KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Công bố ngày 25/7/2014

Năm 2013, Kiểm toán Nhà nước đã tổ chức kiểm toán tại 150 đầu mối[1] và kiểm toán Báo cáo quyết toán NSNN năm 2012 tại Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT.

Thực hiện quy định tại khoản 8, Điều 15, khoản 3, Điều 55 Luật Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán Nhà nước đã lập Báo cáo kết quả kiểm toán năm 2013 để gửi đến từng Đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa 13 và các cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

Căn cứ Điều 58, Luật Kiểm toán nhà nước, khoản 2, Điều 11, Nghị định số 91/2008/NĐ-CP ngày 18/8/2008 của Chính phủ về công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước trân trọng công bố tóm tắt kết quả kiểm toán năm 2013 như sau:

A. KẾT QUẢ KIỂM TOÁN QUYẾT TOÁN NSNN NĂM 2012

– Tổng thu NSNN 1.058.140 tỷ đồng, vượt 1,9% dự toán.

– Tổng chi NSNN 1.170.924 tỷ đồng, vượt 8,3% dự toán, trong đó: Chi đầu tư phát triển 268.812 tỷ đồng, bằng 31,1% tổng chi NSNN, vượt 49,3% (88.812 tỷ đồng) dự toán; chi thường xuyên 603.372 tỷ đồng, vượt 0,3% (2.072 tỷ đồng) dự toán; chi trả nợ, viện trợ 105.838 tỷ đồng, vượt 5,8% (5.838 tỷ đồng) dự toán.

– Tăng trưởng kinh tế năm 2012 đạt 5,3%; bội chi NSNN được giữ ở mức 4,75% GDP, thấp hơn 0,05% mức Quốc hội cho phép (4,8%); dư nợ Chính phủ bằng 38,9% GDP, dư nợ nước ngoài của quốc gia bằng 37,4% GDP[2]; dư nợ công 1.642.916 tỷ đồng, bằng 55,7% GDP (năm 2011 bằng 54,9% GDP)[3].

Qua kiểm toán cho thấy trong quản lý điều hành ngân sách việc sử dụng các khoản tăng thu, dư dự toán và dự phòng ngân sách cơ bản phù hợp quy định; tổng chi chuyển nguồn và chuyển nguồn của những nhiệm vụ chậm triển khai đều giảm so với năm 2011, sử dụng kinh phí NSNN tại các bộ, cơ quan trung ương đi vào nề nếp hơn, phù hợp với tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước[4]; các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; các đơn vị được kiểm toán cơ bản đã tuân thủ quy định của Luật NSNN, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Phòng, Chống tham nhũng… Song, còn một số thiếu sót, hạn chế:

1. Lập và giao dự toán

– Dự toán thu trung ương giao chưa đảm bảo mức huy động vào ngân sách theo định hướng[5]; một số địa phương do chưa dự báo được những biến động của nền kinh tế dẫn đến dự toán giao chưa sát thực tế.

– Hầu hết những tồn tại, hạn chế trong công tác lập và giao dự toán chi do KTNN phát hiện và kiến nghị từ các năm trước chưa khắc phục được nhiều, như:

+ Chi đầu tư xây dựng: Một số bộ, cơ quan trung ương còn giao kế hoạch vốn chậm so với quy định; một số địa phương giao và điều chỉnh kế hoạch vốn vào cuối năm dẫn đến không thực hiện được; bố trí vốn cho các dự án khởi công mới không phải là công trình cấp bách, chưa đủ điều kiện bố trí vốn, sai nội dung nguồn kinh phí, không tuân thủ thứ tự ưu tiên, chưa ưu tiên thanh toán trả nợ khối lượng XDCB hoàn thành, không sát thực tế hoặc thực hiện không kịp thời phải hủy kế hoạch vốn; bố trí vốn cho các dự án nhóm B quá 05 năm, nhóm C quá 03 năm.

+ Chi thường xuyên: Lập dự toán một số nhiệm vụ chi không sát thực tế, cao hơn số kiểm tra của Bộ Tài chính, không lập dự toán chi từ nguồn phí, lệ phí được để lại; giao dự toán chậm, điều chỉnh nhiều lần, không giao hết dự toán ngay lần đầu 8.038,84 tỷ đồng, giao dự toán khi chưa xác định rõ nội dung, nhiệm vụ chi 222 tỷ đồng; giao dự toán kinh phí tự chủ cao hơn định mức quy định tại Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ, vượt định mức theo Nghị quyết HĐND tỉnh; 10/34 địa phương được kiểm toán bố trí dự phòng thấp hơn quy định; 04/34 tỉnh bố trí dự toán chi sự nghiệp giáo dục đào tạo thấp hơn mức tối thiểu trung ương giao; giao biên chế vượt chỉ tiêu trung ương giao, chưa sát thực tế.

