NHÓM NGHIÊN CỨU HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN:

PGS.TS. Đào Hùng, TS.Nguyễn Thạc Hoát, TS. Nguyễn Trọng Nghĩa,

ThS. Nguyễn Thế Vinh, ThS. Nguyễn Việt Anh

Việt Nam bước vào giai đoạn 2011-2012 trong bối cảnh nền kinh tế trong nước đối mặt với nhiều thách thức to lớn. Lạm phát của thế giới có xu hướng tăng lên, trong đó giá dầu thô, giá nguyên vật liệu cơ (bản đầu vào của sản xuất), giá lương thực, và thực phẩm trên thế giới tăng cao.Trong khi đó, vào năm 2011, giá cả trong nước tăng cao, áp lực lạm phát ngày càng tăng lên do nhiều nguyên nhân nội tại của nền kinh tế tích lũy từ trước đến nay và chính sách nới lỏng tiền tệ để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng trong thời gian 2008-2010, làm tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta.

Nghị quyết Hội nghị T.Ư 3 (khóa XI) tháng 10-2011 đã xác định giai đoạn 2011-2015, ưu tiên hàng đầu của kinh tế Việt Nam là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đi đôi với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.

Cùng với sự điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô, Chính phủ đã đổi mới quan điểm, điều chỉnh mục tiêu chính sách tiền tệ thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội về phát triển kinh tế xã hội, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, thể hiện rõ trong các nghị quyết của Chính phủ 2011-2012[1].

NHNN đã ban hành các văn bản chỉ đạo[2] triển khai thực hiện CSTT, điều hành nhất quán, kiên định theo các định hướng mục tiêu của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và nhiệm vụ đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng(TCTD).

Về CSTT giai đoạn trước năm 2010 đã được đề cập trong nhiều công trình, dự án nghiên cứu cụ thể.Vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu của CSTT trong năm 2011 và 2012.Những số liệu liên quan đến thời kỳ trước được sử dụng để phân tích, so sánh để làm rõ hơn CSTT 2011-2012.

I. ĐỊNH HƯỚNG MỤC TIÊU VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 2011-2012

1. Mục tiêu hàng đầu của CSTT:

Thời kỳ 1997-2010, theo quy định của Luật NHNN 1997[3], quy định rõ quan điểm CSTT đa mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống xã hội.

Thời kỳ 2011-2012, Luật NHNN 2010[4], có hiệu lực từ 1/1/2011, chỉ quy định một mục tiêu của CSTT, đó là:ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát.

Theo luật NHNN 2010, thì mục tiêu cao nhất, mục tiêu cuối cùng của CSTT của Việt Nam hiện nay là: Ổn định giá trị đồng tiền. Đây là sự đổi mới, hoàn thiện đúng hướng của CSTT ở VN, theo hướng CSTT đơn mục tiêu, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.

Nghiên cứu quá trình hoạch định và thực mục tiêu kiểm soátlạm phát thời kỳ 2004-2012 cho thấy:

Bảng 1.Lạm phát: Mục tiêu và kết quả thực hiệngiai đoạn 2004-2012

Chỉ tiêu

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

Mục tiêu

<5

<6.5

<8

<8

<10

15

7-8

<7

<10

Thực hiện

9.5

8.4

6.6

12.6

19.9

6.5

11.8

18.1

7*

Nguồn: Tổng cục Thống kê, * Ước thực hiện

Đồ thị 1: Lạm phát: Mục tiêu và kết quả thực hiện giai đoạn 2004-2012

clip_image002

Chỉ tiêu lạm phát mục tiêu 2011 đặt ra với mức kỳ vọng cao hơn nhiều so với thực tế, gây áp lực lớn cho điều hành CSTT và buộc phải sử dụng công cụ, các biện pháp hành chính, ngắn hạn, gây sốc cho nền kinh tế.

Năm 2011 lạm phát mục tiêu đề ra <7 %/năm, thấp hơn nhiều so với mức lạm phát thực tế bình quân của 3 năm trước đó 2008-2010 (12.73%). Điều này cho thấykỳ vọng quá cao của chính phủ, muốn ổn định nhanh kinh tế vĩ mô. Do vậy, NHNN bắt , buộc phải cắt giảm cung tiền và giảm tăng trưởng tín dụng đột ngột, gây ra các hệ quả không như mong muốn: lãi suất cho vay và nợ xấu tăng cao, thanh khoản của hệ thống Ngân hàng căng thẳng, thị trường chứng khoán suy kiệt, thị trường bất động sản đóng băng, nhưng lạm phát thực tế vẫn ở mức quá cao 18.13%. Nguyên nhân của mức lạm phát năm 2011 quá cao so với mục tiêu đề ra (<7%) là do những hệ quả , tất yếucủa việc mở rộng cung tiền quá mức và tăng trưởng tín dụng quá nóng trong giai đoạn trước đó và một phần xuất phát từ việc điều hành CSTT thiếu chủ động;

Xét về phía tổng cầu, tính trung bình, cung tiền M2 và tín dụng tăngkhoảng 31.17%/năm và 35.17% cho giai đoạn 2004-2010.Như vậy, trong giai đoạn 2004-2010, tăng trưởng cung tiền M2 và tăng trưởng tín dụng của Việt Nam là khá cao. Điều này sẽ dẫn đến những hệ lụy liên quan đến ổn định vĩ mô và lạm phát cho những năm tiếp theo.

Xét từ phía điều hành CSTT:Trước tình hình lạm phát quý I/2011 ở mức cao(bình quân hơn2%/tháng), ngày 24/2/2011 NQ 11/NQ-CP mới được ban hành và ngày 1/3/2011, chỉ thị 01/CT-NHNN triển khai thực hiện NQ11 mới ra đời., Như vậy, việc châm trễ trong thực thi chính sách và những độ trễ nhất định trong điều hành chính sách cũng dẫn đến những ảnh hưởng nhất định tới lạm phát.Nếu các Nghị quyết và chỉ thị nói trên được ban hành vào cuối năm 2010, thì hiệu quả kiềm chế lạm phát năm 2011 chắc sẽ đạt được kết quả khả quan hơn.

Chỉ tiêu lạm phát mục tiêu năm 2012 đặt ra < 10% là sự lựa chọn hợp lý so với mức lạm phát thực tế các năm trước và thực trạng nền kinh tế.

Kết quả kiểm soát lạm phát 2012 ước đạt ở mức 7% là thành công bước đầu.Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát ở mức thấp trong điều kiện nền kinh tế đang khó khăn, tổng cầu suy giảm quá mức sẽ gây những khó khăn cho kinh tế vĩ mô.Nếu tỷ lệ lạm phát 2012 ở mức 9% thì hiệu quả của CSTT đạt được sẽ cao hơn rất nhiều.

Nhìn lạichỉ tiêulạm phát thực tế bình quân (2004-2012) là 11.16%/, lạm phát mục tiêu bình quân 2004-2012 là 8.6%/năm và thực trạng nền kinh tế thì mục tiêu kiểm soát lạm phát 2012 đề ra <10% là có cơ sở thực tiễn và quan điểm chính sách phù hợp.

Mục tiêu lạm phát 2012 được Quốc hội đề ra <10%; đến cuối tháng 4/2012 Bộ chính trị đặt ra mục tiêu tiếp tục kiềm chế lạm phát năm 2012 ở mức 8-9% là một quyết sách đúng đắn, nhạy bén, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô[5].

