TS. VŨ BẰNG

Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Sau khủng hoảng tài chính năm 2007-2008, nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện việc tái cấu trúc hệ thống tài chính, với quy mô và mức độ khác nhau. Đối với Việt Nam, công tác tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình tái cấu trúc thị trường chứng khoán và tái cấu trúc nền kinh tế.

1. Thực trạng các tổ chức kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam

Các công ty chứng khoán

Trong thời gian qua, các công ty chứng khoán (CTCK) đã phát huy vai trò là tổ chức trung gian trên thị trường chứng khoán (TTCK), giúp cho việc dẫn vốn và luân chuyển vốn trong nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài. Lượng nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán liên tục tăng trưởng qua các năm. Năm 2009 có trên 800.000 tài khoản, năm 2010 có trên 1 triệu tài khoản và năm 2013 có trên 1,3 triệu tài khoản.

Tại các CTCK, hệ thống công nghệ thông tin, mạng lưới cung cấp dịch vụ, đội ngũ người hành nghề không ngừng được tăng cường. Một số CTCK lớn đã chú trọng phát triển hệ thống quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ để hoạt động của công ty ngày càng tốt hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động của các CTCK cũng để lại một số vấn đề đáng chú ý. Số lượng các tổ chức tăng nhanh nhưng không bảo đảm hiệu quả hoạt động: Sự hình thành nhanh các CTCK dẫn đến việc cạnh tranh hết sức gay gắt, đặc biệt là cạnh tranh về thị phần môi giới (hơn 70% thị phần giao dịch tập trung vào 23 CTCK và chỉ có chưa đến 30% thị phần giao dịch do 80 CTCK còn lại nắm giữ). Để tăng khả năng cạnh tranh, thu hút khách hàng, một số CTCK thiếu sự chú trọng công tác quản trị rủi ro trong khi cung cấp các dịch vụ nhiều rủi ro. Khi thị trường đi xuống, nhiều CTCK đã bị thua lỗ và cũng có những CTCK đứng trước nguy cơ không huy động được đủ vốn cần thiết để duy trì hoạt động kinh doanh.

Ngoài ra, thực tế cũng cho thấy năng lực của các CTCK còn nhiều hạn chế về nghiệp vụ, nhân sự, cơ sở vật chất, đặc biệt tiềm lực tài chính chưa lớn.

Hệ thống công ty quản lý quỹ

Mặc dù ra đời trong bối cảnh khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, ngành quản lý quỹ vẫn tiếp tục duy trì hoạt động ổn định, an toàn, thận trọng dựa trên nền tảng những quy định pháp luật chặt chẽ theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Nhiều công ty quản lý quỹ (CTQLQ) tích cực đào tạo đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm, chuyên môn, từng bước định hình một ngành kinh doanh chứng khoán bậc cao và đội ngũ nhân sự có năng lực cần thiết cho việc phát triển hệ thống an sinh xã hội sau này.

Các CTQLQ đã từng bước khẳng định là những nhà đầu tư tổ chức lớn, tạo sức cầu cần thiết cho các chương trình cổ phần hóa, hỗ trợ sự phát triển của TTCK, thị trường trái phiếu. Một số công ty quản lý quỹ đã chủ động, tích cực huy động vốn đầu tư từ nước ngoài, từng bước tạo ra một kênh dẫn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài an toàn cho nền kinh tế.

Bên cạnh đó, các CTQLQ đã phát huy vai trò là những nhà quản lý tài sản chuyên nghiệp cho các tổ chức có nhiều vốn khả dụng, đặc biệt là các doanh nghiệp bảo hiểm và các ngân hàng. Điều này đã góp phần chuyên nghiệp hóa các hoạt động trên thị trường tài chính, ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng thương mại, CTCK đã và đang chuyển dần các hoạt động đầu tư tài chính sang các CTQLQ, để có nhiều nguồn lực tập trung và ngành nghề kinh doanh chính. Đây là xu hướng phù hợp với điều kiện của các tổ chức tài chính, ngân hàng Việt Nam, khi mà các tổ chức này còn có quy mô nhỏ, năng lực quản trị rủi ro thấp, đạo đức nghề nghiệp chưa có, tiềm ẩn nhiều xung đột lợi ích.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có những mặt tồn tại là nhiều CTQLQ hoạt động không hiệu quả, thua lỗ nhiều. Có tới 2/3 số công ty đang hoạt động không thể huy động được quỹ. Phần còn lại chỉ quản lý danh mục đầu tư ngắn hạn, chủ yếu là nguồn vốn ủy thác từ khối các ngân hàng, bảo hiểm. Các CTQLQ không phải là các định chế chuyên nghiệp về hoạt động tín dụng, không có hệ thống thẩm định tín dụng, vì vậy việc dùng nguồn vốn ủy thác từ các ngân hàng và cho vay lại càng rủi ro.