2. Chấp hành ngân sách

– Về quản lý thu NSNN: Tại các doanh nghiệp được kiểm toán vẫn còn diễn ra tình trạng hạch toán và kê khai thiếu doanh thu, xác định sai chi phí tính thuế, từ đó tính thiếu thuế GTGT và thuế TNDN phải nộp; xác định chưa đầy đủ kịp thời tiền thu sử dụng đất phải nộp; việc xây dựng đơn giá, xác định mức lương tối thiểu và chi lương của một số doanh nghiệp công ích của TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội còn sai sót, bất hợp lý; tình trạng thất thu thuế, phí, lệ phí và thu khác NSNN tại một số doanh nghiệp, tổ chức và đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc một số bộ, cơ quan trung ương, địa phương chưa khắc phục được nhiều, còn không ít đơn vị hạch toán thiếu các khoản thu dịch vụ; hạch toán các khoản chi phí không đúng chế độ, vượt định mức vào kết quả hoạt động dịch vụ; không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ các khoản thuế phải nộp NSNN; một số đơn vị thuộc bộ, cơ quan trung ương còn thu vượt mức quy định về phí, lệ phí; thu một số khoản ngoài quy định; mức phải trích các khoản từ phí, lệ phí và tỷ lệ phí, lệ phí để lại cho đơn vị thu sử dụng chưa hợp lý; việc thực thi chính sách thu phí, lệ phí còn bất cập…; việc xử lý kết quả thanh tra của một số cục thuế chưa đúng quy định, nhiều cục thuế chưa thực hiện đầy đủ và triệt để các biện pháp cưỡng chế nợ thuế theo quy định; nợ đọng thuế, đặc biệt là nợ thuế có khả năng thu tăng cao. Kết quả kiểm toán, KTNN đã xác định các khoản phải nộp NSNN tăng thêm 3.017,29 tỷ đồng[6].

– Về quản lý chi NSNN

(i) Đến 31/12/2012 còn nhiều bộ, cơ quan trung ương, địa phương có số nợ đọng vốn đầu tư lớn, trong đó 15 bộ, cơ quan trung ương, địa phương có số nợ đọng trên 1.000 tỷ đồng; số vốn ứng trước chưa thu hồi lũy kế đến hết năm 2012 là 58.345,7 tỷ đồng[7], bằng 32,4% kế hoạch vốn năm 2012, trong khi số thu hồi vốn ứng trước năm 2012 chỉ là 2.458,8 tỷ đồng; một số địa phương có số dự án khởi công mới cao; tình trạng các dự án chậm tiến độ còn phổ biến; một số bộ, cơ quan trung ương chưa lập quy hoạch phát triển ngành theo quy định; nhiều dự án phải phê duyệt điều chỉnh quy mô, tăng tổng mức đầu tư so với quyết định ban đầu; còn sai sót trong đấu thầu; công tác quản lý chất lượng công trình đối với một số dự án chưa được thực hiện nghiêm túc…

(ii) Kết quả kiểm toán các chương trình mục tiêu, dự án quốc gia

Công tác chỉ đạo điều hành, phối hợp thực hiện đối với một số chương trình chưa chặt chẽ; kết quả thực hiện các mục tiêu của một số chương trình còn hạn chế; giao dự toán chưa đúng trình tự, không phù hợp thực tế dẫn đến phải hủy dự toán; bố trí vốn không đúng nội dung, sai nguồn vốn; bố trí vốn không phù hợp với khả năng thực hiện hoặc triển khai chậm dẫn đến không sử dụng hết nguồn kinh phí, phải chuyển nguồn năm sau; một số địa phương không bố trí vốn NSĐP cho chương trình; việc quản lý và sử dụng kinh phí chương trình chưa chặt chẽ…

(iii) Năm 2012, một số địa phương hụt thu nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không triệt để việc rà soát, cắt giảm nhiệm vụ chi theo quy định tại điểm 2, Điều 59, Luật NSNN; 31/34 tỉnh, thành phố được kiểm toán vượt dự toán chi thường xuyên được HĐND giao đầu năm, trong đó 20/34 địa phương chi quản lý hành chính, đảng đoàn thể có mức vượt trên 30%; trong điều hành ngân sách còn sử dụng 569 tỷ đồng từ nguồn tăng thu, nguồn thu tiền sử dụng đất, nguồn cải cách tiền lương, dự phòng… để bổ sung chi thường xuyên sai quy định[8]; 17/34 địa phương chi hỗ trợ không đúng nhiệm vụ chi 79 tỷ đồng; việc sử dụng kinh phí sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức xảy ra phổ biến tại các địa phương; một số bộ, cơ quan trung ương và 26/34 địa phương được kiểm toán còn sử dụng sai nguồn kinh phí 1.570,72 tỷ đồng, trong đó một số địa phương sử dụng kinh phí bổ sung có mục tiêu của trung ương và của địa phương,… để bù hụt thu ngân sách[9]; việc sử dụng sai nguồn kinh phí của một số địa phương trong khi không còn kết dư ngân sách, dẫn đến một số nhiệm vụ chi chưa thực hiện nhưng không có nguồn đảm bảo[10] làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội của địa phương trong những năm tiếp theo.

(iv) Một số địa phương không còn kết dư ngân sách hoặc kết dư ngân sách nhỏ, trong khi cần phải bố trí dự toán để trả nợ XDCB, thu hồi các khoản tạm ứng ngoài dự toán, hoàn trả các nguồn kinh phí đã sử dụng sai, chi chuyển nguồn các nhiệm vụ chi chưa có nguồn đảm bảo… lớn nhưng nguồn thu của NSĐP hạn hẹp nên việc sắp xếp, bố trí dự toán chi trong các năm tiếp theo gặp nhiều khó khăn, chưa kể đến các khoản nợ vay theo khoản 3, Điều 8, Luật NSNN cũng cần bố trí trả nợ hàng năm; việc cho vay, tạm ứng sai quy định; cho vay, tạm ứng kéo dài nhiều năm, chậm thu hồi xảy ra ở hầu hết các địa phương được kiểm toán.

