Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Bảo Hiểm

Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường trong các phân ngành dịch vụ bảo hiểm sau:

  • Bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm y tế);
  • Bảo hiểm phi nhân thọ;
  • Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;
  • Trung gian bảo hiểm (môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm);
  • Các dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường).

Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có thể thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam theo những hình thức nào?

Theo cam kết trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm, các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài được quyền hiện diện ở Việt Nam dưới các hình thức:

  1. Văn phòng đại diện (tuy nhiên các văn phòng đại diện không được phép kinh doanh sinh lời trực tiếp);
  2. Liên doanh với đối tác Việt Nam;
  3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (với những hạn chế về loại dịch vụ được phép cung cấp theo lộ trình);
  4. Chi nhánh (với điều kiện mở sau 11/1/2012 và chi nhánh chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ).

Hộp 1 – Hạn chế về loại dịch vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài được phép cung cấp
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc, bao gồm:
– Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba;
– Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt;
– Bảo hiểm các công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường.
Cũng theo cam kết thì tất cả các hạn chế này phải được bãi bỏ từ ngày 1/1/2008.

Tỷ lệ góp vốn tối đa dưới hình thức mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam là bao nhiêu?

Trong phần cam kết chung về dịch vụ (còn gọi là cam kết nền), Việt Nam cam kết sau 1 năm kể từ ngày gia nhập, tức là từ 11/1/2008, mức cổ phần do các nhà đầu tư nước ngoài được phép nắm giữ tại các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phù hợp với mức mà họ được phép nắm giữ trong trường hợp đầu tư trực tiếp.

Trong khi đó, Việt Nam đã cam kết cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được phép lập doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài kể từ khi gia nhập, do đó tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cũng sẽ là 100%.

Các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tại Việt Nam có được mua bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài (không có hiện diện thương mại tại Việt Nam) không?

Theo cam kết của Việt Nam trong WTO, các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài không có hiện diện thương mại (văn phòng đại diện, chi nhánh, liên doanh, doanh nghiệp con) tại Việt Nam được quyền cung cấp các dịch vụ bảo hiểm sau cho khách hàng tại Việt Nam:

  1. Dịch vụ bảo hiểm cung cấp cho khách hàng là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài tại Việt Nam;
  2. Dịch vụ tái bảo hiểm;
  3. Dịch vụ bảo hiểm vận tải quốc tế (vận tải biển, vận tải hàng không quốc tế; hàng hóa đang vận chuyển quá cảnh quốc tế);
  4. Dịch vụ môi giới bảo hiểm, môi giới tái bảo hiểm;
  5. Các dịch vụ môi giới, tư vấn, tính toán, đánh giá rủi ro, giải quyết bồi thường. 

Như vậy, trừ trường hợp (i), tất cả các trường hợp còn lại đều không có hạn chế về đối tượng khách hàng mua dịch vụ bảo hiểm (tức là cả tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài trong những trường hợp đã nêu đều có thể mua các dịch vụ này từ các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam.

Hộp 2 – Doanh nghiệp Việt Nam khi xuất nhập khẩu có thể mua bảo hiểm cho hàng hóa của doanh nghiệp bảo hiểm nào?
Theo cam kết, Việt Nam không hạn chế loại doanh nghiệp bảo hiểm có thể cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu theo đường biển đi hoặc đến Việt Nam. Vì vậy, chủ hàng Việt Nam có thể mua bảo hiểm cho hàng hóa của mình tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam hay các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài (dù họ không có hiện diện tại Việt Nam).

Các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân Việt Nam ra nước ngoài hoạt động, học tập, lao động có được quyền mua bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài không?

Việt Nam cam kết không có hạn chế gì đối với việc tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài (phương thức 2) trong lĩnh vực bảo hiểm. Vì vậy, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân Việt Nam ra nước ngoài hoạt động, học tập, lao động, hoạt động kinh doanh có quyền mua bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.

Việc tái bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm FDI hay chi nhánh của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam có bị hạn chế gì không?

Theo cam kết, Việt Nam không được đưa ra hạn chế nào đối với hoạt động tái bảo hiểm (kể cả tái bảo hiểm ra nước ngoài) của các hiện diện thương mại của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam (chi nhánh, liên doanh, công ty con).