Năng lực hoạt động của các CTQLQ cũng còn hạn chế. Các công ty chưa chứng tỏ được năng lực trong hoạt động quản lý tài sản, kết quả hoạt động đầu tư cho khách hàng thấp. Có những công ty không tuân thủ quy định của pháp luật, không tách biệt tài sản của khách hàng, chưa tạo được lòng tin cho khách hàng. Đội ngũ nhân sự có trình độ, nghiệp vụ chuyên môn về quản lý tài sản chưa nhiều. Phần mềm, công nghệ tiên tiến chỉ được thực hiện tại một số các công ty có vốn nước ngoài và đang quản lý các quỹ đầu tư đại chúng. Phần còn lại đa số các công ty áp dụng các phần mềm không chuyên biệt, thao tác thủ công, chỉ phù hợp với hoạt động ở mức độ thấp như hiện tại.

Hiệu quả hoạt động của các công ty quản lý quỹ là không đồng đều, khi có tới 65% các CTQLQ có vốn góp của các ngân hàng, doanh nghiệp bảo hiểm có lãi lũy kế kể từ khi thành lập. Trong số các công ty còn lại, chỉ có 28% công ty là có khả năng tạo lợi nhuận.

2. Mục tiêu, nguyên tắc tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán

Công tác tái cấu trúc TTCK được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Bộ Tài chính thực hiện song hành cùng với việc tiếp tục, duy trì sự phát triển của thị trường này. Có nghĩa là, đồng thời vừa tái cấu trúc, lành mạnh hóa hoạt động của thị trường, vừa tiếp tục triển khai, phát triển các sản phẩm trên thị trường nhằm hỗ trợ và thúc đẩy nhanh hơn công tác tái cấu trúc. Thực tế, thì việc tái cấu trúc TTCK đã được Bộ Tài chính, UBCKNN nhìn nhận từ ngay sau khủng hoảng tài chính năm 2008 và đã được chủ động tổ chức thực hiện ngay từ năm 2010.

Đề án Tái cấu trúc TTCK đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trong đó, tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán (TCKDCK) là 1 trong 4 trụ cột chính: tái cấu trúc cơ sở hàng hóa, cơ sở nhà đầu tư, tái cấu trúc TCKDCK và tái cấu trúc hệ thống thị trường. Các mục tiêu chung đối với tái cấu trúc các TCKDCK đó là cơ cấu lại hệ thống các TCKDCK phù hợp với nhu cầu, đặc điểm và quy mô phát triển của thị trường; củng cố hoạt động, nâng cao năng lực tài chính, quản trị công ty, quản trị rủi ro tại các tổ chức này theo thông lệ quốc tế.

Các mục tiêu cụ thể:

– Cơ cấu lại số lượng các TCKDCK theo hướng thu hẹp số lượng, xử lý thanh lọc các TCKDCK yếu kém, không hiệu quả (không phân biệt công ty lớn hay bé).

– Cấu trúc lại mô hình tổ chức hoạt động của các TCKDCK nhằm nâng cao chất lượng hoạt động, năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp và khả năng kiểm soát rủi ro.

– Cơ cấu lại thành phần tham gia góp vốn trong TCKDCK trong đó có các ngân hàng, tổng công ty, tập đoàn, góp vốn của Nhà nước theo hướng hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế.

– Tăng cường khả năng, hiệu quả quản lý, giám sát đối với hoạt động TCKDCK.

– Mở cửa thị trường dịch vụ tài chính theo lộ trình hội nhập đã cam kết.

Các nguyên tắc đặt ra:

– Phải tuân thủ quy định pháp luật. Trường hợp các quy định pháp luật chưa đầy đủ, rõ ràng cần bổ sung, sửa đổi (chủ yếu là Nghị định, Thông tư) để có căn cứ pháp lý thực hiện.