(v) Chi chuyển nguồn năm 2012 sang năm 2013 là 192.461 tỷ đồng (giảm 54.229 tỷ đồng so với năm 2011), trong đó chi chuyển nguồn do chậm triển khai nhiệm vụ 22.454 tỷ đồng, bằng 11,7% tổng chi chuyển nguồn và bằng 1,9% tổng chi NSNN (năm 2011 là 32.720 tỷ đồng, bằng 3,2% tổng chi NSNN); một số bộ, cơ quan trung ương chuyển nguồn chậm, sai quy định; một số địa phương chuyển số dư dự toán không còn nhiệm vụ chi, không chuyển nguồn (để kết dư ngân sách) một số nhiệm vụ chi phải chuyển nguồn theo quy định 368 tỷ đồng, không chuyển nguồn (đưa vào quyết toán NSNN) một số khoản chi chưa đủ thủ tục, điều kiện quyết toán NSNN 105 tỷ đồng, chuyển nguồn qua nhiều năm 1.033 tỷ đồng (các khoản kinh phí hết nghiệm vụ chi chuyển nguồn qua nhiều năm 154,519 tỷ đồng; kinh phí có nhiệm vụ chi nhưng chưa thực hiện 32,427 tỷ đồng; dư tạm ứng kinh phí XDCB chuyển nguồn qua nhiều năm 846,797 tỷ đồng), dẫn đến chậm hoàn thành nhiệm được giao, giảm hiệu quả sử dụng ngân sách. Ngoài ra, trong tổng số chi chuyển nguồn năm 2012 sang năm 2013 của NSTW còn 383,02 tỷ đồng vốn đầu tư xây dựng chưa giải ngân của các dự án thuộc các bộ, cơ quan trung ương trong năm 2012 và các năm trước đã thu hồi theo quy định nhưng Chính phủ chưa có phương án phân bổ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

(vi) Về thực hiện cơ chế khoán chi và tự chủ tài chính

– Việc thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP của các đơn vị chưa có nhiều chuyển biến so với các năm trước, kết quả thực hiện chỉ dừng lại ở mức có tiết kiệm lao động, kinh phí nhưng mức tăng thu nhập không cao; một số đơn vị thuộc các địa phương được kiểm toán xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ còn chưa chặt chẽ và đầy đủ, sử dụng kinh phí không tự chủ để chi cho nhiệm vụ tự chủ, thực hiện cơ chế khoán chi và tự chủ tài chính nhưng chưa có tiêu chí lượng hóa để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ.

– Việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của một số bộ ngành còn hình thức, giao tự chủ chậm, giao vào năm cuối của giai đoạn ổn định; mức độ tự chủ ở một số đơn vị được kiểm toán chưa đạt so với đề án tự chủ được duyệt; quy chế chi tiêu nội bộ của một số đơn vị chưa bao quát đầy đủ các nhiệm vụ chi hoặc chưa sửa đổi, bổ sung theo các văn bản tài chính hiện hành của Nhà nước.

– Nhiều đơn vị trực thuộc bộ, cơ quan trung ương thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ nhưng chưa được phê duyệt đề án.

(vii) Việc mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản

Một số bộ, cơ quan trung ương và một số đơn vị thuộc 21/34 địa phương được kiểm toán mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản thiếu chặt chẽ, chưa đúng quy định; tài sản mua nhưng không sử dụng gây lãng phí; chưa xây dựng, ban hành quy chế quản lý tài sản công; sử dụng tài sản không đúng mục đích; một số đơn vị chưa quản lý, sử dụng đất đai theo quy định tại Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ[11].

(viii) Về thực hiện cải cách tiền lương: Một số đơn vị thuộc bộ, cơ quan trung ương, địa phương báo cáo sai nguồn cải cách tiền lương được để lại từ nguồn thu học phí, viện phí và thu sự nghiệp khác, nguồn năm trước chuyển sang; Bộ Tài chính thẩm tra chưa chặt chẽ dẫn đến cấp thừa kinh phí cải cách tiền lương năm 2012 là 862,38 tỷ đồng. Ngoài ra, 21/34 địa phương chưa trích đủ nguồn thực hiện cải cách tiền lương theo qui định 457 tỷ đồng, 24/34 địa phương còn sử dụng nguồn cải cách tiền lương để chi thường xuyên, chi một số nhiệm vụ khác… chưa đúng quy định 1.409 tỷ đồng.

3. Về các cuộc kiểm toán chuyên đề

Bên cạnh những mặt đã làm được góp phần đạt mục tiêu đề ra, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực NSNN đầu tư cho các hoạt động, chuyên đề được kiểm toán, kết quả kiểm toán còn cho thấy:

– Cơ chế phân bổ vốn TPCP còn bất cập, chưa xây dựng được tiêu chí phân bổ vốn theo vùng, miền, dẫn đến số vốn phân bổ giữa các địa phương giai đoạn 2010-2012 chênh lệch lớn; các địa phương không thuộc địa bàn ưu tiên nhưng được ứng trước kế hoạch vốn lớn; một số địa phương phê duyệt nhiều dự án đầu tư khi không xác định rõ nguồn vốn đầu tư và khả năng cân đối nguồn vốn, điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư lớn gây thiếu vốn nghiêm trọng, tỷ lệ giữa số vốn thực tế được phân bổ với số vốn đăng ký của các địa phương thấp; phân bổ vốn chậm, phân bổ vốn cho các dự án ngoài danh mục được phê duyệt; điều chuyển vốn khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép; phân bổ vốn vượt mức vốn giao trong giai đoạn; bố trí vốn cho các dự án chưa đủ điều kiện, thủ tục đầu tư, cho phần điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư do bổ sung hạng mục, tăng quy mô không đúng quy định, cho các dự án quá thời gian quy định, không căn cứ nhu cầu và khả năng thực hiện; bố trí vốn đối ứng từ NSĐP, nguồn Xổ số kiến thiết và các nguồn hợp pháp khác không đảm bảo tỷ lệ quy định.

