TRẦN VŨ HẢI

Hiệu quả ngân sách cần được hiểu là những kết quả đích thực mà ngân sách nhà nước đạt được sau khi thực hiện được xem xét trong mối tương quan với nguồn lực đã sử dụng.

Theo TS. Bùi Đại Dũng, hiệu quả của việc chi tiêu ngân sách phải được phản ánh trong mối quan hệ giữa khối lượng nguồn lực mà nó sử dụng và các kết quả đầu ra tổng thể cho cả xã hội trong một khoảng thời gian thích hợp. Có thể sử dụng chỉ số phát triển con người (HDI) do Tổ chức Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) xây dựng để đánh giá hiệu quả chi tiêu ngân sách bằng cách xác định tỷ lệ giữa mức tăng HDI so với tổng chi ngân sách trong một giai đoạn nhất định. (TS. Bùi Đại Dũng, Hiệu quả chi tiêu ngân sách dưới tác động của vấn đề nhóm lợi ích ở một số nước trên thế giới, NXB Chính trị quốc gia, 2007).

Tuy nhiên, cách thức tiếp cận này chỉ đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế xã hội mà chưa đánh giá được những yếu tố về mặt chính trị và sự tuân thủ pháp luật của hoạt động ngân sách nhà nước cũng như sẽ gặp khó khăn khi đánh giá hiệu quả ngân sách trong ngắn hạn.

Rõ ràng, trong ngắn hạn, hiệu quả ngân sách không dễ dàng xác định do những tác động của ngân sách nhà nước đến xã hội rất đa dạng và phức tạp. Ngay trong một bản quyết toán ngân sách hoàn hảo nhất cũng không có khả năng thể hiện đầy đủ những hiệu quả ngân sách, vì hoạt động quyết toán chỉ đánh giá sự tuân thủ ngân sách chứ không phải là toàn bộ kết quả mà ngân sách nhà nước tác động đến nền kinh tế xã hội.

Do đó, hiệu quả ngân sách nên được đánh giá dưới các góc độ sau đây:

Hiệu quả về sự tuân thủ: Là sự tôn trọng và thực thi đúng những chỉ tiêu thu, chi trong ngân sách của các cơ quan, đơn vị chấp hành ngân sách. Hiệu quả về sự tuân thủ còn thể hiện qua việc thu, chi ngân sách phải đúng pháp luật ngân sách.

Hiệu quả về mặt kinh tế: những kết quả về mặt kinh tế như thể hiện qua chỉ số tăng trưởng, chỉ số thu nhập bình quân, năng suất của khu vực kinh tế nhà nước và các mặt tác động từ những hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng của nhà nước.

Hiệu quả về mặt xã hội: những kết quả mà ngân sách đạt được trong việc đảm bảo phúc lợi xã hội, hệ thống dịch vụ công cộng, giáo dục, y tế, v.v..

Hiệu quả về mặt chính trị: là kết quả về sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, đặc biệt là mối quan hệ giữa cơ quan đại diện (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) và cơ quan chấp hành (Chính phủ, Uỷ ban nhân dân) trong hoạt động ngân sách. Việc xây dựng cơ chế thông tin linh hoạt và kịp thời để điều hành ngân sách có ý nghĩa rất lớn trong việc đánh giá hiệu quả ngân sách.

Nguồn: Trần Vũ Hải (2009), Tìm hiểu thuật ngữ Pháp luật tài chính công, Nxb.Tư pháp, Hà Nội, tr.98-99.

Note: Có thể tìm thấy tài liệu này tại Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội.

Advertisements