– Cơ quan quản lý nhà nước thực hiện vai trò chỉ đạo trong việc tái cấu trúc lại các TCKDCK (ban hành quy định pháp luật, giám sát các tiêu chí và cưỡng chế thực thi). Cơ quan quản lý nhà nước không làm thay các TCKDCK mà chỉ sử dụng quyền lực của mình để yêu cầu các công ty thực hiện, kể cả giải pháp rút giấy phép hoạt động nếu các công ty không đáp ứng được các điều kiện.

– Việc tái cấu trúc các TCKDCK được thực hiện theo lộ trình, có bước đi thận trọng, chắc chắn, không làm xáo trộn hoạt động của TTCK cũng như các hoạt động kinh tế xã hội của đất nước, đảm bảo lợi ích hợp pháp khách hàng.

– Xử lý tốt mối quan hệ giữa các TCKDCK, ngân hàng và tổ chức bảo hiểm đảm bảo quản trị rủi ro, đồng thời sử dụng các nghiệp vụ thị trường để tái cơ cấu thông qua cơ chế góp vốn minh bạch (đặc biệt là việc tham gia của các ngân hàng thương mại đối với TTCK) và các sản phẩm liên kết thị trường được phép áp dụng theo quy định của pháp luật.

3. Tình hình triển khai tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán

Hoàn thiện khung pháp lý

Để đẩy mạnh công tác tái cấu trúc các TCKDCK, rất nhiều văn bản chính sách đã được ban hành kịp thời trong thời gian qua, cụ thể như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện các quy định về an toàn tài chính, theo hướng rút ngắn thời gian khắc phục nhằm giảm bớt số lượng các định chế trung gian. Để thực hiện việc này, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 226/2010/TT-BTC và Thông tư số 165/2012 ngày 9/10/2012 sửa đổi, bổ sung Thông tư 226/2010/ TT-BTC theo hướng củng cố các biện pháp xử lý đối với các TCKDCK không bảo đảm an toàn tài chính (02 Thông tư này sau đó đã được hợp nhất tại Thông tư số 91/2013/TT-BTC).

Thứ hai, hoàn thiện các quy định về tổ chức, hoạt động theo hướng siết chặt quản lý hoạt động cung cấp dịch vụ của các CTCK; thể chế hóa các yêu cầu, tiêu chí, điều kiện về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ, quản trị rủi ro và quản trị điều hành doanh nghiệp. Về nội dung này, Bộ Tài chính đã ban hành là Thông tư số 210/2012/TT-BTC và Thông tư số 212/2012/TT-BTC.

Thứ ba, mở cửa thị trường theo cam kết WTO, cho phép hình thành TCKDCK 100% vốn nước ngoài theo cam kết WTO nhằm tăng sức cạnh tranh trên TTCK. Về nội dung này, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 91/2013/TT-BTC.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống quản lý, giám sát dựa trên rủi ro nhằm tăng cường khả năng, hiệu quả quản lý nhà nước, giám sát đối với các TCKDCK này theo tiêu chuẩn quốc tế. Về nội dung này, UBCKNN đã ban hành các quy chế quản lý, giám sát theo bộ tiêu chí CAMEL (Quyết định 427/QĐ-UBCK ngày 11/7/2013 về việc ban hành Quy chế hướng dẫn đánh giá, xếp loại CTQLQ; Quyết định số 617/QĐ-UBCK ngày 9/10/2013 về việc ban hành Quy chế hướng dẫn xếp loại CTCK). Đây thực chất là hệ thống các tiêu chí kỹ thuật nhằm cảnh báo trước rủi ro trong hoạt động của các CTCK, CTQLQ. Kết quả giám sát sẽ làm cơ sở cho việc thanh tra, kiểm tra hoạt động các tổ chức này.

Đối với các TCKDCK, UBCKNN cũng đã ban hành quy chế hướng dẫn các tổ chức này cách thức thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro, cụ thể như Quyết định số 105/QĐ-UBCK ngày 26/2/2013 và Quyết định số 428/QĐ-UBCK ngày 11/7/2013 về việc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro cho CTCK, CTQLQ.

Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy việc tái cấu trúc các TCKDCK và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức này.