Việc điều hành tỷ lệ lạm phát 2012 đạt mức thấp, là tấm huân chương 2 mặt, trong đó có mặt hạn chế là: phải trả giá bằng giản thời gian điều chỉnh giá một số hàng hóa và dịch vụ do Nhà nước định giá và kiểm soát giá (y tế, giáo dục, nước sạch, xe buýt) theo chỉ thị 25/2012/CT-TTg ngày 26/9/2012 và chưa hỗ trợ cải thiện được thực trạng tổng cầu nền kinh tế giảm, SXKD khó khăn, thất nghiệp tăng.

Xu hướng lạm phát 2011-2012 là sự lặp lạivòng xoáy lạm phát từ 2004-2012, theo chu kỳ 3 năm 1 lần: 2 năm tăng vọt lên và 1 năm giảm xuống sâu
đột ngột.

Điều này cho thấy, kết quả kiểm soát lạm phát chỉ mang tính thời điểm, không ổn định và chưa vững chắc, các yếu tố gây nên lạm phát cao chưa giải quyết được tận gốc rễ.

Giai đoạn 2004-2012, trong 9 năm, xẩy ra 3 vòng xoáy lạm phát lặp lại cùng 1 xu hướng: 2004-2006: 9.5% , 8.4% và 6.6%; 2007-2009: 12.6% , 19.9% và 6.5%; 2010-2012: 11.8%, 18.13% và 7%.

Đánh giá một cách khách quan, toàn diện cho thấy:Những nguyên nhân chủ quan làm bùng phát lạm phát cao từ trước đến nay do bất cập trong điều hành CSTT đã bộc lộ rõ và đã khắc phục ngày càng tốt hơn trong giai đoạn 2011-2012.

Đối với các nguyên nhân khách quan của nền kinh tế, gây áp lực tạo nên lạm phát cao ở nước ta vẫn còn nguyên. Đó là những yếu tố gây nên áp lực lạm phát chi phí đẩy của nền kinh tế như: xu thế giá cả hàng hóa thế giới ngày càng tăng cao với một nền kinh tế có tỷ lệ nhập khẩu/GDP cao hơn 80%; sự tăng lên của chi phí sản xuất do cơ cấu kinh tế, chất lượng tăng trưởng, quản lý kém hiệu quả và yêu cầu phải điều chỉnh tăng tiền lương; sự tăng giá các mặt hàng chủ chốt và dịch vụ thiết yếu do quá trình điều chỉnh giá bao cấp sang giá thị trường của các hang hóa, dịch vụ Nhà nước quản lý và kiểm soát giá.

Như vậy, thách thức lớn nhất đối với vấn đề kiểm soát lạm phát và điều hành CSTT của Việt Nam trong năm 2013 và những năm tới là từ các yếu tố gây nên lạm phát chi phí đẩy chứ không phải nguy cơ từ các yếu tố cầu kéo và các nguyên nhân khác.

Từ các phân tích nói trên, có thể rút ra một số quan điểm để xây dựng và thực hiện có hiệu quả mục tiêu cao nhất của CSTT ở VN sau đây:

– Hoạch định mục tiêu kiểm soát lạm phát không thể xây dựng theo chỉ tiêu hàng năm như hiện nay, mà phải được hoạch định trong cả thời kỳ trung và dài hạn, chia ra từng năm, theo một lộ trình phù hợp với quá trình tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng của nền kinh tế;lựa chọn tối ưu mục tiêu ngắn hạn, trung và dài hạn.

– Kiểm soát chặt chẽ các yếu tố gây nên áp lực tăng tổng cầu quá mức, ngăn ngừa tái lập nguy cơ lạm phát tiền tệ từ kênh tín dụng, tài khóa và
cung tiền.

– Điều hành không để xẩy ra việc tăng tổng cầu dồn dập, tập trung vào một thời điểm, đặc biệt là điều chỉnh tăng tiền lương và các loại giá hàng hóa dịch vụ từ giá bao cấp sang cơ chế giá thị trường, không làm cho giá cả bị
đẩy lên.

Đối với những ngành kinh tế chưa đạt đến mức sản lượng tiềm năng, thì việc kích cầu là một chính sách có hiệu quả, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

– Muốn kiểm soát được lạm phát mục tiêu trong những năm tới phải kiểm soát được các yếu tố gây nên “lạm phát chi phí đẩy” và không thể nóng vội giải quyết được mục tiêu lạm phát thấp ngay trong ngắn hạn.Quan điểm chính sáchcần quán triệt tầm nhìn trung dài hạn, phù hợp với lộ trình điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, điều chỉnh các loại giá hàng hóa và dịch vụ do nhà nước quản lý giá sang cơ chế thị trường, nâng cao chất lượng tăng trưởng, cải thiện hiệu quả quản lý đầu tư công và doanh nghiệp nhà nước.

Do đó, mục tiêu và giải pháp kiểm soát lạm phát phải gắn liền và đồng bộ với các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác của nền kinh tế.Đặc biệt là phải xác định rõ mức độ ưu tiên của các mục tiêu; kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng.

2.Mục tiêu trung gian

Thực tế điều hành CSTT trong thời gian qua, NHNNVN đã lựa chọn biến số “Tổng phương tiện thanh toán” và “Mức tăng trưởng Tín dụng” làm mục tiêu trung gian của CSTT VN.

Hàng năm hoặc từng từng thời kỳ, NHNN trình Chính phủ phê duyệt và ban hành các Nghị quyết chỉ đạo quan điểm, định hướng và các chỉ tiêu cụ thể mức tăng cung tiền và mức tăng trưởng Tín dụng.Theo đó, mục tiêu trung gian của CSTT 2011 là[6]:điều hành và kiểm soát để bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 15 – 16%; và mục tiêu trung gian của CSTT 2012 là[7]:kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng 15% -17%, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 14% -16%.

Bảng số 1.2. Diễn biến cung tiền và tăng trưởng tín dụng 2004-2012

Chỉ tiêu

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012*

M2

Mục tiêu

22

22

23-25

20-23

32

18-20

25

15-16

14-16

Thực hiện

30.4

29.6

33.6

46.1

20.3

29

33.3

12.4

17

Tín dụng

Mục tiêu

25

25

18-20

17-21

30

21-23

25

20

15-17

Thực hiện

41.6

31.1

25.4

53.9

25.4

37.5

31.2

14.4

5.5

Nguồn: NHNN

*Ước thực hiện

Tổng phương tiện thanh toán

Từ trước đến nay, NHNN VN đã chọn biến số khối lượng tiền cung ứng M2 để tính toán Tổng phương tiện thanh toán, dùng hoạch định và điều hành mục tiêu trung gian của CSTT.

Nghiên cứu diễn biến chỉ tiêu cung tiền M2 của thời kỳ2011-2012 cho thấy:

Kết quả điều hành M2 giai đoạn 2011-2012 theo xu hướng thực hiện sát với mục tiêu đề ra hơn nhiều giai đoạn trước đó. Tuy nhiên, sự cắt giảm đột ngột và với mức độ giảm lớn M2 so với thực hiện bình quân giai đoạn 2004-2010, làm suy giảm nghiêm trọng tổng cầu của nền kinh tế, phát sinh thêm những khó khăn cho kinh tế vĩ mô.

Xu hướng chênh lêch lớn giữa chỉ tiêu thực hiện với mục tiêu đề ra và diễn ra liên tục, trong suốt cả thời kỳ dài từ 2004-2010, với mức tăng M2 bình quân mục tiêu đề ra 24.14%/năm, thực hiện bình quân 31.17%, chênh lệch + 7.03 điểm %.