– Cơ quan thuế còn cho phép gia hạn miễn, giảm thuế TNDN không đúng quy định, gia hạn thuế không đúng đối tượng; hoàn thuế GTGT cho các trường hợp không thực hiện kê khai thuế đúng quy định; sử dụng Quỹ hoàn thuế GTGT để hoàn trả tiền thuế GTGT nộp thừa không đúng nội dung sử dụng Quỹ; tỷ trọng nợ thuế trên tổng thu NSNN của toàn ngành chưa đạt chỉ tiêu đề ra (dưới 5%); còn tình trạng đối tượng nộp thuế xác định không chính xác số thuế GTGT phải nộp; số thuế hết thời hạn được giãn nhưng người nộp thuế chưa nộp NSNN…

– Về công tác quản lý hàng tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập năm 2012: Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan còn ban hành một số văn bản hướng dẫn chưa chặt chẽ, rõ ràng so với Nghị định của Chính phủ, Luật Thương mại, Luật Hải quan, dẫn đến các Cục Hải quan thực hiện chưa đúng quy định làm giảm thu ngân sách; nộp NSNN các khoản tạm thu hàng tạm nhập, tái xuất còn trong hạn, đến thời điểm tái xuất không có nguồn hoàn trả kịp thời tiền thuế tạm thu đã nộp; cơ quan Hải quan chưa thực hiện đầy đủ công tác quản lý giám sát, kiểm tra, thanh tra, thông quan, chưa có các biện pháp đôn đốc, phạt vi phạm hành chính, ấn định thuế kịp thời theo qui định đối với tờ khai quá hạn tái xuất nhưng chưa tái xuất, quá hạn tái nhập nhưng chưa tái nhập…

– Về cấp giấy phép và quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản giai đoạn 2009 – 2012: Bộ TN&MT chưa theo dõi chặt chẽ, đôn đốc, xử lý kịp thời các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản khi giấy phép hết hạn; chưa thu tiền hoàn trả chi phí thăm dò của các tổ chức, cá nhân trước khi cấp 118 giấy phép khai thác trong giai đoạn 2010 – 2012; một số địa phương chưa hoàn thành và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, công bố quy hoạch hoạt động khoáng sản trên địa bàn theo quy định; xây dựng quy hoạch chậm, chất lượng thấp, phải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần, còn chồng chéo giữa quy hoạch thăm dò, khai thác trữ lượng khoáng sản và quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng; một số địa phương cấp phép khai thác khoáng sản không nằm trong địa danh quy hoạch khoáng sản theo Nghị quyết của HĐND tỉnh, không đúng loại khoáng sản theo quy hoạch được phê duyệt, cấp phép không đúng thẩm quyền, không thực hiện thu hồi đối với một số giấy phép vi phạm quy định trong hoạt động khoáng sản; hồ sơ xin cấp phép, chuyển nhượng giấy phép khai thác khoáng sản còn thiếu sót, không đảm bảo các quy trình, thủ tục theo quy định; Bộ TN&MT chưa ban hành kịp thời văn bản hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản năm 2010; một số địa phương chưa ban hành văn bản và các quy định về quản lý hoạt động khai thác khoáng sản, ban hành văn bản không đúng quy định Luật Khoáng sản, không đúng thẩm quyền; Tổng cục Địa chất khoáng sản không ban hành quy trình về tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, trách nhiệm của các đơn vị được giao nhiệm vụ và thời gian hoàn thành làm cơ sở xác định tiền hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản cho Nhà nước. Ngoài ra, kết quả kiểm toán tại một số TĐ, TCT còn cho thấy một số đơn vị khai thác khoáng sản nhưng chưa được cấp phép, khai thác vượt phạm vi được cấp phép, vượt công suất khai thác hàng năm theo giấy phép; chưa ký quỹ phục hồi môi trường, chưa đóng cửa mỏ và phục hồi môi trường sau khai thác.

– Về quản lý, sử dụng đất tại 20 địa phương được kiểm toán: Công tác phê duyệt quy hoạch sử dụng đất chậm; một số quận, huyện, xã chưa lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn hạn chế, chưa phù hợp thực tế; lập, điều chỉnh và phê duyệt quy hoạch xây dựng chậm; quy hoạch xây dựng chi tiết không phù hợp Quy chuẩn xây dựng Việt Nam; sử dụng đất công ích, đất bãi bồi không hiệu quả; công tác giám sát, kiểm tra của chính quyền địa phương chưa thường xuyên, chưa kịp thời xử lý sai phạm, còn trường hợp người dân tự ý phân lô, bán nền hoặc xây dựng nhà, cơ sở kinh doanh trên đất nông nghiệp nhưng chưa được cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, xử lý; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho một số trường hợp khi chưa đủ điều kiện; giao đất, cho thuê đất không đúng thẩm quyền, chưa phù hợp với bản đồ quy hoạch xây dựng; giao đất khi chưa đủ điều kiện, giao đất cho chủ đầu tư không đủ năng lực tài chính, không tổ chức đấu giá đối với đất đủ điều kiện đấu giá; một số chủ đầu tư sử dụng đất không đúng mục đích; một số dự án không triển khai thực hiện hoặc triển khai chậm so với tiến độ được phê duyệt.

