Luật Tài chính: Nghị quyết này, về mặt thực tế không có gì đáng bàn, vì nó cần để xử lý những vấn đề trước mắt.

Nhưng về mặt lý luận pháp luật cũng như tài chính công, có một số vấn đề cần xem xét:

1. Nghị quyết của Quốc hội có cần căn cứ vào Luật Ngân sách Nhà nước không? Về hiệu lực, Nghị quyết của Quốc hội có hiệu lực rất cao, trong khi nội dung chính của nghị quyết (Điều 1) lại không hoàn toàn phù hợp với Điều 59 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002.

2. Lần đầu tiên có khái niệm "nguồn tăng bội chi", và liệu nguồn tăng bội chi này có được hiểu là nguồn tăng thu hay không, trong khi vay nợ lại không phải là nguồn thu của ngân sách trung ương theo Điều 30 Luật Ngân sách Nhà nước?

3. Lấy nguồn tăng bội chi để bù đắp hụt thu ngân sách trung ương là việc chưa có tiền lệ. Tại sao không giảm chi tương ứng với số thu chưa đạt theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước? Nếu vẫn giảm chi tương ứng với số hụt thu thì việc bù đắp này có ý nghĩa gì ngoài câu chuyện của các con số?

4. Và cuối cùng, nếu do tăng trần bội chi mà dẫn đến việc vay được nhiều tiền hơn, tại sao không quyết định trả lại tiền vay hoặc không tiếp tục vay (nhiều trường hợp hoàn toàn có thể) mà lại vẫn phải sử dụng cho bằng hết số tiền vay khi không thực sự cần?

Sau đây là toàn văn Nghị quyết:

————————————————————-

QUỐC HỘI

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Căn cứ Luật ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11;

Căn cứ Nghị quyết số 32/2012/QH13 ngày 10 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 2013;

Căn cứ Nghị quyết số 54/2013/QH13 ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Quốc hội về điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước năm 2013;

Sau khi xem xét Báo cáo số 146/BC-CP ngày 17 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện ngân sách nhà nước năm 2013, tình hình triển khai thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2014; Tờ trình số 167/TTr-CP ngày 22 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về phương án đảm bảo cân đối ngân sách trung ương và ngân sách địa phương năm 2013;Báo cáo thẩm tra số 1959/BC-UBTCNS13 ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Uỷ ban Tài chính – Ngân sách; Báo cáo tiếp thu, giải trình số 671/BC-UBTVQH13 ngày 05tháng 6 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về phương án bảo đảm cân đối ngân sách trung ương và ngân sách địa phương năm 2013,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1

Sử dụng 44.643,7 tỷ đồng từ nguồn: tăng bội chi ngân sách nhà nước 33.500 tỷ đồng, đạt mức trần theo Nghị quyết số 54/2013/QH13 ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Quốc hội và giảm chi ngân sách trung ương năm 2013 là 11.143,7 tỷ đồng để:

1. Chi theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các Nghị quyết của Quốc hội:

– Bù đắp hụt thu ngân sách trung ương năm 2013: 21.563 tỷ đồng;

– Thưởng vượt dự toán thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương theo Luật ngân sách nhà nước cho 05 tỉnh: 960,8 tỷ đồng;

– Hỗ trợ đầu tư cho các địa phương từ số vượt thu thuế xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu quốc tế đường bộ theo Nghị quyết số 14/2011/QH13 ngày 10 tháng 11 năm 2011 của Quốc hội: 72 tỷ đồng;

– Hỗ trợ giảm thu cân đối ngân sách địa phương cho 06 tỉnh, thành phố: 871,2 tỷ đồng.

2. Chi hỗ trợ ngư dân đóng tàu đánh bắt xa bờ; đóng tàu, trang thiết bị cho cảnh sát biển, lực lượng kiểm ngư: 16.000 tỷ đồng;

3. Chi một số khoản thực sự cấp bách để thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người có công cải thiện nhà ở, cấp bù chênh lệch lãi suất cho hai ngân hàng chính sách, hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, chi chương trình 135 theo Quyết định số 551/QĐ-TTg ngày 04 tháng 4 năm 2013 và Quyết định số 2405/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ, hoàn trả cho các địa phương tiền thuế thu nhập doanh nghiệp do các doanh nghiệp quốc phòng đã nộp ngân sách trung ương trong những năm 2011, 2012 và bổ sung một số khoản chi an ninh cấp bách theo Tờ trình số 167/TTr-CP ngày 22 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ: 5.176,7 tỷ đồng.

Điều 2

Giao Chính phủ xem xét, quyết định phân bổ các nội dung cụ thể theo quy định tại Điều 1 của Nghị quyết này và báo cáo Quốc hội tình hình thực hiện tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XIII.

Điều 3

Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Uỷ ban Tài chính – Ngân sách, Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ,quyền hạn giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 09 tháng 6 năm 2014.

                                                                               CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

                                                                                 Nguyễn Sinh Hùng

Advertisements