Mức chênh lệch của năm 2011 là +3.63% (mục tiêu 15-16%, thực hiện 12.37%) và mức thực hiện của 2012 được dự báo khoảng 16-17%, vượt mục tiêu không đáng kể, giảm 50% mức cung tiền thực tế thực hiện bình quân của 2004-2010.

Trong điều kiện nền kinh tế có tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt còn lớn;thực trạng đô la hóa, vàng hóa và thị trường tiền tệ phi chính thức vẫn chưa kiểm soát hết;dẫn đến cơ sở tính toán, dự báo chỉ tiêu tổng phương tiện thanh toán M2 còn nhiều bất cập. Do vậy sẽ ảnh hưởng đến sự tính toán, hoạch định các mục tiêu giữa cung tiền với lạm phát và lạm phát với tăng trưởng kinh tế rất khó chính xác.

Theo lý thuyết kinh tế vĩ mô, tổng phương tiện thanh toán là khối lượng tiền có trong lưu thông bao gồm tất cả các phương tiện được chấp nhận làm trung gian thanh toán để , trao đổi hàng hóa và , dịch vụ trên thị trường và khối lượng tiền trong lưu thông (Ms) bao gồm các yếu tố :

Ms = M3 + Các phương tiện thanh toán khác = M2 + Tiền trên các chứng từ có giá (thương phiếu, trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu và các trái khoán khác) + Các phương tiện thanh toán khác(giấy chấp nhận thanh toán của Ngân hàng, ..)

Nếu chỉ tiêu tổng phương tiện thanh toán mà chỉ thống kê, tính toán được trong phạm vi M2 thì còn một khối lượng rất lớn các phương tiện thanh toán chưa được tính đến như: tiền trên các chứng từ có giá(trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu, ..) và tiền trên các phương tiện thanh toán khác.

Mặt khác, phân tích cơ cấu các yếu tố cấu thành của M2 ta thấy rằng:

M2 = M1(tiền mặt, vàng, tiền đúc lẻ, tiền gửi không kỳ hạn tại TCTD) +Tiền gửi có kỳ hạn VND tại TCTD + Tiền gửi ngoại tệ của cá nhân và tổ chức tại TCTD

Như vậy, trong cơ cấu của M2, còn rất nhiều yếu tố biến động, ảnh hưởng làm thay đổi M2 rất khó có thể tính toán và dự báo chính xác được như: Dự trữ tiền mặt vượt mức nằm trong các TCTD;sự thay đổi tiền gửi ngoại tệ của tổ chức và dân cư; sự thay đổi tài sản có ngoại tệ ròng của các TCTD; vàng và ngoại tệ trong dân cư; tiền mặt và tiền gửi khách hàng tại các công ty chứng khoán; công ty quản lý quỹ; tiền mặt trong hệ thống công ty bảo hiểm; tiền gửi và tiền mặt trong hệ thống kho bạc Nhà nước;…

Kiểm soát lạm phát là mục tiêu cao nhất của CSTT và vấn đề cơ bản để ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng. Muốn nâng cao hiệu quả tác động truyền dẫn của mục tiêu trung gian đến mục tiêu cao nhất là kiểm soát lạm phát, cần phải nghiên cứu hoàn thiện phương pháp tính toán, dự báo chỉ tiêu tổng phương tiện thanh toán và biến số M2, đảm bảo chính xác và đầy đủ các yếu tố hơn.

Tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế:

NHNN VN sử dụng chỉ tiêu Mức tăng trưởng tín dụng làm mục tiêu trung gian của CSTT, để tác động trực tiếp đến mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng

Trong thời gian qua, NHNN điều hành chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng theo cơ chế: đưa ra chỉ tiêu định hướng tăng trưởng tín dụng từng năm chung cho toàn hệ thống(thời kỳ trước 2011) và giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng TCTD theo phân loại các TCTD theo 3 nhóm (2012).

Nghiên cứu mục tiêu và thực hiện tăng trưởng tín dụng của giai đoạn 2011- 2012 cho thấy:

Mục tiêu tăng trưởng tín dụng bình quân 2004-2010 là 24.14%/năm, thực hiện bình quân 35.17%/năm; mức chênh lệch theo số tuyết đối bình quân thực hiện cao hơn mục tiêu là:+ 11.03%

Như vậy, mục tiêu định hướng tăng trưởng tín dụng 2011-2012 là sự điều chỉnh hợp lý với mục tiêu kiểm soát lạm phát và tái cơ cấu hệ thống TCTD.Tuy vậy, kết quả thực hiện2 năm liên tục thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra, làm suy kiệt tín dụng, tác động bất lợi cho nền kinh tế và ảnh hưởng đếnmục tiêu tăng trưởng cho các năm sau.

Mức tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế 2011 + 14.41%, thấp hơn -5% so với mục tiêu 20% và giảm gần 60% so với chỉ tiêu thực hiện bình quân 2004-2010(35.17%)

Mức tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế 2012 ước đạt 5, 5%, giảm -68% so với mục tiêu(15-17%), giảm -84.4%% so với mức tăng trưởng Tín dụng thực tế bình quân 2004-2010 (35.17%); giảm – 62%% so với thực hiện 2011.

– Xu hướng suy giảm tín dụng quá mức có nguyên nhân của điều hành CSTT và khó khăn từ nền kinh tế:

Về điều hành CSTT: lãi suất cho vay còn quá cao so với hiệu quả kỳ vọng SX-KD của khách hàng, chậm được điều chỉnh theo diễn biến CPI, cơ chế lãi suất chủ yếu dựa vào diễn biến của CPI chứ chưa căn cứ vào cung cầu vốn tín dụng trên thị trường.

Thực tế cho thấy, 6 tháng cuối năm 2012, trừ một số ngân hàng trong danh sách phải tái cơ cấu, còn lại các Ngân hàng đều thừa vốn không cho vay được, nhưng các NHTM không điều chỉnh giảm lãi suất cho vay theo cung cầu vốn tín dụng. Đây là điều bất bình thường trong hoạt động kinh doanh tiền tệ-tín dụng trong cơ chế thị trường.

Về khó khăn từ nền kinh tế: khả năng hấp thụ vốn tín dụng của nền kinh tế bị suy giảm mạnh; điều kiện tiếp cận vay vốn của khách hang khó khăn hơn do rủi ro thị trường tăng lên, phương án kinh doanh không khả thi, giá trị tài sản thế chấp sụt giảm nghiêm trọng

– Kiểm soát chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng mang tính hành chính, hình thức;chưa đi đôi với biện pháp nâng caochất lượng tăng trưởng và hiệu quả tín dụng, là nguồn gốc gây nên rủi ro và bất ổn của hệ thống TCTD hiện nay.

Nhìn lại chỉ tiêu thực hiện 2004-2012 chưa khi nào đạt được mục tiêu đề ra, hiệu lực chấp hành thấp, cơ chế điều hành chưa xử lýđược tình trạng vượt quá cao hoặc không đạt mức mục tiêu định hướng. Do đó, chỉ tiêu đề ra mang tính hình thức, tác dụng rất hạn chế.Mặt khác, cơ sở khoa học và phương pháp xác định hạn mức tăng trưởng tín dụng hàng năm còn có những vấn đề bất cập, mang nặng tính hành chính.