4. Về quản lý nợ công: (i) KTNN xác định số liệu nợ công đến 31/12/2012 giảm 1.632,6 tỷ đồng so với số báo cáo tại Báo cáo các chỉ tiêu giám sát nợ, do Bộ Tài chính tổng hợp thừa, thiếu một số khoản vay/nợ; (ii) Công tác quản lý nợ công của Bộ Tài chính chưa được tập trung vào một đầu mối là Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại nên việc tổng hợp số liệu nợ công theo một đầu mối còn khó khăn, dẫn đến số liệu tổng hợp còn sai sót; (iii) Chưa có báo cáo tổng hợp, phân tích, đánh giá rủi ro (tín dụng, tỷ giá…) đối với các khoản cho vay lại để xác định tình hình nợ xấu và nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ; việc ghi thu, ghi chi chậm nên tình trạng các chủ dự án nhận nợ chậm, thu hồi gốc, lãi về Quỹ tích lũy không kịp thời còn khá phổ biến; (iv) Tại thời điểm thẩm định cấp bảo lãnh, hầu hết các chủ đầu tư dự án chưa bố trí đủ mức vốn chủ sở hữu tối thiểu bằng 20% tổng vốn đầu tư, chỉ cam kết sẽ đảm bảo tỷ lệ theo quy định (20%), song chưa báo cáo về tiến độ góp vốn chủ sở hữu trong quá trình triển khai dự án; 16/53 dự án đã hoàn thành rút vốn và nghiệm thu quá 06 tháng nhưng chưa đăng ký tài sản đảm bảo theo quy định; các chủ đầu tư dự án chưa thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo định kỳ nhưng chưa có chế tài xử lý; một số dự án đã được cấp bảo lãnh nộp phí chậm hoặc không nộp phí bảo lãnh; việc ứng trả nợ thay cho các dự án được Chính phủ bảo lãnh có xu hướng ngày càng tăng; (v) Triển khai sử dụng Quỹ chênh lệch lãi suất các dự án ODA của Chính phủ Đức chậm so với phương án đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận; báo cáo thiếu số dư tài khoản viện trợ của Nga cho đào tạo 3,2 triệu USD; chưa nộp NSNN số dư tài khoản viện trợ của Nga cho đào tạo Việt Nam để tất toán tài khoản mở tại VCB theo quy định[12]; việc chuyển trả NSNN các khoản trả nợ nước ngoài vay về cho vay lại từ Quỹ tích lũy không kịp thời.

5. Về quyết toán thu, chi NSNN năm 2012[13]

5.1. Trong năm 2012 còn một số khoản thuộc nhiệm vụ chi của NSNN chưa được xử lý vào cân đối NSNN như: Số quyết toán hoàn thuế GTGT năm 2012 thấp hơn số thuế GTGT thực hoàn đến 31/12/2012 là 33.478,34 tỷ đồng[14]; toàn bộ các khoản chi đầu tư từ nguồn vốn TPCP năm 2012 là 39.635 tỷ đồng; chi từ nguồn xổ số kiến thiết tại các địa phương 12.160 tỷ đồng.

5.2. Về quyết toán thu, chi NSNN năm 2012[15]: (i) Thu cân đối NSNN: Số báo cáo 1.058.140 tỷ đồng, số kiểm toán 1.058.140 tỷ đồng; (ii) Chi cân đối NSNN: Số báo cáo 1.170.924 tỷ đồng; số kiểm toán 1.170.924 tỷ đồng, trong đó đã bao gồm 383,02 tỷ đồng vốn đầu tư xây dựng chưa giải ngân như đã trình bày tại nội dung chi chuyển nguồn; (iii) Bội chi NSNN: Số báo cáo 154.126 tỷ đồng, bằng 4,75% GDP (giảm 0,05% so với Nghị quyết của Quốc hội); số kiểm toán 154.126 tỷ đồng.

B. KẾT QUẢ KIỂM TOÁN TẠI CÁC DNNN VÀ CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

I. Các doanh nghiệp nhà nước

Kết quả kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) năm 2012 của 27 tập đoàn, tổng công ty, công ty nhà nước (TĐ, TCT) cho thấy:

1. Năm 2012, hoạt động SXKD của các TĐ, TCT tiếp tục bị ảnh hưởng bởi những bất lợi từ sự sụt giảm của kinh tế thế giới; thị trường tiêu thụ hàng hóa bị thu hẹp, sức mua giảm; nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động. Trong bối cảnh đó, các TĐ, TCT đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn, chủ động và tích cực thực hiện đồng bộ các nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ để phát triển SXKD, bảo toàn vốn, thực hiện tốt các nhiệm vụ được Nhà nước giao, tiếp tục đóng góp quan trọng vào phát triển và duy trì ổn định kinh tế – xã hội. Kết quả kiểm toán cho thấy 26/27 TĐ, TCT được kiểm toán kinh doanh có lãi nhưng hiệu quả hoạt động giảm sút so với năm 2011.

