Luật gia TRẦN VŨ HẢI

Vụ đại án Nguyễn Đức Kiên rất đáng quan tâm nhưng có lẽ cần thêm thời gian để có được thông tin mới có thể bình luận sâu hơn. Cảm nhận ban đầu là: Sự rắc rối của những giao dịch vốn đã được minh chứng trên mái tóc bạc của bầu Kiên chăng?
Ở đây, người viết chỉ bàn đến một điểm: đó là liệu việc mua bán cổ phiếu của một doanh nghiệp có phải là hành vi kinh doanh hay không? Nếu được xem là hành vi kinh doanh, thì việc không đăng ký kinh doanh có bị coi là kinh doanh trái phép?
Hãy bắt đầu bằng một câu hỏi: tại sao Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán không có định nghĩa rõ ràng về nhà đầu tư trong hoạt động mua, bán cổ phần, cổ phiếu (thật ra trong Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán có định nghĩa, nhưng có cũng như không vì không chỉ ra được những đặc trưng bản chất nào.). Có lẽ vì lý do đơn giản: bất cứ ai cũng có quyền đầu tư nên việc đưa ra một định nghĩa chỉ làm cho hạn hẹp quyền đầu tư của các chủ thể này mà thôi.

Do đó, đầu tư bằng cách mua bán tài sản là cổ phần, cổ phiếu luôn được hiểu là một quyền năng của chủ thể dân sự, không thể bị hạn chế, trừ những trường hợp bảo vệ lợi ích chung hoặc cần có những điều kiện trong lĩnh vực đặc biệt. Và vì nó là một quyền năng dân sự, nên không cần phải đăng ký như một hoạt động kinh doanh.
Đương nhiên, nếu chủ thể đó được thành lập chỉ với mục đích đầu tư hoặc đầu tư được xem là hoạt động chủ yếu, thì cần phải đăng ký để trở thành chủ thể đầu tư chuyên nghiệp để đảm bảo khả năng giám sát của nhà nước trong việc giữ cho thị trường chứng khoán vận hành một cách công bằng và hiệu quả. Công ty đầu tư chính là một mô hình như vậy.
Trong một bài viết đã lâu ("Một số vấn đề pháp lý về công ty đầu tư chứng khoán", Tạp chí Luật học, tháng 8/2006), người viết đã chỉ ra một lỗ hổng trong pháp luật chứng khoán: đó là chỉ khi nào một công ty đầu tư được thành lập với giấy phép của Ủy ban Chứng khoán nhà nước (UBCKNN), thì nó mới được gọi là công ty đầu tư, mặc dù có thể nó chẳng thực sự đầu tư bao nhiêu. Trong khi đó, một công ty không phải công ty đầu tư, được đăng ký theo Luật Doanh nghiệp, nhưng đa số vốn của nó được đầu tư vào cổ phần, cổ phiếu thì lại chẳng chịu sự quản lý của UBCKNN, trừ phi nó là công ty đại chúng.
Việc quản lý theo hình thức như vậy sẽ không thể có hiệu quả, và những vụ án như vụ bầu Kiên sẽ có nguy cơ tiếp diễn. Các doanh nghiệp sẽ rụt vốn về, không dám tham gia thị trường chứng khoán nữa, vì sợ sự suy diễn là kinh doanh trái phép!
Nên chăng, chúng ta học theo luật Mỹ: nếu một công ty, bất kể ban đầu như thế nào, nếu có tỷ lệ vốn đầu tư vào cổ phần, cổ phiếu vượt qua một mức nhất định (ví dụ 51%) thì bắt buộc phải đăng ký trở thành công ty đầu tư và chịu sự giám sát của UBCKNN.
Như vậy, sẽ không cần phải tranh luận nữa.

Lời cuối: Cũng cần phải bàn thêm về khái niệm kinh doanh trái phép: Đó là chỉ khi nào hoạt động kinh doanh đó bị cấm mà chủ thể vẫn tiến hành kinh doanh thì mới nên gọi là trái phép. Còn nếu được quyền tiến hành và đủ điều kiện, nhưng cần phải được cấp phép mà lại không có giấy phép, thì chỉ nên gọi là kinh doanh không phép. Nếu có giấy phép nhưng chủ thể đó không làm đúng nội dung giấy phép, thì gọi là kinh doanh sai phép. Về những khái niệm này, luật kinh doanh nên bắt chước quy định về cấp phép xây dựng.

Advertisements