Các quyết định hành chính về chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng không đi đôi với cơ chế kiểm soát chất lượng hiệu quả tín dụng.Vì vậy, nguồn vốn tín dụng đã bị phân bổ quá mức vào một số lĩnh vực đầu cơ(bao gồm: chứng khoán, bất động sản), hoặc các lĩnh vực rủi ro cao, các lĩnh vực không có hiệu quả, làm cho tỷ lệ nợ xấu cao và tăng nhanh; thanh khoản căng thẳng; Đólà nguyên nhân chính làm gia tăng mức độ rủi ro bất ổn của hệ thống TCTD hiện nay cơ bảnvẫn chưa giải quyết được.

Việc kiểm soát hạn mức tín dụng đối với nền kinh tế của VN có vai trò rất quan trọng để hỗ trợ tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô.Để nâng cao hiệu quả điều hành CSTT, cần tập trung hoàn thiện, đổi mới các giải pháp, công cụ điều hành theo hướng: Bổ sung sửa đổi cơ chế tín dung, cơ chế lãi suất đảm bảo tăng trưởng về khối lượng đi đôi với nâng cao chất lượng; tăng cường kiểm tra giám sát thực hiện, thắt chặt kỷ cương chấp hành của các TCTD.

II. ĐIỀU HÀNH CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ2011- 2012

Công cụ của CSTT là hệ thống các biện pháp mà NHNN có thể sử dụng để điều chỉnh, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới mức cung cầu tiền tệ, nhằm đạt được mục tiêu cao nhất của CSTT đã đề ra.

Theo quy định của luật NHNN 2010, Thống đốcNHNN có quyền quyết định lựa chọn sử dụng công cụ điều hành chính sách tiền tệ để thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ đã được Chính phủ đề ra.

Việc sử dụng công cụ chính sách tiền tệ chỉ phát huy được hiệu quả khi nó tạo ra được cơ chế truyền dẫn tác động dây chuyền từ công cụ chính sách tiền tệ tác động đến mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian, mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ.

Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ đã được NHNN sử dụng chủ yếu trong thời gian qua bao gồm: lãi suất, tái cấp vốn, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, kiểm soát hạn mức tín dụng, ..

1. Công cụ lãi suất

Lãi suất là một trong những công cụ gián tiếp để điều hành CSTT, NHN thông qua công cụ này để điều khiển mức cung tiền cho nền kinh tế, nhằm đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền của quốc gia.

Chính sách, cơ chế điều hành lãi suấtcủa NHNN được định hướng theo nguyên tắc đảm bảo các mục tiêu của CSTT:kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.

Theo cơ chế điều hành lãi suất hiện nay, NHNN trực tiếp quyết định các mức lãi suất như: Lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất OMO, trần lãi suất huy động ngắn hạn và trần lãi suất cho vay ngắn hạn thuộc4 đối tượng ưu tiên đối với nền kinh tế của các TCTD.Các TCTD được quy định lãi suất thỏa thuận đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên; lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các đối tượng khác ngoài 4 đối tượng ưu tiên;lãi suất cho vay trung dài hạn cho tất cả các đối tượng khách hang.

Một số chuyển biến tích cực của cơ chế điều hành lãi suất 2011-2012:

Cơ chế điều hành các loại lãi suất năm 2012đượcđiều chỉnh linh hoạt, hợp lý và đồng bộ hơn so với 2011, phát huy đượcvai trò Ngân hàng trung ương là người cho vay cuối cùng.

Từ tháng 6/2011 đến nay, các lãi suất chủ chốt của NHNN được điều hành theo cơ chế: “trần” là lãi suất tái cấp vốn, “sàn” là lãi suất chiết khấu, biên độ giao động +/- 2% để điều tiết thị trường, lãi suất cơ bản và lãi suất thị trường mở được ấn định biến động trong biên độ giữa lãi suất tái cấp vốn(trần) và lãi suất chiết khấu(sàn).

Các lãi suất điều hành của NHNN và lãi suất huy động vốn của NHTMđược điều chỉnh giảm xuống theo xu hướng giảm thấp của CPI (3/2012-10/2012), đảm bảo nguyên tắc thực dương, nguồn vốn huy động 10 tháng tăng +14.2%, thanh khoản của hệ thống Ngân hành được cải thiện bằng nguồn vốn hút vào từ nền kinh tế chứ không phải từ nguồn tái cấp vốn như năm 2011.

Từ tháng 6/2011-10/2012:Mối quan hệ giữa các loại lãi suất được điều chỉnh hợp lý hơn thời kỳ trước đó, theo nguyên tắc: Lãi suất tái chiết khấu< lãi suất huy động vốn dưới 12 tháng < lãi suất tái cấp vốn; “sàn” là lãi suất tái chiết khấu; “Trần” là lãi suất tái cấp vốn; Biên độ 1-2%, lãi suất huy động vốn của TCTD biến động trong biên độ nói trên.

Sự đổi mới cơ chế lãi suất lãi suất nói trên đã khuyến khích các TCTD huy động vốn từ nền kinh tế, hạn chế vay vốn từ NHNN, không còn cơ hội cho các TCTD lợi dụng vay tái cấp vốn của NHNN để cho vay lại trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao để hưởng chênh lệch lãi suất lớn.

Lãi suất huy động và cho vay của TCTD 2012 giảm hơn nhiều so với 2011, đặc biệt là chính sách cho vay lãi suất thấp hơn các đối tượng khác đối với 4 đối tượng sản xuất kinh doanh được ưu tiên, là quyết định đúng đắn, kịp thời;tác động tích cực đến giảm chi phí vay vốn cho doanh nghiệp, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng.

So với cuối năm 2011, lãi suất tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng giảm được 6%/năm(14%/năm xuống 8%/năm), lãi suất cho vay 4 đối tương ưu đãi giảm được 4%-5%/năm (16-17%/năm xuống 12%/năm). Hiện nay, lãi suất cho vay phổ biến đối với 4 lĩnh vực ưu tiên: nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ ở mức 11-12%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác ở mức 14-17%/năm. Đặc biệt, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh 8-9%/năm so với đầu năm 2012, thị trường tiền tệ đã có sự cải thiện tích cực hơn nhiều so với năm 2011

Cơ chếlãi suất thỏa thuận đối với lãi suất huy động vốn trên 12 tháng và lãi suất cho vay trung dài hạn là bước đi phù hợp, tạo điều kiện cho các NHTM hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc thương mại và thị trường.

Cơ chế lãi suất huy động lãi suất thỏa thuận được thực hiện theo Thông tư 19/2012/TT-NHNN ngày 8/6/2012: “Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn 12 tháng trở lên do TCTD ấn định trên cơ sở cung cầu vốn thị trường”.

Lãi suất cho vay thỏa thuận được thực hiện từ 14/4/2010 theo Thông tư số 12/2010/TT-NHNN vàthông tư 14/2012/TT-NHNN từ ngày 4/5/2012. Đối với các khoản cho vay ngoài 4 lĩnh vực ưu tiên TCTD cho vay theo lãi suất
thỏa thuận.

Đồ thị 2: CPI và các loại lãi suất

clip_image004

Một số vấn đề cần nghiên cứu hoàn thiện trong cơ chế điều hành lãi suất 2011-2012 :

Duy trì quá lâu cơ chế điều hành trực tiếp lãi suất lãi suất huy động vốn và cho vay của các TCTD, làm cho các mức lãi suất kinh doanh của TCTD không phù hợp với cung cầu vốn tín dụng trên thị trường và giảm tác dụng của các công cụ lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất OMO, công cụ dự trữ bắt buộc.