Vì vậy, các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài hay chi nhánh của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam không bắt buộc phải tái bảo hiểm với bất kỳ một doanh nghiệp cụ thể nào của Việt Nam mà có thể trực tiếp tái bảo hiểm toàn bộ với các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.

Ngoài các hạn chế đối với dịch vụ bảo hiểm như đã liệt kê trong biểu cam kết dịch vụ, Việt Nam có quyền áp dụng các biện pháp hạn chế khác không?

Ngoài các hạn chế liệt kê trong Biểu cam kết (như đã trình bày ở các câu trên), Việt Nam hoàn toàn có quyền áp dụng các điều kiện kỹ thuật khác để đảm bảo năng lực của nhà cung cấp dịch vụ và chất lượng dịch vụ. Đặc biệt đối với các dịch vụ tài chính thì các Thành viên WTO còn được áp dụng các điều kiện thận trọng khác để đảm bảo sự ổn định của thị trường tài chính.

Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Ngân Hàng Và Các Dịch Vụ Tài Chính

Việt Nam có cam kết mở cửa những dịch vụ ngân hàng nào khi gia nhập WTO?

Về dịch vụ ngân hàng, trong WTO, Việt Nam đã đưa ra cam kết mở cửa trong các ngành sau:                                                                                                                                                 1. Dịch vụ nhận tiền gửi (nhận tiền gửi và các khoản phải trả khác từ công chúng);

2. Dịch vụ cho vay (cho vay dưới tất cả các hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng cầm cố thế chấp, bao thanh toán và tài trợ giao dịch thương mại);

3. Dịch vụ thuê mua tài chính;

4. Dịch vụ thanh toán (tất cả các dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ thanh toán và thẻ nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng);

5. Bảo lãnh và cam kết;

6. Kinh doanh trên tài khoản của mình hoặc của khách hàng, tại sở giao dịch, trên thị trường giao dịch thoả thuận hoặc bằng cách khác, các loại:

    • Công cụ thị trường tiền tệ  (bao gồm séc, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi);
    • Ngoại hối;
    • Các công cụ tỷ giá và lãi suất, bao gồm các sản phẩm như hợp đồng hoán đổi, hợp đồng kỳ hạn;
    • Vàng khối.

7. Môi giới tiền tệ;

8. Quản lý tài sản (quản lý tiền mặt hoặc danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác);

9. Các dịch vụ thanh toán và bù trừ tài sản tài chính (bao gồm chứng khoán, các sản phẩm phái sinh và các công cụ chuyển nhượng khác);

10. Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý dữ liệu tài chính cũng như các phần mềm liên quan của các nhà cung cấp các dịch vụ tài chính khác

Các nhóm dịch vụ mà Việt Nam có cam kết này được xác định theo phân loại tại Phụ lục về dịch vụ tài chính của WTO.

Các ngân hàng nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam có được cung cấp dịch vụ cho khách hàng tại Việt Nam không?

Theo cam kết, Việt Nam cho phép các ngân hàng nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam (công ty con, chi nhánh, văn phòng đại diện, hợp đồng hợp tác kinh doanh) cung cấp cho khách hàng tại Việt Nam nhưng chỉ giới hạn ở các dịch vụ sau:

– Cung cấp thông tin tài chính;

– Xử lý dữ liệu tài chính;

– Cung cấp phần mềm tài chính;

– Tư vấn, môi giới, phân tích tín dụng;

– Nghiên cứu và tư vấn về đầu tư, danh mục đầu tư, mua lại, tái cơ cấu và chiến lược doanh nghiệp.

Điều kiện thành lập ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam?

Về việc thành lập liên doanh

Việt Nam cam kết cho phép thành lập ngân hàng liên doanh tại Việt Nam ngay từ thời điểm gia nhập WTO (11/1/2007) với điều kiện:

– Phía nước ngoài tham gia liên doanh phải là ngân hàng thương mại có tổng tài sản có trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm liền trước thời điểm nộp đơn xin thành lập liên doanh tại Việt Nam; và

– Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 50% vốn điều lệ.