Kết quả thực hiện

Căn cứ Đề án Tái cấu trúc TTCK đã được phê duyệt và dựa trên cơ sở các văn bản pháp lý đã ban hành, đặc biệt là tỷ lệ vốn khả dụng, UBCKNN đã phân loại các CTCK thành 4 nhóm, từ đó có các giải pháp phù hợp để xử lý.

(1) Đối với các TCKDCK có hoạt động lành mạnh:

– Duy trì, ổn định và từng bước nâng cao năng lực tài chính; cơ cấu lại hoạt động kinh doanh, tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chính là cung cấp các dịch vụ chứng khoán;

– Nâng cao năng lực kiểm soát và quản trị rủi ro qua việc áp dụng hệ thống quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế;

– Nâng cao năng lực quản trị và điều hành công ty qua việc cơ cấu lại hệ thống quản trị, tổ chức lại bộ máy, nhân sự;

– Tạo điều kiện để các công ty tái cấu trúc thông qua hợp nhất, sáp nhập trên cơ sở phương án được Đại hội đồng cổ đông thông qua và theo quy định của pháp luật.

(2) Đối với các TCKDCK hoạt động bình thường:

Ngoài áp dụng các giải pháp như đối với các CTCK hoạt động lành mạnh, UBCKNN thực hiện giám sát chặt chẽ hoạt động của các công ty thuộc nhóm này, tăng tần suất báo cáo về tỷ lệ an toàn tài chính lên 2 lần/tháng theo quy định tại Thông tư 226/2010/TT-BTC.

(3) Đối với các TCKDCK bị kiểm soát, kiểm soát đặc biệt:

Sau khi quyết định đặt CTCK vào diện kiểm soát/kiểm soát đặc biệt, UBCKNN đã yêu cầu các CTCK bị kiểm soát, kiểm soát đặc biệt thực hiện các phương án khắc phục tình trạng bị kiểm soát, kiểm soát đặc biệt như bổ sung vốn, rút bớt nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán đồng thời thiết lập cơ sở pháp lý cũng như các hướng dẫn cụ thể về việc này tại Thông tư 210/2012/TT-BTC, xây dựng quy trình rút, đình chỉ, tạm ngừng hoạt động nghiệp vụ môi giới chứng khoán của CTCK.

Kết quả thực hiện công tác tái cấu trúc cho tới nay như sau: có 24 CTCK và 6 CTQLQ đã được tái cấu trúc, rút khỏi thị trường dưới các hình thức như giải thể, đình chỉ hoạt động, tạm ngừng hoạt động, kiểm soát, kiểm soát đặc biệt hoặc từng bước rút các nghiệp vụ kinh doanh.

Như vậy, từ 103 nay chỉ còn 89 CTCK còn hoạt động có nghiệp vụ môi giới chứng khoán; từ 47 nay chỉ còn 41 CTQLQ đang hoạt động. Các CTQLQ hoạt động kém hiệu quả, cổ đông là các cá nhân đang dần được thay thế bởi các CTQLQ trực thuộc các tập đoàn tài chính lớn, có tình hình tài chính lành mạnh và năng lực cao trong công tác quản trị công ty. Kết quả tái cấu trúc sau một năm cho thấy đã thu hẹp khoảng gần 20% số lượng các TCKDCK.

Ngoài ra, thời gian qua UBCKNN cũng đã thực hiện đánh giá, xếp loại các CTCK dựa trên quy chế CAMEL. Theo đó, đã phân loại các CTCK thành các nhóm A, B, C, D, E để từ đó có phương án theo dõi, xử lý đối với từng nhóm; và tiến hành kiểm tra đối với các CTCK nằm trong nhóm D, E.

Đánh giá chung, công tác tái cấu trúc TCKDCK đảm bảo được mục đích và nguyên tắc, cụ thể:

Một là, nâng cao chất lượng hoạt động, năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp và khả năng kiểm soát rủi ro của các TCKDCK, trên cơ sở đó từng bước thu hẹp số lượng. Tăng cường khả năng, hiệu quả quản lý, giám sát đối với hoạt động TCKDCK.

Hai là, việc tái cấu trúc các TCKDCK được thực hiện theo lộ trình, có bước đi thận trọng, chắc chắn, không làm xáo trộn hoạt động của TTCK, bảo đảm minh bạch, đảm bảo lợi ích hợp pháp và an toàn tài sản của khách hàng.