2. Về thực trạng tài chính và công tác quản lý, sử dụng vốn, tài sản: Cơ bản các đơn vị đã tuân thủ quy định về quản lý tài chính, song còn một số hạn chế: (i) Qua kiểm toán, KTNN đã điều chỉnh: Giảm tổng tài sản, nguồn vốn 423 tỷ đồng; tổng doanh thu, thu nhập 4.070 tỷ đồng; tổng chi phí 3.154 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế 916 tỷ đồng và tăng số còn phải nộp NSNN 2.026,8 tỷ đồng; (ii) Nhiều TĐ, TCT quản lý nợ phải thu chưa chặt chẽ, dẫn đến nợ quá hạn, khó đòi lớn; một số đơn vị quản lý, sử dụng hàng tồn kho chưa hiệu quả, còn để hàng hóa ứ đọng, chậm luân chuyển, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang không còn nguồn bù đắp do đã kết chuyển hết doanh thu; (iii) nhiều doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn chiếm dụng, vốn vay; một số TĐ, TCT mất cân đối nguồn vốn do sử dụng vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn; (iv) Hầu hết các đơn vị phản ánh không đúng doanh thu, chi phí; một số TĐ, TCT chưa tuân thủ quy định về phân bổ và áp dụng định mức chi phí; (v) một số đơn vị đầu tư tài chính không đúng quy định, không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp; nhiều công ty con, công ty liên kết kinh doanh thua lỗ, mất vốn.

3. Một số TĐ, TCT đang quản lý và sử dụng diện tích đất đai lớn nhưng còn để đất không hoặc chưa sử dụng, sử dụng không hiệu quả, bị lấn chiếm, tranh chấp; sử dụng không đúng mục đích; chưa hoàn thiện hồ sơ pháp lý nên việc quản lý gặp nhiều khó khăn, bất cập; chưa tuân thủ nghiêm các quy định trong mua, bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản hình thành từ dự án.

4. Hầu hết các TĐ, TCT có đầu tư xây dựng, kinh doanh bất động sản đều có dự án triển khai chậm hoặc kéo dài nhiều năm làm giảm hiệu quả đầu tư; một số dự án phải dừng thi công do không có vốn gây lãng phí vốn đầu tư.

5. Các TĐ, TCT trong diện tái cơ cấu đã lập đề án gửi các bộ, ngành liên quan thẩm định, trong đó một số đơn vị đã được phê duyệt nhưng việc xây dựng và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt còn chậm; các đơn vị được phê duyệt đề án đang từng bước triển khai thực hiện nhưng còn gặp khó khăn trong rà soát, đối chiếu công nợ, thu hồi nợ tồn đọng, thanh lý tài sản, giải quyết chế độ đối với người lao động, xác định giá trị doanh nghiệp và thoái vốn tại các đơn vị kinh doanh kém hiệu quả.

II. Các tổ chức tài chính, ngân hàng

Kết quả kiểm toán Báo cáo tài chính năm 2012 của NHNN, VDB và 03 NHTM cho thấy:

1. Năm 2012, tình hình kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, thách thức tác động trực tiếp đến hoạt động của hệ thống ngân hàng. Song, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giám sát của Quốc hội, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành có liên quan và nỗ lực phấn đấu của toàn ngành, các ngân hàng cơ bản hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao; đáp ứng các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng (trừ Agribank); kết quả hoạt động kinh doanh có lãi; tỷ lệ khả năng sinh lời đều trên 75% và tốc độ tăng huy động vốn trên 10%; đẩy mạnh triển khai cơ cấu lại hệ thống các TCTD theo Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 – 2015. NHNN đã thực hiện các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt nên khả năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng được cải thiện; thị trường ngoại hối và tỷ giá ổn định; mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đã giảm mạnh, góp phần kiềm chế lạm phát ở mức 6,81% (thấp hơn so với mục tiêu đề ra của Chính phủ là 7% – 8%), ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức 5,03%.

2. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, còn có một số hạn chế: (i) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn tại các ngân hàng đều giảm so với năm 2011; tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống các TCTD chỉ đạt 8,85% và tổng phương tiện thanh toán tăng 22,4%, trong khi mục tiêu đề ra theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2012 của Chính phủ tăng trưởng tín dụng là 15%-17% và tổng phương tiện thanh toán tăng 14%-16%; (ii) Nợ xấu của toàn hệ thống tăng nhanh, trong đó tỷ lệ nợ xấu tại 31/12/2012 của các NHTM được kiểm toán đều tăng so với 31/12/2011 và đến 30/6/2013, tỷ lệ nợ xấu của 2/3 NHTM tiếp tục tăng so với thời điểm 31/12/2012; nợ có khả năng mất vốn của 2/3 NHTM chiếm tỷ lệ lớn trên tổng nợ xấu; nếu tính cả nợ được cơ cấu lại theo Quyết định số 780/QĐ-NHNN ngày 23/4/2012 của NHNN về phân loại nợ đối với nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ, 2/3 NHTM có tỷ lệ nợ xấu vượt quá mức an toàn theo quy định của NHNN; tỷ lệ nợ xấu của các chương trình tín dụng ưu đãi tại VDB cao; việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại hầu hết các ngân hàng chưa phù hợp; Agribank có nhiều sai phạm trong hoạt động cho vay, tiềm ẩn rủi ro và khó thu hồi vốn; (iii) Hiệu quả đầu tư tài chính của các NHTM thấp, nhiều khoản đầu tư bị suy giảm giá trị, đầu tư vào một số đơn vị kinh doanh thua lỗ không bảo toàn được vốn; (iv) Các NHTM đều huy động vốn của BHXH bằng hình thức vay phù hợp với Luật BHXH nhưng không đúng quy định của Luật các TCTD và chưa điều chỉnh sang hợp đồng tiền gửi theo chỉ đạo của NHNN, dẫn đến huy động vượt trần lãi suất; VDB chưa cân đối giữa nhu cầu vốn với huy động vốn, dẫn đến tồn đọng vốn lớn, làm tăng cấp bù từ NSNN.