Về việc thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài

Việt Nam cam kết cho phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài kể từ ngày 1/4/2007 với điều kiện ngân hàng nước ngoài là chủ đầu tư phải là ngân hàng thương mại có tổng tài sản có trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm liền trước thời điểm nộp đơn xin thành lập ngân hàng tại Việt Nam.

Ngoài điều kiện theo cam kết, việc thành lập ngân hàng tại Việt Nam phải tuân thủ các điều kiện kỹ thuật áp dụng chung theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Hộp 1 – Pháp luật Việt Nam quy định gì về việc thành lập ngân hàng FDI?
Nghị định 22/2006/NĐ-CP của Chính phủ là văn bản chính quy định về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài và văn phòng đại diện của các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam.
Tất cả các điều kiện về việc thành lập ngân hàng FDI trong cam kết WTO của Việt Nam đã được đưa vào nội dung Nghị định này.

Điều kiện thành lập các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam?

Điều kiện chung

Việt Nam cam kết cho phép thành lập các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam với điều kiện:

– Công ty mẹ phải có tổng tài sản trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn xin thành lập công ty tại Việt Nam;

– Tuân thủ các điều kiện kỹ thuật áp dụng chung theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Ngoài các điều kiện chung, việc thành lập công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính còn phải đáp ứng điều kiện riêng đối với từng loại như sau:

Đối với công ty tài chính

Việt Nam cam kết cho phép thành lập công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài với điều kiện phía nước ngoài phải là các ngân hàng thương mại nước ngoài hoặc công ty tài chính nước ngoài.

Đối với công ty cho thuê tài chính

Việt Nam cam kết cho phép thành lập công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài với điều kiện phía nước ngoài phải là các ngân hàng thương mại nước ngoài, công ty tài chính nước ngoài hoặc công ty cho thuê tài chính nước ngoài.

Điều kiện thành lập chi nhánh của tổ chức tài chính nước ngoài tại Việt Nam?

Đối với Chi nhánh Ngân hàng thương mại nước ngoài tại Việt Nam

Việt Nam cam kết cho phép các ngân hàng thương mại nước ngoài được thành lập chi nhánh của họ tại Việt Nam với điều kiện:

  1. Ngân hàng mẹ có tổng tài sản trên 20 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm liền trước thời điểm nộp đơn xin lập chi nhánh ở Việt Nam;
  2. Chi nhánh được thành lập phải chịu các hạn chế trong hoạt động của mình.

Ngoài các điều kiện nêu trong cam kết nói trên, các ngân hàng nước ngoài muốn thành lập chi nhánh tại Việt Nam phải tuân thủ các điều kiện khác về mặt kỹ thuật theo quy định của pháp luật Việt Nam (áp dụng chung cho cả ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài).

Hộp 2 – Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định như thế nào về việc thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam?

Những nội dung về điều kiện đối với việc mở chi nhánh của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam trong cam kết gia nhập WTO của Việt  Nam đã được đưa vào Công văn số 1210/NHNN-CNH của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện hành có mức mở cửa như mức cam kết.

Trên thực tế, trước khi gia nhập WTO, một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã được cấp phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam (37 chi nhánh tính đến 4/2007) mà không phải chịu các điều kiện tương tự.

Tuy nhiên, kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, việc thành lập chi nhánh của ngân hàng nước ngoài sẽ phải các điều kiện tuân thủ quy định tại Công văn nói trên (tức là phù hợp với cam kết).

Hộp 3 – Những hạn chế trong hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

  1. Không được phép mở các điểm giao dịch khác ngoài trụ sở giao dịch chính của mình

Ví dụ Ngân hàng A mở chi nhánh X1 tại Việt Nam thì chi nhánh X1 này không được tự mình mở các điểm giao dịch, chi nhánh khác. Nếu muốn mở rộng mạng lưới hoạt động, Ngân hàng A phải tự mình xin phép mở các chi nhánh X2, X3, v.v hoặc thông qua các hình thức đầu tư khác.
Việt Nam cam kết không hạn chế số chi nhánh trực tiếp của các ngân hàng nước ngoài;

  1. Bị hạn chế trong việc nhận tiền gửi bằng Đồng Việt Nam từ các thể nhân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng (chưa cung cấp các khoản vay, cho vay, chưa nhận tiền gửi, v.v) theo % mức vốn mà ngân hàng mẹ cấp cho chi nhánh như sau:
  • Từ 1/1/2007: 650% vốn pháp định được cấp;
  • Từ 1/1/2008: 800% vốn pháp định được cấp
  • Từ 1/1/2009: 900% vốn pháp định được cấp;
  • Từ 1/1/2010: 1000% vốn pháp định được cấp;
  • Từ 1/1/2011: được nhận tiền gửi bằng Đồng Việt Nam ở mức tương tự các ngân hàng Việt Nam.