Ba là, TCKDCK đã thực hiện tự tái cấu trúc trên cơ sở quy định của pháp luật, lộ trình của Đề án tái cấu trúc và theo sự quản lý, giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước. Xử lý tốt mối quan hệ giữa TCKDCK, ngân hàng, khách hàng và đảm bảo quản trị rủi ro, đồng thời sử dụng các nghiệp vụ thị trường để tái cơ cấu thông qua cơ chế góp vốn minh bạch.

Bốn là, các văn bản pháp lý được hoàn thiện đã góp phần kiểm soát chặt chẽ vấn đề rủi ro, đầu tư vào thị trường tài chính, bất động sản, vấn đề liên thông vốn với ngân hàng, vấn đề tách bạch tài khoản, hỗ trợ và đẩy nhanh hơn, quyết liệt hơn quá trình tái cấu trúc các TCKDCK.

4. Giải pháp tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán thời gian tới

Trong thời gian tới, UBCKNN sẽ quyết liệt thực hiện công tác tái cấu trúc, thu hẹp số lượng các TCKDCK; Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung các quy định nhằm thắt chặt hoạt động của các TCKDCK (sửa đổi bổ sung Thông tư 21/2012/TT-BTC), đặc biệt trong công tác quản lý tài chính (huy động vốn và sử dụng vốn) tại các tổ chức này; minh bạch hóa và bảo đảm an toàn tài chính (cơ chế quản lý tài chính, các khoản phải thu/phải trả); Phối hợp với Vụ Chế độ kế toán trình Bộ cho ban hành chế độ kế toán đối với các CTCK theo giá trị hợp lý nhằm lành mạnh hóa và minh bạch hóa hoạt động tài chính của các tổ chức này, loại bỏ các rủi ro tiềm ẩn trong hệ thống tài chính. Trong trường hợp cần thiết, tiếp tục xem xét bổ sung quy định về an toàn tài chính nhằm rút ngắn quá trình tái cấu trúc hệ thống các TCKDCK.

Các giải pháp khác là tiếp tục hợp nhất, giải thể, phá sản các CTCK yếu kém, thua lỗ dựa trên nền tảng các chỉ tiêu an toàn tài chính; Tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục hành chính, khuyến khích việc hợp nhất, sáp nhập các TCKDCK; Xem xét nâng cao tiêu chí thành viên của Sở GDCK nhằm xử lý những CTCK yếu kém.

Công tác đánh giá, phân loại CTCK và thực hiện kiểm tra, hoạt động CTCK, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm cũng sẽ được tăng cường. Quy chế hướng dẫn xếp loại CTCK (CAMEL) sẽ là cơ sở để chủ động giám sát, kiểm tra các CTCK.

Bên cạnh đó, UBCKNN sẽ tiếp tục thực hiện phân loại CTCK thành 4 nhóm như Đề án tái cấu trúc TTCK và doanh nghiệp bảo hiểm đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trên cơ sở quy định về chỉ tiêu an toàn tài chính tại Thông tư 226/2010/TT-BTC xử lý nghiêm những công ty vi phạm về an toàn tài chính.

Ngoài ra, UBCKNN cũng sẽ tiếp tục triển khai việc nghiên cứu trình ban hành chuẩn mực và chế độ kế toán theo giá trị hợp lý, trước mắt chỉ áp dụng đối với các CTCK, CTQLQ để thí điểm; ban hành cơ chế tài chính áp dụng cho CTCK; Khuyến khích các TCKDCK có tình hình tài chính lành mạnh mở rộng phạm vi hoạt động tại các thị trường khác trong khu vực; Tiếp tục kiểm soát chặt chẽ vấn đề rủi ro, đầu tư vào thị trường tài chính, bất động sản, vấn đề liên thông vốn với ngân hàng; Xây dựng các chuẩn mực đạo đức đối với các thành viên trong TTCK; Nâng cao tiêu chuẩn, áp dụng các chứng chỉ tài chính quốc tế đối với người hành nghề quản lý tài sản, đầu tư, kiểm toán…

NGUỒN: TẠP CHÍ TÀI CHÍNH SỐ 7 – 2014

Advertisements