NHNN có nhiều giải pháp và công cụ gián tiếp để tác động điều chỉnh lãi suất kinh doanh của các TCTD. Cụ thể, khi muốn điều chỉnh lãi suất kinh doanh của các TCTD đối với nền kinh tế, NHNN sẽ thực hiện thông qua việc điều chỉnh các mức lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu đối với TCTD.Từ đó tác động đến lãi suất thị trường liên ngân hàng.Cuối cùng sẽ tác động đến lãi suất kinh doanh của các TCTD đối với khách hàng.Nếu NHNN trực tiếp quyết định cả mức lãi suất cho vay và huy động vốn của các TCTD thì công cụ lãi suất điều hành của NHNN sẽ không phát huy hết tác dụng.

Trên thực tế, trong suốt thời kỳ 2011-2012, NHNN quyết định trực tiếp các mức lãi lãi suất huy động cho vay của TCTD đối với khách hang đối với từng kỳ hạn và đối tượng khách hàng(trừ lãi suất huy động trên 12 tháng theo Thông tư 19/2012/TT-NHNN ngày 8/6/2012 và lãi suất cho vay thỏa thuận theo Thông tư số 12/2010/TT-NHNN và Thông tư 14/2012/TT-NHNN ngày 4/5/2012);Cơ chế điều hành trực tiếp quyết các mức lãi suất kinh doanh của các TCTD đã làm vô hiệu hóa các mức lãi suất điều hành chủ chốt của NHNN( lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu)

Lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam theo quy định pháp luật hiện hành là lãi suất thực hiện vai trò định hướng thị trường tiền tệ, nhưnghiện nay chỉ mang tính hình thức, chưa trở thành lãi suất cơ sở, chuẩn mực để định hướng cho các loại lãi suất khác trên thị trường.Vì thế làm tăng rủi ro pháp lý trong hoạt động kinh doanh tiền tệ tín dụng và các quan hệ dân sự khi có phát sinh tố tụng.

Luật dân sự 2005 quy định các TCTD không được phép huy động và cho vay với lãi suất cao hơn 150% mức lãi suất cơ bản do NHNN công bố. Luật NHNN số 46/2010/QH12 “Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi”.

Trên thực tế, lãi suất cơ bản hiện nay là lãi suất mang tính hình thức, không có cơ sở kinh tế và không liên quan đến bất kỳ quan hệ cung cầu vốn trên các thị trường.

Vai trò đinh hướng và tác động của các loại lãi suất điều hành của NHNN (lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu, OMO) đến lãi suất thị trường rất hạn chế.Một trong những nguyên nhân chủ yều là phương pháp xác định các loại lãi suất trên còn bất cập, không dựa trên cơ sở lãi suất cơ bản là lãi suất chuẩn; cơ chế điều hành cụ thể các loại lãi suất chưa được ban hành rõ ràng.

Thực tế trong thời gian qua, NHNN chưa ban hành được cơ chế điều hành và phương pháp xác định cụ thể từng loại lãi suất trên. Khi quyết định các loạilãi suất chủ yếu dựa vào diễn biến số liệu báo cáo thực hiện chỉ số CPI, các chỉ số kinh tế vĩ mô tháng trước và quan điểm chỉ đạo điều hành mục tiêu CSTTcủa Chính phủ, thiếu các thông tin, phân tích dự báo thị trường về cung cầu, số lượng giao dịch, lãi suất, ..; Do đó các lãi suất được điều hành không sát với cung cầu tiền tệ và lãi suất thực trên thị trường, hạn chế tác dụng điều tiết của các công cụ lãi suất.

Sự điều chỉnh các mức lãi suất chưatheo sát kịp với diễn biến hàng tháng của chỉ số CPI cả về biên độ và xu hướng, làm giảm hiệu quả và tác dụng của công cụ lãi suất.

Phân tích diễn biến CPI và các mức lãi suất thời kỳ 2011-2012 có thể thấy: đường biến thiên của các loại lãi suất và chỉ số CPI chỉ có 4 tháng là cùng xu hướng(2/2012-6/2012)còn lại là lệch pha với biên độ chênh lệch quá lớn, nên hiệu quả tác động đến dự trữR của các TCTD và M2 không đáng kể.

Phân tích biến động lãi suất tái cấp vốn với CPI (2011-2012):

Trong giai đoạn 2011-2012, NHNN có 6 lần điều chỉnh lãi suất (%/năm) theo xu hướng tăng liên tục(1/2011-2/2012): 9%, 11%, 12%, 13%, 14%, 15%; có 4 lần điều chỉnh giảm liên tục (3/2012-10/2012): 14%, 13%, 12%, 11%, 10% nhằm thực hiện mục tiêu…

Nhưng do các biên độ mỗi lần điều chỉnh quá hẹp, xu hướng điều chỉnh rất hiếm khi phù hợp với xu hướng biến động của CPI nên tác động lên cung tiền và lãi suất thị trường tiền tệ rất kém hiệu lực.

Đồ thị 3: CPI và lãi suất tái cấp vốn

clip_image006

Phân tích sự biến động của lãi suât tái chiết khấu và CPI.

Đồ thị 4: CPI và lãi suất tái chiết khấu

clip_image008

-Phân tích sự biến động của lãi suất OMO với CPI

Đồ thị 5: CPI và lãi suất OMO

clip_image010

Phân tích biến động của Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ

Đồ thị 6: CPI và lãi suất qua đêm

clip_image012

Duy trì quá lâucơ chế cố định “trần” lãi suất huy động và “thả nổi” lãi suất cho vay thỏa thuận, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho các TCTD đẩy lãi suất cho vay lên tối đa, làm tăng rủi ro tài sản có và nợ xấu của cả hệ thống NHTM và các TCTD khác.

Từ tháng 1/2011-4/2012, NHNN quy định “trần” lãi suất huy động cố định theo xu hướng giảm dần (14%/năm, 13%/năm, 12%/năm, 11%/năm) và lãi suất cho vay thỏa thuận ở tất cả các đối tượng và kỳ hạn vay vốn của
khách hàng.

Tháng 5/2012, NHNN quy định “trần” lãi suất huy động (11%/năm) và “trần” lãi suất cho vay ngắn hạn theo biên độ (lãi suất cho vay = lãi suất huy động + 3%/năm) với 4 đối tượng cho vay ưu tiên, còn các đối tượng cho vay khác và cho vay trung dài hạn đều lãi suất thỏa thuận.

Từ tháng 6/2012- nay, NHNN quy định “trần” lãi suất huy động cố định (9%/năm) và “trần” lãi suất cho vay cố định(13%/năm) với 4 đối tượng sản xuất kinh doanh ưu tiên còn các đối tượng khác đều cho vay theo lãi suất thỏa thuận

Trong điều kiện kinh tế khó khăn, lợi nhuận của hầu hết các doanh nghiệp rất khí có thể cao hơm lãi suất cho vay thỏa thuận của các TCTD. Với cơ chế lãi suất cho vay thỏa thuận các khách hàng tốt không dám vay vốn, còn các khách hàng chấp nhận được lãi suất cao là những khách hàng đang thực sự khó khăn về tài chính, hoặc có nhu cầu tài trợ cho những dự án có rủi ro rất cao.Vì vậy cơ chế lãi suất thỏa thuận chỉ mang lại lợi ích trước mắt cho TCTD, nhưng lại tăng thêm các rủi ro do lựa chọn khách hàng, rủi ro tín dụng, tăng nguy cơ tiềm ẩn nợ xấu, tạo ra một danh mục tài sản có rủi ro cao.