Đối với Chi nhánh Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam

Việt Nam chưa cam kết gì về việc thành lập chi nhánh công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính nước ngoài tại Việt Nam. Vì vậy, việc cho phép thành lập chi nhánh các công ty này tại Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách và pháp luật liên quan của Việt Nam trong từng thời kỳ.

Điều kiện thành lập văn phòng đại diện của ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính nước ngoài tại Việt Nam?

Việt Nam cam kết cho phép các tổ chức tài chính nước ngoài (ngân hàng thương mại nước ngoài, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính) được mở Văn phòng đại diện tại Việt Nam với điều kiện Văn phòng đại diện không được phép tiến hành các hoạt động thương mại sinh lời trực tiếp.

Thời hạn hoạt động tối đa của các loại hình tổ chức tín dụng FDI ở Việt Nam là bao lâu?

Trong WTO, Việt Nam không cam kết về thời hạn hoạt động của các loại hình tổ chức tín dụng này. Như vậy, Việt Nam có quyền tự do quy định về thời hạn này.
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành thì thời hạn hoạt động tối đa của các tổ chức tín dụng này được quy định như sau:

– Đối với ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài: không quá 99 năm;

– Đối với chi nhánh của ngân hàng nước ngoài: không vượt quá thời hạn hoạt động của ngân hàng mẹ và không quá 99 năm;

– Đối với văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài: không vượt quá thời hạn hoạt động của ngân hàng mẹ;

– Công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh và công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài: 50 năm

Thời hạn hoạt động cụ thể được quy định trong giấy phép được cấp và có thể được gia hạn theo yêu cầu (thời hạn gia hạn không vượt quá thời hạn hoạt động trước đó được quy định trong giấy phép).

Ngân hàng nước ngoài có được thiết lập các máy rút tiền tự động, phát hành thẻ tín dụng không?

Theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, các ngân hàng nước ngoài được hưởng đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia đầy đủ, tức là các ngân hàng này có quyền thiết lập và vận hành các máy rút tiền tự động (ATM) như các ngân hàng Việt Nam. Hiện nay đối với các ngân hàng Việt Nam, không có hạn chế số lượng các máy rút tiền tự động mà các ngân hàng này được phép lắp đặt.

Các tổ chức tín dụng nước ngoài cũng được phép phát hành thẻ tín dụng tại Việt Nam như các ngân hàng Việt Nam.

Việt Nam có thể áp dụng các biện pháp khác ngoài cam kết đối với việc thành lập, tham gia, hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng và dịch vụ tài chính không?

Do tính đặc thù và tầm quan trọng của dịch vụ tài chính (đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đối với các nhà đầu tư, những người gửi tiền…), WTO cho phép các nước thành viên được áp dụng các biện pháp khác vì lý do thận trọng, đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính.

Do đó, ngoài các hạn chế về hình thức pháp nhân, yêu cầu về vốn, các hạn chế về hoạt động đối với chi nhánh… đối với nhà đầu tư nước ngoài được phép áp dụng theo cam kết (xem Biểu cam kết về dịch vụ ngân hàng), Việt Nam có thể xem xét áp dụng bổ sung các biện pháp mang tính hạn chế, kiểm soát chặt chẽ nhằm mục tiêu thận trọng.

Hộp 4 – Ví dụ về các yêu cầu bổ sung có thể có đối với tổ chức tài chính nước ngoài (ngoài cam kết)

  1. Yêu cầu về tỷ lệ dự trữ bắt buộc;
  2. Yêu cầu về vốn đối với việc thành lập chi nhánh, ngân hàng liên doanh;
  3. Yêu cầu về điều kiện vật chất, kỹ thuật, nhân lực, v.v đối với các tổ chức tín dụng.

