, hệ thống tổ chức tín dụng cùng đang đối mặt với nhiều rủi ro cần được tái cơ cấu, đặc biệt là rủi ro nợ xấu, nên việc quy định giới hạn đầu tư thông qua kênh gửi tiền là một biện pháp nhằm hạn chế khả năng ảnh hưởng dây chuyền trên thị trường tài chính giữa tổ chức tín dụng và DNBH. Những tỷ lệ giới hạn cụ thể cần được nghiên cứu kỹ lưỡng dựa trên các số liệu điều tra thực tế và đánh giá kỹ thuật, nhưng để thực hiện đúng nguyên tắc phân tán rủi ro thì những quy định cần đảm bảo:

– Phân biệt giữa trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh của Chính phủ với trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh của tổ chức tín dụng và trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh của tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng. Về lý thuyết, giới hạn dành cho trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh nên là cao nhất và thấp nhất là trái phiếu được bảo lãnh bởi tổ chức không phải tổ chức tín dụng.

– Phân biệt giữa chứng khoán của doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán với chứng khoán của doanh nghiệp không niêm yết. Do những yêu cầu về giám sát cũng như khả năng tài chính của những doanh nghiệp niêm yết là cao hơn nên giới hạn đầu tư cần được quy định lớn hơn.

– Không cho phép DNBH đầu tư quá nhiều vào một loại hình đầu tư, ví dụ như chỉ đầu tư vào cổ phiếu của một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp có quan hệ sở hữu với nhau, hoặc chỉ gửi tiền vào một tổ chức tín dụng. Cần có những quy định để yêu cầu DNBH phải phân tán các khoản đầu tư bằng các giới hạn đầu tư đối với từng chủ thể tiếp nhận đầu tư.

– Bên cạnh việc quy định những giới hạn tối đa như ở trên, người viết cho rằng cũng cần quy định những giới hạn tối thiểu để đảm bảo định hướng phát triển thị trường vốn của nhà nước. Ví dụ, DNBH phải đảm bảo một tỷ lệ nhất định đầu tư vào cổ phiếu hoặc bất động sản vì thực tế hiện nay, hầu như nguồn vốn của DNBH không đầu tư vào bất động sản và tỷ lệ đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không bảo lãnh còn khá thấp (năm 2012 chỉ chiếm 9,7% so với tổng số vốn đầu tư toàn thị trường, trong đó tỷ lệ đầu tư của DNBH kinh doanh BHNT chỉ chiếm hơn 2%[16]), trong khi đó thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán đang rất cần nguồn vốn đầu tư trong giai đoạn hiện nay.

Pháp luật vừa có quy định về giới hạn đầu tư tối đa, vừa có giới hạn đầu tư tối thiểu không có gì là mâu thuẫn nhau vì như vậy sẽ vừa đảm bảo cho danh mục đầu tư đa dạng, vừa đảm bảo định hướng xây dựng thị trường vốn phát triển lành mạnh và cân đối theo định hướng của Đảng và nhà nước.

Thứ hai, pháp luật cần quy định cụ thể về phương thức đầu tư ủy thác để đảm bảo những giới hạn đầu tư được tuân thủ đúng. Theo đó, Bộ Tài chính cần sớm ban hành quy định về phương thức đầu tư ủy thác một cách cụ thể theo hướng sau:

– Thống nhất quan điểm đầu tư ủy thác là một phương thức đầu tư chứ không phải là lĩnh vực đầu tư. Do đó, cần quy định rằng các giới hạn đầu tư đối với từng lĩnh vực đầu tư sẽ bao gồm cả trường hợp DNBH trực tiếp đầu tư và trường hợp DNBH ủy thác đầu tư. Quy định như vậy sẽ đảm bảo minh bạch các giới hạn đầu tư, tránh tình trạng DNBH “lách” giới hạn đầu tư thông qua việc ủy thác đầu tư. Với những quy định rõ ràng cũng sẽ giúp cho cơ quan giám sát có khả năng đánh giá đúng về thực trạng hoạt động đầu tư và tình hình tài chính của DNBH.

– Từ quan điểm trên, cần quy định về điều kiện đối với tổ chức nhận ủy thác đầu tư để đảm bảo sự an toàn đối với các khoản đầu tư ủy thác. Những điều kiện này bao gồm điều kiện về loại hình, năng lực tài chính và kinh nghiệm trong lĩnh vực nhận ủy thác đầu tư. Bên cạnh đó, pháp luật cũng cần yêu cầu tổ chức nhận ủy thác đầu tư của DNBH phải minh bạch thông tin qua việc báo cáo với cơ quan giám sát về tình hình thực hiện đầu tư ủy thác.