Cố định mức lãi suất trầnhuy động vốn trong thời gian quá dài(trong suốt 12 tháng từ 3/2011-2/2012)trong khi CPI đã giảm mạnh và liên tục từ tháng 6/2011-12/2011, làm tăng áp lực thanh khoản của hệ thống, tăng thêm các rủi ro kỳ hạn, rủi ro thanh khoản, rủi ro đạo đức trong hệ thống Tài chính – Ngân hàng.

Nhìn vào đồ thị biểu thị quan hệ giữa CPI và lãi suất huy động vốn của các TCTD dễ thấy rằng, : đường lãi suất gần như đi ngang trong khi đường CPI biến động lên xuống hình sin với biên độ rất lớn và chu kỳ dài.

Hậu quả của cơ chế điều hành này đã gây thiệt hại cho người gửi tiền(7 tháng liên tục lãi suất tiền gửi ở mức thực âm); các NHTM phá rào trần lãi suất huy động vốn bằng mọi cách (hoa hồng, chi tiền mặt ngoài sổ sách, nhận ủy thác đầu tư trá hình, ..) thanh khoản căng thẳng, thị trường tiền tệ, thị trường liên Ngân hang đua nhau cạnh tranh lãi suất “ngầm”.

Trong suốt 12 tháng liên tục từ tháng 3/2011-2/2012, mức lãi suất “trần” huy động vốn của các TCTD vẫn cố định 1, 17%/tháng(14%/năm).Trong khi CPI biến động liên tục hàng tháng với biên độ lớn và xu thế giảm rõ rệt lần lượt là:2.25%;3.53%;2.43%;1.22%;1.32%;1.07%;0.95%;0.42%;0.45%;0.63%;1.00%; 1.37%.Kết quả là rủi ro kỳ hạn, rủi ro thanh khoản của các TCTD tăng lên do tiền gửi huy động được của các NHTM chủ yếu là không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn 1-2 tháng, tiền gửi từ 3 -12 tháng chiểm tỷ lệ rất ít;tiền gửi trung dài hạn trên 12 tháng không thể huy động được.

Đồ thị 8: CPI và lãi suất huy động

clip_image014

2. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Theo quy định của Luật NHNN 2010, dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi tại tổ chức tín dụng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.

Cơ chế điều hành tỷ lệ dự trữ bắt buộctheo Quyết định số 379/QĐ-NHNN áp dụng từ ngày 24/2/2009 (đối với VND) và Quyết định 79/QĐ-NHNN áp dụng từ 01/2/2010 (đối với ngoại tệ), thông tư 20/2010/TT-NHNN ngày 29/9/2010.

Theo cơ chế nói trên, chính sách dự trữ bắt buộc được căn cứ vào tính chất kỳ hạn tiền gửi(ngắn, trung, dài hạn), loại tiền gửi(VND và ngoại tệ) và ưu tiên đối tượng cho vay nông nghiệp, nông thôn.

Đối với TCTD có tỷ trọng dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn trên tổng dư nợ bình quân cuối các quý trong năm tài chính liền kề từ 40% đến dưới 70% và trên 70%: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam bằng 1/5 (một phần năm) và 1/20 so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường tương ứng với từng kỳ hạn tiền gửi.

Từ năm 2009 -2012, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các TCTD đối với tiền gửi VND cố định 3% và không thay đổi.

Một số vấn đề hạn chế về sử dụng công cụ tỷ lệ dự trữbắt buộc trong giai đoạn 2011-2012 :

NHNN cố định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi VND trong suốt thời gian dài từ 2009-2012 trong cả quá trình lạm phát cao năm 2011 và xu hướng thiểu phát 6 tháng 2012.Công cụ tỷ lệ DTBB không phát huy tác dụng điều chỉnh nguồn vốn thanh toán và cho vay của TCTD.Vì vậyhạn chế vai trò, tác dụng của tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong việc điều chỉnh lãi suất cho vay, lượng tiền cung ứng và hệ số tạo tiền của hệ thống TCTD.

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là công cụ có tác động rất mạnh đến khối lương tiền cung ứng trong lưu thông theo cấp số nhân, là công cụ kiểm soát lạm phát có hiệu quả nhất, nhưng NHNNkhông tăng hoặc giảm tỷ lệ trong suốt thời gian dài, trong bối cảnh lạm phát cao(2011) và xu hướng thiểu phát(6 tháng đấu năm 2012), nên không phát huy được vai trò và tác dụng của công cụ này để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ.

Để phát huy được vai trò và tác dụng của công cụdự trữ bắt buộc phải điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc để tác động đến cả khối lượng và lãi suất cho vay tín dụng của các NHTM, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng và khả năng tạo tiền của hệ thống NHTM theo mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.

Trong giai đoạn lãi suất cho vay còn ở mức cao như thời gian vừa qua, nếu tăng tỷ lệ DTBB sẽ tăng chi phí đầu vào của nguồn vốn cho vay làm tăng lãi suất cho vay của các TCTD, nhưng NHNN có thể tăng lãi suất tiền gửi DTBB lên một mức hợp lý để bù đắp chi phí huy động vốn cho các TCTD, giảm áp lực tăng lãi suất cho vay.

Chính sách dự trữ bắt buộc áp dụng một mức chung cho tất cả các NHTM, không căn cứ vào quy mô vốn và tài sản, chất lượng hoạt động và mức độ an toàn của từng ngân hàng, chưa phù hợp với quy mô và trình độ phát triển không đồng đều của các NHTM VN, làm cho công cụ dự trữ bắt buộc hoàn toàn trở thành vô tác dụng.

Đặc điểm quan trọng của hệ thống NHTM của VN là trình độ phát triển không đồng đều về lịch sử phát triển, quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô tài sản, chất lượng hoạt động và mức độ an toàn . Trong đó nhóm 4 NHTM cổ phần Nhà nước và Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank) có kinh nghiệm hoạt động kinh doanh 24 năm và chiếm khoảng gần 50% thị phần trên mọi lĩnh vực hoạt động, nhóm G12 (12 ngân hàng TMCP lớn nhất) chiếm thị phần khoảng 80-85%, nhóm 13 NHTMCP tư nhân, quy mô vốn rất nhỏ bé, mức độ an toàn hoạt động rất thấp, mới chuyển đổi từ Hợp tác xã tín dụng và Ngân hàng Nông thôn lên từ những năm 2002-2006.

Theo quan điểm của một số chuyên gia và NHNN, thời gian qua, do hệ thống ngân hàng thiếu thanh khoản nên nếu Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì sẽ gây khó khăn cho nền kinh tế.

Quan điểm trên rất đúng với nhóm 13 NHTM cổ phần nông thôn mới chuyển đổi thành NHTM triền miên khó khăn thanh khoản. Nhưng đối với nhóm G12, gồm 12 NHTM chiếm gần 80-85% thị phần không phải là các NHTM thiếu thanh khoản, thậm nhiều NHTM thừa tiền đi gửi vào các TCTD khác.Mặt khác, trong suốt thời gian quá dài 2009- 2012, hệ thống NHTM không phải thiếu thanh khoản liên tục.Vì vậy, cần phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung hoàn thiện cơ chế điều hành công cụ dự trữ bắt buộc, để phát huy hiệu quả cao hơn.