Các yêu cầu này, nếu có, phải được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư nước ngoài (các ngân hàng thương mại nước ngoài, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính).

Những hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tại các ngân hàng Việt Nam?

Việt Nam cam kết về việc góp vốn dưới hình thức mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các ngân hàng Việt Nam như sau:

Đối với các ngân hàng thương mại quốc doanh được cổ phần hóa (ví dụ VCB, BIDV…): Tỷ lệ cổ phần của các tổ chức tín dụng nước ngoài trong các ngân hàng cổ phần hóa này có thể bị hạn chế như mức tỷ lệ cổ phần của các ngân hàng dân doanh Việt Nam trong các ngân hàng cổ phần hóa này;

Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần thuộc khu vực dân doanh: tổng số cổ phần do các cá nhân, tổ chức nước ngoài nắm giữ tại mỗi ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam không được vượt quá 30% vốn điều lệ của ngân hàng đó, trừ khi luật pháp Việt Nam có qui định khác hoặc được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

Việt Nam có đưa ra cam kết nào về ngoại hối hay không?

Về ngoại hối, Việt Nam cam kết như sau:

– Về giao dịch vãng lai: dỡ bỏ tất cả các biện pháp kiểm soát giao dịch vãng lai (và trên thực tế Việt Nam đã thực hiện cam kết này);

– Về giao dịch vốn: Việt Nam đã nới lỏng các giao dịch chuyển vốn của các nhà đầu tư nước ngoài và việc vay nước ngoài của các tổ chức cư trú;

– Về các biện pháp quản lý ngoại hối: chỉ được áp dụng trong những trường hợp ngoại lệ, do Chính phủ quyết định, để duy trì an ninh tài chính và tiền tệ quốc gia phù hợp với điều lệ của Quỹ Tiền tệ quốc tế;

Về cân đối ngoại tệ: Chính phủ cam kết bảo đảm cân đối nhu cầu ngoại tệ cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án đặc biệt quan trọng trong các chương trình của Chính phủ và hỗ trợ cân đối ngoại tệ cho các dự án cơ sở hạ tầng và một số dự án quan trọng khác trong trường hợp các ngân hàng được phép giao dịch ngoại hối không thể đáp ứng được tất cả các yêu cầu về ngoại tệ.

Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Chứng Khoán

Việt Nam cam kết mở cửa những dịch vụ chứng khoán nào?

Liên quan đến các dịch vụ chứng khoán, Việt Nam cam kết cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia cung cấp các dịch vụ chứng khoán sau tại Việt Nam:

  1. Giao dịch cho tài khoản của mình hoặc tài khoản của khách hàng tại sở giao dịch chứng khoán, thị trường giao dịch trực tiếp (OTC) hay các thị trường khác những sản phẩm sau:
    • Các công cụ phái sinh, bao gồm cả hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền lựa chọn;
    • Các chứng khoán có thể chuyển nhượng;
    • Các công cụ có thể chuyển nhượng khác và các tài sản tài chính,  trừ vàng khối.

       (Các dịch vụ này bao gồm cả nghiệp vụ môi giới)

  1. Tham gia vào các đợt phát hành mọi loại chứng khoán, bao gồm bảo lãnh phát hành, và làm đại lý bán (chào bán ra công chúng hoặc chào bán riêng), cung cấp các dịch vụ liên quan đến các đợt phát hành đó);
  2. Quản lý tài sản (bao gồm quản lý danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác);
  3. Các dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ chứng khoán, các công cụ phái sinh và các sản phẩm liên quan đến chứng khoán khác;
  4. Cung cấp và chuyển thông tin tài chính, các phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán. 

Các công ty chứng khoán nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài có thể cung cấp dịch vụ chứng khoán ở Việt Nam dưới hình thức nào?

Việt Nam cam kết cho phép các công ty chứng khoán nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động chứng khoán ở Việt Nam dưới các hình thức và điều kiện sau đây:

  • Văn phòng đại diện (với điều kiện các văn phòng đại diện không được thực hiện các hoạt động kinh doanh sinh lời trực tiếp);
  • Liên doanh với đối tác Việt Nam (với điều kiện tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 49%);
  • Doanh nghiệp chứng khoán 100% vốn nước ngoài (kể từ 11/1/2012);
  • Chi nhánh của công ty chứng khoán nước ngoài (kể từ 11/1/2012 và kèm theo điều kiện hoạt động của chi nhánh chỉ giới hạn ở cung cấp các dịch vụ quản lý tài sản, thanh toán và thanh toán bù trừ chứng khoán, cung cấp và chuyển thông tin tài chính, các phần mềm liên quan.      

Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Kế Toán, Kiểm Toán, Dịch Vụ Thuế

Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường trong những phân ngành nào của dịch vụ kế toán, kiểm toán, ghi sổ kế toán và dịch vụ thuế?

Đối với lĩnh vực kế toán, kiểm toán, ghi sổ kế toán và dịch vụ thuế, Việt Nam đưa ra cam kết đối với từng phân ngành dịch vụ theo Hệ thống Phân loại sản phẩm chủ yếu (CPC) của Liên Hợp Quốc.

Cụ thể, Việt Nam có cam kết trong các phân ngành:

  • Dịch vụ kiểm toán tài chính (CPC 86211);
  • Dịch vụ rà soát kế toán (CPC 86212);
  • Dịch vụ thu thập, tổng hợp các báo cáo tài chính (CPC 86213);
  • Dịch vụ ghi sổ kế toán (CPC 86220);
  • Các dịch vụ kế toán khác (CPC 86219);
  • Dịch vụ tư vấn và lập kế hoạch thuế kinh doanh (CPC 86301);
  • Dịch vụ chuẩn bị, rà soát thuế kinh doanh (CPC 86302);
  • Các dịch vụ khác liên quan tới thuế (CPC 86309).

Doanh nghiệp kế toán, kiểm toán nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam có được cung cấp dịch vụ trên lãnh thổ Việt Nam không?

Trong Biểu cam kết, việc các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán ở nước ngoài cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam được xếp vào diện “cung cấp dịch vụ qua phương thức 1” (cung cấp qua biên giới).

Theo cam kết, Việt Nam không hạn chế phương thức cung cấp qua biên giới đối với dịch vụ kế toán, kiểm toán, ghi sổ kế toán, dịch vụ thuế. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam có thể thuê doanh nghiệp kế toán, kiểm toán nước ngoài cung cấp các dịch vụ cho mình.

Để cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán qua biên giới, các bên có thể thực hiện những hoạt động gì?
Việt Nam cam kết cho phép các nhà cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán của các nước thành viên khác được cung cấp dịch vụ kiểm toán, kế toán qua biên giới. Thực hiện cam kết này, Việt Nam đồng thời cho phép các bên liên quan thực hiện những hoạt động liên quan (kể cả các hoạt động thuộc các phương thức cung cấp dịch vụ khác), ví dụ:

– Doanh nghiệp Việt Nam có thể gửi tài liệu, giấy tờ, sổ sách kế toán của mình ra nước ngoài để các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán nước ngoài xem xét trong quá trình cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán;

– Các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán nước ngoài có thể cử người sang Việt Nam để thu thập thông tin, số liệu về doanh nghiệp Việt Nam (phương thức cung cấp 4 – hiện diện của tự nhiên nhân), hoặc có thể phối hợp với một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán trong nước để cùng nhau thực hiện công việc (phương thức 3 – hiện diện thương mại).

Nếu doanh nghiệp kế toán, kiểm toán nước ngoài được doanh nghiệp VN thuê thực hiện việc kế toán, kiểm toán thì báo cáo kế toán, kiểm toán đó có được công nhận không?

Việt Nam đã cam kết cho phép các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán nước ngoài (không có hiện diện thương mại tại Việt Nam) được cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán cho các doanh nghiệp, khách hàng tại Việt Nam.

Do đó, báo cáo kế toán, kiểm toán của các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán nước ngoài sẽ được công nhận nếu các doanh nghiệp và các báo cáo này đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật liên quan. Một số điều kiện hiện nay như yêu cầu các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán nước ngoài phải liên kết với các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán trong nước hoặc báo cáo kiểm toán phải được ký bởi người có chứng chỉ chuyên môn do Việt Nam cấp về nguyên tắc sẽ không còn hiệu lực.