Thứ ba, cần sửa đổi, bổ sung các quy định về nghiệp vụ đầu tư thông qua cho vay theo hướng sau:

– Bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng nhằm điều chỉnh trường hợp DNBH đầu tư cho vay, theo đó Điều 8 sẽ là: “Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không phải tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng, trừ giao dịch ký quỹ, giao dịch mua, bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán và giao dịch cho vay của doanh nghiệp bảo hiểm.” Quan điểm có người viết cho rằng hoạt động cho vay cần được xem là một nghiệp vụ kinh doanh của DNBH nên cần được điều chỉnh theo pháp luật ngân hàng, từ đó Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần phối hợp để ban hành thông tư hướng dẫn về nghiệp vụ cho vay của DNBH.

– Quy định cụ thể hơn về hoạt động cho vay của DNBH, theo đó, ngoài việc DNBH kinh doanh BHNT được cho vay đối với bên mua bảo hiểm theo HĐBH nhân thọ thì trong các trường hợp khác, DNBH chỉ được quyền cho vay đối với tổ chức mà không được phép cho vay đối với cá nhân để đảm bảo an toàn. Giới hạn cho vay cần được sửa đổi theo mức thấp hơn, vì theo các chuyên gia thì giới hạn cho vay ở mức 20% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ như quy định hiện nay là quá cao[17]. Theo người viết, mức giới hạn này chỉ nên quy định ở mức từ 5% đến 10%, vì từ thực tế năm 2012 cho thấy, tỷ lệ bình quân chỉ là 7%[18].

Từ những phân tích trên đây có thể kết luận, việc nhận rõ bản chất của hoạt động đầu tư của DNBH và sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật để điều chỉnh phù hợp sẽ góp phần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, đảm bảo an toàn cho hoạt động đầu tư và bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm./.


[1] Lê Song Lai (2005), “Thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp trên thị trường bảo hiểm Việt Nam”, Tạp chí Thị trường Bảo hiểm – Tái Bảo hiểm Việt Nam (4), tr.2-3

[2] IAIS (2005), Standard on disclosures concerning investment risks and performance for insurers and reinsurers, http://www.iaisweb.org

[3] The Comité Européen des Assurances (2010), “Insurance: a unique sector – Why insurers differ from banks”, http://www.cea.eu, tr.21

[4] IAIS (2011), Insurance core principles, standards, guidance and assessment methodology, http://www.iaisweb.org, tr.139

[5] Jérôme Yeatman (2001), Giáo khoa quốc tế về bảo hiểm, Nxb. Thống kê, Hà Nội, tr.76-77

[6] IAIS (2011), đã dẫn, tr.139

[7] Xem thêm: Trần Vũ Hải (2011), “Một số vấn đề pháp lý về sản phẩm bảo hiểm nhân thọ”, Tạp chí Luật học, số tháng 8/2011, trang 25 – 37

[8] Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2010.

[9] Roy Chan (2012), “CIRC released new regulation on overseas insurance investment”, http://www.dlapiper.com/ global/publications/Detail.aspx?pub=7646&RSS=true

[10] NAIC (1996), Investment Insurance Model Act, http://www.naic.org/ store/free/MDL-280.pdf, tr.23-24

[11] Lê Song Lai (2005), đã dẫn, tr.5

[12] Bộ Tài chính (2013), Thị trường Bảo hiểm Việt Nam năm 2012, Nxb. Tài chính, Hà Nội, tr.15

[13] Lê Song Lai (2005), đã dẫn, tr.15

[14] PGS,TS.Hoàng Trần Hậu và ThS.Nguyễn Tiến Hùng (2013), “Giám sát an toàn tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam”, Tạp chí Phát triển và Hội nhập (11), tr.47

[15] Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 8

[16] Bộ Tài chính (2013), đã dẫn, tr.27

[17] PGS,TS.Hoàng Trần Hậu và ThS.Nguyễn Tiến Hùng (2013), đã dẫn, tr.48

[18] Bộ Tài chính (2013), đã dẫn, tr.28

NGUỒN: TẠP CHÍ LUẬT HỌC, SỐ THÁNG 10 – 2014

Advertisements