3. Tái cấp vốn

Theo quy định hiện hành, NHNN sử dụng công cụ Tái cấp vốn để cấp tín dụng cho các TCTD theo các hình thức: cho vay có đảm bảo bằng giấy tờ có giá, chiết khấu giấy tờ có giá và cho vay lại hồ sơ tín dụng, nhằm mục đích: cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng.

Ngân hàng Nhà nước đã ban hành được hệ thống các văn bản pháp lý đầy đủ và đồng bộ về chính sách, cơ chế nghiệp vụ tái cấp vốn phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, làm cơ sở để điều hành của NHNN và thực hiện đối với các TCTD[8].

Thông qua các hình thứctái cấp vốn:cho vay đảm bảo giấy tờ có giá, chiết khấu giấy tờ có giá và cho vay lại hồ sơ tín dụng, công cụ tái cấp vốn của NHNN đãphát huy được vai trò chủ đạo trong việc giải quyết vấn đề rủi ro thanh khoản cho các NHTM trong thời gian qua.

Tuy vậy, cơ chế sử dụng công cụ tái cấp vốn hiện hành của NHNN vẫn còn một số vấn đề cần nghiên cứu bổ sung hoàn thiện sau đây:

Trong thời gian qua, công cụ tái cấp vốn chưa đủ tiềm lực vốn và điều kiện để phát huy hiệu quả, vai trò cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các TCTD, chưa tác động được nhiều đến cung cầu vốn và các loại lãi suất trên thị trường.

Nguyên nhân chủ yếu do nguồn vốn cho vay hạn hẹp, NHNN chỉ được cho vay tái cấp vốn trong một giới hạn nhất định, nằm trong hạn mức tăng tổng phương tiện thanh toán M2 đã được Chính phủ duyệt hàng năm;nhiều TCTD cần vay nhưng không điều kiện được vay tái cấp vốn; một số TCTD đủ điều kiện vay vốn nhưng không có nhu cầu vay. Do đó, doanh số cho vay và dư nợ tái cấp vốn đối với các TCTD không lớn;mức độ tác động tới lãi suất và cung cầu vốn trên thị trường hạn chế.

Trong điều kiện lạm phát đang bùng phát cao từ 1/2011- 2/2012, việc lựa chọn sử dụng công cụ tái cấp vốn tuy giải quyết được khó khăn thanh khoảncho một số TCTD, nhưnglàm tăng thêm tiền cung ứng trong lưu thông, gây áp lực thêm cho mục tiêu kiểm soát lạm phát.

Công cụ tái cấp vốn chỉ phát huy hiệu quả cao trong điều kiện lạm phát bình thường và mục đích cho vay nhằm giải quyết khó khăn chi trả có tính chất tạm thời. Đối với các trường hợp mất thanh khoản có nguyên nhân từ rủi ro cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn và sử dụng, chất lượng tài sản sản thấp, nợ xấu cao như các TCTD nông thôn mới chuyển đổi thành NHTM không phải là sự mất thanh khoản có tính tạm thời và phải giải quyết bằng biện pháp tái cơ cấu tài chính, tái cơ cấu tài sản nợ, tài sản có mới đúng bản chất.

Trong điều kiện lạm phát cao và thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, nếu sử dụng công cụ tái cấp vốn đểbơm vốn một cách thường xuyên nhằm giải quyết khó khăn thanh khoản triền miên cho các NHTM sẽ , không phải là sự lựa chọn hợp lý .

Mức lãi suất tái cấp vốn giai đoạn 1/2011-3/2012 thấp hơn nhiều so với lãi suất cho vay thỏa thuận của các TCTD và lãi suất thị trường, tạo cơ hội cho một số TCTD có điều kiện vay được nguồn vốn giá rẻ từ nguồn tái cấp vốn có hiệu quả hơn huy động vốn từ dân cư và làm gia tăngrủi ro đầu tư tiền gửi trên thị trường tiền tệ.

Giai đoạn từ tháng 1/2011-3/2012, các lãi suất tái cấp vốn giao động từ 7-15%/năm, có những thời điểm[9]lãi suất cho vay thỏa thuận các ngân hàng vay nhau trên thị trường liên ngân hàng 25-30%/năm, NHTM cho doanh nghiệp vay vốn với lãi suất thỏa thuận 22-25% năm.Chênh lệch 2 loại lãi suất quá lớn sẽ tạo ra cơ hội phát triển các hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất trên thị trường tiền tệ dưới nhiều hình thức đầu tư tiền gửi khác nhau, làm bất ổn thêm thị trường tiền tệ.

Với mức chênh lệch cao giữa lãi suất cho vay thỏa thuận của các TCTD với khách hàng và lãi suất cho vay thỏa thuận giữa các TCTD với nhau so với lãi suất tái cấp vốn như trên, sẽ tạo ra những cơ hội cho một số TCTD tìm mọi cách để vay tái chiết khấu có lợi hơn huy động vốn từ nền kinh tế, hoặc để cho vay lại trên thị trường với lãi suất cao để hưởng chênh lệch lãi suất.

4. Nghiệp vụ thị trường mở (OMO)

Trong thời gian 2011-2012, NHNN điều hành công cụ Nghiệp vụ Thị trường mở theoQuy chế nghiệp vụ thị trường mở ban hành kèm theo Quyết định số 01/2007/QĐ- NHNN và Quyết định 27/2008/QĐ-NHNN sửa đổi bổ sung QĐ 01/2007/QĐ-NHNN.

Theo quy chế trên, Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc mua, bán giấy tờ có giá đối với tổ chức tín dụng. Các loại giấy tờ có giá được phép giao dịch thông qua nghiệp vụ thị trường mở hiện nay là:Tín phiếu NHNN, tín phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu địa phương do UBND thành phố Hà nội, UBNN thành phố Hồ Chí Minh phát hành.

Trong thời gian qua, nghiệp vụ thị trường mở phát triển nhanh, quy mô ngày càng được mở rộng, góp phần giải quyết khó khăn về nguồn vốn thanh toán và kinh doanh cho các TCTD, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tác động đến tổng lượng tiền cung ứng (M2) trong nền kinh tế, theo mục tiêu của chính sách tiền tệ.

Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá, NHNN tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng tiền tệ cung ứng và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường theo mục tiêu giảm lãi suất huy động và cho vay của TCTD, giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp.

Đánh giá một cách khách quan, trong năm 2012, NHNN điều hành nghiệp vụ thị trường mở OMO chủ động, linh hoạt và hiệu quả hơn thời gian trước đó.

Tuy nhiên, công cụ nghiệp vụ thị trường mở còn một số vấn đề cần nghiên cứu hoàn thiện như:

Quy chế nghiệp vụ thị trường mở chậm được điều chỉnh, sửa đổi theo sự đổi mới của môi trường pháp lý, tạo ra những rủi ro về pháp lý và kinh tế cho các TCTD.

Quy chế nghiệp vụ thị trường mở ban hành theo01/2007/QĐ- NHNN và Quyết định 27/2008/QĐ-NHNN sửa đổi bổ sung QĐ 01/2007/QĐ-NHNN chưa được điều chỉnh cho phù hợp với sự thay đổi của các quy định pháp luật khác có liên quan như: Nghị định 01/2011/NĐ-CP ngày 5/1/2011 về phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu của chính quyền địa phương; Luật sửa đổi, bổ sung Luật Chứng khoán(Luật 62/2010/QH 12); Luật NHNN Việt Nam (luật 46/2010/QH12) và Luật Các TCTD (Luật 47/2010/QH12),

Nhiều vấn đề cần phải bổ sung sửa đổi để đồng bộ với các văn bản pháp luật mới (đặc biệt là các quy định mới về phát hành giấy tờ có giá, tiêu chuẩn giấy tờ có giá, định giá giấy tờ có giá, ..)nếu không sớm điều chỉnh sẽ phát sinh các rủi ro về pháp lý, rủi ro về kinh tế cho các TCTD và làm giảm hiệu quả của công cụ Thị trường mở.