C. KÊT QUẢ THỰC HIỆN KIẾN NGHỊ KIỂM TOÁN 2012

– Về kiến nghị xử lý tài chính thực hiện đến 31/12/2013 là 9.448,1 tỷ đồng, đạt 65,1% (9.448,1/14.517,9 tỷ đồng) tổng số kiến nghị (năm 2011 về niên độ ngân sách 2010 đạt 71,62%).

Kết quả thực hiện kiến nghị xử lý tài chính còn hạn chế do: (i) Về khách quan: Một số dự án ĐTXD đang trong quá trình thực hiện, chưa phê duyệt quyết toán nên đơn vị đề nghị sẽ thực hiện khi quyết toán; một số đơn vị được kiểm toán gặp khó khăn về tài chính (các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản) nên chưa thực hiện kiến nghị, có đơn vị đã giải thể nên không còn đơn vị chịu trách nhiệm thực hiện; phần lớn các đơn vị sử dụng sai nguồn kinh phí được KTNN kiến nghị bố trí nguồn để hoàn trả đều thuộc các địa phương nghèo, khó khăn về tài chính nên hầu hết đều không thực hiện được…; chưa có chế tài để xử lý đối với những trường hợp đơn vị chưa thực hiện nghiêm túc kiến nghị của KTNN; chưa có quy định trách nhiệm công khai tình hình thực hiện kiến nghị của KTNN tại các đơn vị được kiểm toán và các đơn vị có kiến nghị kiểm toán liên quan nên hạn chế tính hiệu lực của kiến nghị kiểm toán, thiếu thông tin để giám sát việc thực hiện kiến nghị của các đơn vị, không kịp thời phản biện lại những kiến nghị kiểm toán chưa phù hợp, thiếu khả thi… ; (ii) Về chủ quan: Một số đơn vị chưa nghiêm túc trong chỉ đạo thực hiện và thực hiện các kiến nghị của KTNN; còn trường hợp đã thực hiện kiến nghị nhưng chưa đúng theo hướng dẫn (về nội dung nộp NSNN, ghi gộp với các khoản nộp không thuộc kiến nghị…) dẫn đến không tổng hợp được kết quả; một số kiến nghị còn chưa rõ ràng, chưa đảm bảo đầy đủ bằng chứng kiểm toán nên khó khăn cho đơn vị được kiểm toán trong quá trình thực hiện.

– Về sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách: Có 51 văn bản đã và đang được Chính phủ, các bộ ngành và địa phương thực hiện hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung theo kiến nghị của KTNN[16]; các kiến nghị khác đang được các đơn vị nghiên cứu sửa đổi theo quy định ban hành văn bản.

D. KIẾN NGHỊ

I. KTNN kính đề nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan trung ương, địa phương, đơn vị được kiểm toán thực hiện nghiêm túc các kết luận, kiến nghị của KTNN trong năm 2013 đối với niên độ ngân sách 2012, trong đó:

1. Xử lý tài chính 22.821,3 tỷ đồng (tăng thu 4.047 tỷ đồng; giảm chi 5.099,4 tỷ đồng; nợ đọng phát hiện tăng thêm 2.623,4 tỷ đồng; nộp, hoàn trả và quản lý qua NSNN 9.985,8 tỷ đồng; xử lý khác 1.065,7 tỷ đồng).

2. Chỉ đạo các bộ, cơ quan trung ương, địa phương rà soát để hủy bỏ hoặc thay thế, sửa đổi, bổ sung 72 văn bản[17] không phù hợp với quy định chung của nhà nước.

II. Kiểm toán Nhà nước kính đề nghị Quốc hội

1. Xem xét, phê chuẩn quyết toán NSNN năm 2012: Thu cân đối 1.058.140 tỷ đồng, chi cân đối 1.170.924 tỷ đồng, bội chi NSNN 154.126 tỷ đồng, bằng 4,75% GDP.

2. Ban hành Nghị quyết để chỉ đạo các đơn vị thực hiện đầy đủ, kịp thời các kết luận, kiến nghị hợp lý của KTNN.

3. Xem xét để đưa nguồn Trái phiếu Chính phủ vào cân đối ngân sách nhà nước và nguồn Xổ số kiến thiết vào cân đối ngân sách địa phương nhằm phản ánh đúng thu, chi NSNN, quản lý chặt chẽ hơn các nguồn lực này.

Trên đây là một số nội dung chủ yếu trong Báo cáo kiểm toán năm 2013, KTNN trân trọng báo cáo./.