Doanh nghiệp Việt Nam đầu tư và hoạt động ở nước ngoài có được sử dụng dịch vụ doanh nghiệp kế toán, kiểm toán nước ngoài không?

Trong Biểu cam kết, việc các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán ở nước ngoài cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp đầu tư và hoạt động ở nước ngoài được xếp vào diện “cung cấp dịch vụ qua phương thức 2” (tiêu dùng ở nước ngoài).

Theo cam kết, Việt Nam không hạn chế phương thức tiêu dùng ở nước ngoài đối với các dịch vụ kiểm toán, kế toán, ghi sổ kế toán, dịch vụ thuế. Như vậy các doanh nghiệp, cá nhân Việt Nam đầu tư ra nước ngoài và hoạt động ở nước ngoài có quyền thuê của các doanh nghiệp  kế toán, kiểm toán nước ngoài thực hiện dịch vụ này cho mình.

Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán, ghi sổ kế toán có phải chịu hạn chế nào không?

Việt Nam cam kết cho phép thành lập các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán, ghi sổ 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh (không hạn chế tỷ lệ tham gia vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong liên doanh) ngay từ thời điểm gia nhập WTO (11/1/2007). Như vậy, về cơ bản, việc đầu tư và tham gia thị trường kế toán, kiểm toán, tư vấn thuế ở Việt Nam của các nhà đầu tư nước ngoài là không hạn chế.

Trên thực tế, Việt Nam đã cho phép thành lập các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán, ghi sổ kế toán 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh từ trước khi Việt Nam gia nhập WTO và đã có những doanh nghiệp được thành lập và hoạt động. Do đó, có thể suy đoán rằng cam kết không hạn chế trong mở cửa thị trường kế toán, kiểm toán, ghi sổ kế toán về cơ bản sẽ không tạo ra tác động lớn so với trước đây.

Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ thuế có phải chịu hạn chế nào không?

Về việc thành lập doanh nghiệp FDI

Theo cam kết về dịch vụ thuế, trong vòng 1 năm kể từ ngày gia nhập (tức là đến 11/1/2008), việc cấp phép hoạt động cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuế có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được xem xét trong theo từng trường hợp cụ thể và số lượng các nhà cung cấp dịch vụ (tức là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuế có vốn đầu tư nước ngoài) sẽ do Bộ Tài chính quyết định căn cứ vào nhu cầu và tình hình phát triển của thị trường Việt Nam. Một trong các tiêu chí để cấp phép là số lượng các doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường Việt Nam (nhiều hay ít, đã đủ so với nhu cầu chưa…).

Từ 11/1/2008, việc thành lập các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuế có vốn đầu tư nước ngoài (liên doanh hoặc 100% vốn) sẽ không phải chịu các hạn chế này.

Về hoạt động của doanh nghiệp FDI

Theo cam kết, Việt Nam có quyền đặt điều kiện đối với hoạt động của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuế có vốn đầu tư nước ngoài ở mức như sau:

Trước 2008, các doanh nghiệp này chỉ được cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các dự án có sự tài trợ của nước ngoài tại Việt Nam;

– Từ 1/1/2008, hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ thuế FDI sẽ không phải chịu các hạn chế về hoạt động (tức là họ có thể cung cấp dịch vụ cho tất cả các đối tượng, bao gồm cả các doanh nghiệp Nhà nước, tại Việt Nam).

Việt Nam có thể đặt ra các điều kiện khác đối với các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán, dịch vụ thuế FDI ngoài các điều kiện đã nêu trong cam kết không?

Theo cam kết, Việt Nam được đặt ra các điều kiện về số lượng các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, diện khách hàng đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuế có vốn đầu tư nước ngoài cho đến 11/1/2008 (các điều kiện này không áp dụng với các doanh nghiệp kiểm toán, kế toán).

Tuy nhiên, về nguyên tắc, ngoài các điều kiện trên, các cơ quan quản lý Nhà nước Việt Nam vẫn hoàn toàn có thể đưa ra các điều kiện khác đối với nhà đầu tư để đảm bảo năng lực, trình độ chuyên môn, khả năng kiến thức của các doanh nghiệp này khi thành lập. Những điều kiện này phải đảm bảo không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư đến từ các nước khác nhau và không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Trung tâm WTO, http://trungtamwto.vn, năm 2010

Advertisements