[1] Báo cáo quyết toán của 16 bộ, ngành, cơ quan trung ương; 34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; 26 dự án đầu tư xây dựng; 06 dự án, CTMTQG; 11 chuyên đề; 32 DNNN và các tổ chức tài chính ngân hàng; 21 đơn vị thuộc lĩnh vực quốc phòng – an ninh; 03 đầu mối thuộc cơ quan Đảng (Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh; 12 Tỉnh uỷ; Tổng cục Dự trữ Nhà nước); chi phí sản xuất bộ phim truyện truyền hình “Huyền thoại 1C” và kiểm toán Báo cáo quyết toán NSNN năm 2012 tại Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[2] Theo BCQT NSNN năm 2012, Bộ Tài chính gửi KTNN kèm theo Công văn số 2900/BTC-NSNN ngày 07/3/2014.

[3] Theo Công văn số 9983/BTC-QLN ngày 31/7/2013 của Bộ Tài chính gửi Thủ tướng Chính phủ về các chỉ tiêu giám sát nợ công và nợ nước ngoài quốc gia năm 2012.

[4] Năm 2011 kiểm toán 14 bộ, cơ quan trung ương, kiến nghị thu hồi nộp NSNN các khoản chi sai chế độ, định mức 9,7 tỷ đồng; năm 2012 kiểm toán 16 bộ, cơ quan trung ương, kiến nghị thu hồi nộp NSNN 8 tỷ đồng.

[5] Tỷ lệ động viên từ thuế, phí, lệ phí dự toán giao 21,1% GDP, định hướng 23% GDP.

[6] Tập đoàn, tổng công ty Nhà nước 1.843,6 tỷ đồng, DNNN của địa phương 237 tỷ đồng, DNNN của bộ, cơ quan trung ương 22,29 tỷ đồng, DNNQD 765 tỷ đồng; 225 đơn vị HCSN thuộc 34 địa phương 45 tỷ đồng, 200 đơn vị HCSN thuộc các bộ, cơ quan trung ương 104,39 tỷ đồng.

[7] Trung ương 38.105,032 tỷ đồng, địa phương 20.240,69 tỷ đồng.

[8] TP. Hà Nội 204 tỷ đồng, trong đó tiền thu sử dụng đất 52,5 tỷ đồng; Đà Nẵng 180 tỷ đồng, trong đó tiền thu sử dụng đất 179 tỷ đồng; Kiên Giang 58 tỷ đồng, trong đó tiền thu sử dụng đất 16,1 tỷ đồng; Phú Thọ 45 tỷ đồng, trong đó tiền thu sử dụng đất 1,4 tỷ đồng…

[9] Một số quận, huyện của TP. Đà Nẵng sử dụng nguồn bổ sung có mục tiêu để bù đắp hụt thu, chi thường xuyên; tỉnh An Giang sử dụng 1,95 tỷ đồng kinh phí bổ sung có mục tiêu từ trung ương, 2,98 tỷ đồng kinh phí các CTMT để cân đối cho các nhiệm vụ chi thường xuyên ngoài mục tiêu được giao; Huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk sử dụng 9,25 tỷ đồng từ nguồn thu sử dụng đất để chi cho các nhiệm vụ đã bố trí trong dự toán đầu năm nhưng chưa có nguồn do hụt thu; TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng sử dụng một số nguồn khác để bù đắp hụt thu 14,83 tỷ đồng.

[10] Tỉnh Đồng Tháp 38,502 tỷ đồng (ngân sách cấp tỉnh là 6,039 tỷ đồng, ngân sách cấp huyện là 32,463 tỷ đồng); Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 7,635 tỷ đồng; tỉnh Lâm Đồng 45,079 tỷ đồng (ngân sách tỉnh 30,246 tỷ đồng; TP. Bảo Lộc 14,833 tỷ đồng).

[11] Chưa hoàn tất việc sắp xếp cơ sở nhà đất, lập các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; còn tình trạng để đất bị lấn chiếm kéo dài…

[12] Tài khoản phát sinh từ năm 2003, số dư đến 31/12/2012 là 927.633,16 USD, đến 31/12/2013 là 928.574,13 USD.

[13] Theo Báo cáo quyết toán NSNN năm 2012 Bộ Tài chính gửi KTNN ngày 07/3/2014.

[14] Đến 31/12/2012: Số dư trên tài khoản thanh toán quỹ hoàn thuế GTGT đối với KBNN tỉnh tại KBNN TW là 46.532,5 tỷ đồng; số dư Quỹ hoàn thuế GTGT 54,16 tỷ đồng; số tiền KBNN đã ứng tồn ngân quỹ KBNN để thanh toán hoàn thuế GTGT đến 31/12/2012 là 46.478,34 tỷ đồng; lệnh chi từ NSNN chuyển Quỹ hoàn thuế GTGT năm 2013 đã quyết toán vào niên độ ngân sách năm 2012 là 13.000 tỷ đồng, thấp hơn số tiền KBNN đã ứng tồn ngân quỹ KBNN để thanh toán hoàn thuế GTGT đến 31/12/2012 là 33.478,34 tỷ đồng.

[15] Theo Báo cáo quyết toán NSNN năm 2012 Bộ Tài chính gửi KTNN ngày 07/3/2014.

[16] Đã thực hiện 39 văn bản (02 Nghị định; 05 thông tư; 04 nghị quyết của HĐND tỉnh; 16 quyết định, 10 công văn và 02 văn bản khác).

[17] Sửa đổi, bổ sung 48 văn bản: 01 nghị định, 13 thông tư, 01 chỉ thị, 13 quyết định, 20 văn bản khác; hủy bỏ 24 văn bản: 02 nghị định, 01 thông tư, 08 quyết định, 13 văn bản khác.

Nguồn: Trang điện tử Kiểm toán nhà nước, http://www.sav.gov.vn

Advertisements