Cơ chế mua bán giấy tờ có giá trên thị trường mở hiện hành chủ yếu là đấu thầu khối lượng, các mức lãi suất giao dịch thực tế phản ánh chưa chính xác quan hệ cung cầu vốn, không khuyến khích cạnh tranh thực sự giữa các TCTD với mục tiêu hạ lãi suất thị trường.

Phương thức mua bán trong thời gian qua chủ yếu là đấu thầu khối lượng: là việc xét thầu trên cơ sở khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng, khối lượng giấy tờ có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán và lãi suất do Ngân hàng Nhà nước thông báo.

Trong giai đoạn lạm phát rất thấp(từ tháng 3/2012-8/2012), lãi suất cho vay đối với nền kinh tế còn quá cao so với CPI, các thành viên đủ điều kiện tham gia thị trường mở là các NHTM lớn, thanh khoản đảm bảo, dư vốn khả dụng không cho vay được, phương thức xét thầu khối lượng chưa phù hợp, không tạo ra được sự cạnh tranh về lãi suất của các TCTD, để hạ lãi suất
thị trường.

Phương thức xét thầu khối lượng nhằm mục đích hỗ trợ thanh khoản, tạo điều kiện cho các thành viên tham gia dự thầu đều trúng thầu, chỉ phù hợp với các TCTD nhỏ, khó khăn về thanh khoản. Tuy nhiên đối với các NHTM nhỏ, yếu kém, thanh khoản khó khăn, không sở hữu nhiều các giấy tờ có giá, không đủ điều kiện thành viên để tham gia thị trường mở.

Khối lượng giao dịch bị hạn chế trong mức cung tiền mục tiêu hàng năm và khả năng, điều kiện tham gia thị trường mở của các TCTD, làm giảm hiệu quảđiều tiết, tác dụng của công cụ thị trường mở.

Trong năm 2011, lạm phát cao và NHNN thực hiện, chính sách tiền tệ thắt chặt, do đó, các công cụ thị trường mở phải nhằm mục đích hút tiền về. Tuy nhiên, các TCTD đang khó khăn thanh khoản và thiếu vốn để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng tín dụng, nên biện pháp hút tiền về qua OMO không thực hiện được.

Trong 2012, lạm phát giảm xuống nhanh dưới một con số, tăng trưởng tín dụng quá thấp so với mục tiêu, công cụ thị trường mở phải nhằm mục tiêu bơm tiền ra để hạ lãi suất, kích thích tăng trưởng tín dụng, nhưng lại mâu thuẫn với khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp rất thấp, các TCTD thừa tiền không cho vay được.

5. Kiểm soát hạn mức tín dụng

Hạn mức tín dụng là công cụ can thiệp trực tiếp, mang tính hành chínhcủa NHNN, được sử dụng để khống chế tổng dư nợ tín dụng, qua đó khống chế tổng khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế.

Công cụ này thực sự phát huy hiệu quả khi tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế tăng cao và các công cụ gián tiếp khác tỏ ra kém hiệu lực.

Năm 2011, NHNN đưa ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng chung cho toàn hệ thống các TCTD, không phân bổ hạn mức theo từng TCTD

Năm 2012 là lần đầu tiên NHNN quyết định phân bổ hạn mức tín dụng cho từng NHTM theo các tiêu chí: chất lượng tài sản nợ, tài sản có, quy mô vốn, năng lực quản trị điều hành, quản trị rủi ro, chất lượng nhân lực và tuân thủ các quy định.Theo đó, các nhóm được phân loại bởi NHNN được áp dụng các hạn mức như sau: Nhóm thứ 1tăng trưởng tín dụng ở mức tối đa 17%; nhóm thứ 2 tăng trưởng tín dụng ở mức tối đa 15%; nhóm 3 được tăng trưởng 8%; nhóm 4 thuộc diện phải cơ cấu lại, không được tăng trưởng tín dụng.

Đến tháng 6/2012, tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống ngân hàng tăng 1, 51% so với cuối năm 2011 (kế hoach năm 2012 là 12%), trong đó 69 TCTD có mức tăng trưởng âm. Có 23 TCTD đề nghị mức tăng trưởng tín dụng vượt chỉ tiêu, có 29 TCTD xây dựng kế hoạch tăng trưởng bằng mức chỉ tiêu thông báo, có 10 TCTD xây dựng kế hoạch tăng trưởng tín dụng thấp hơn.

Tính đến thời điểm hiện tại, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép tăng chỉ tiêu đối với 10 TCTD có tính hình tài chính lành mạnh, đã có tăng trưởng tín dụng đạt trên 50% chỉ tiêu thông báo của Ngân hàng Nhà nước từ đầu năm.

Công cụ hạn mức tăng trưởng tín dụng mà NHNN đưa ra trong 2012 đã phát huy tác động tích cực thúc đẩy các TCTD đổi mới và tái cơ cấu hoạt động theo quan điểm vàmục tiêu của chính sách tiền tệ của Chính phủ trên các
mặt sau:

– Thúc đẩy các NHTM phấn đấu nâng cao chất lượng, hiệu quả và các chỉ số an toàn hoạt động để được xếp hạng tín nhiệm cao và có được hạn mức tăng trưởng cao.

– Điều chỉnh, hạn chế tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động vốn, góp phần cải thiện tính thanh khoản của từng ngân hang và cả hệ thống hệ thống, giảm áp lực lạm phát.

– Tác động mạnh mẽ và có hiệu quả đến mục tiêu tái cơ cấu, sát nhập các NHTM yếu kém, tăng vốn chủ sở hữu, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ kiểm soát hạn mức tín dụng của NHNN trong thời gian qua đã cho thấy một số vấn đề cần nghiên cứu bổ sung nhằm phát huy hiệu quả cao hơn:

Thời điểm áp dụng công cụ hạn mức tín dụng chưa phù hợp với giai đoạn suy kiệt tín dụng và giảm tổng cầu của nền kinh tế, nên công cụ hạn mức tín dụng không phát huy được tác dụng với nhiều TCTD.

Công cụ hạn mức tín dụng được áp dụng cho từng TCTD trong năm 2012, cảthời điểm và điều kiện không phù hợp với diễn biến của kinh tế vĩ mô, làm vô hiệu hóa tác dụng của hạn mức tín dụng.

Trong cả năm 2011, dư nợ tín dụng tăng trưởng 14%/, bằng 70% mục tiêu đề ra( 20%) và giảm -56% so với mức tăng trưởng của 2010( 31.19%).

Từ tháng 3/2011-7/2012, CPI giảm liên tục xuống mức âm theo các tháng(0.16;0.05;0.18;-0.26;-0.29 ), CPI cả năm 2012 tăng rất thấp, ước 7, 0%.

Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế 2012 ước tăng +5.5%, đạt hơn 30% so với mục tiêu(+15% -17%/năm) và chỉ bằng 39% mức tăng trưởng tín dụng 2011.

Trong 2012tổng cầu của nền kinh tế đang trong suy giảm, nền kinh tế không hấp thu được tín dụng, tổng phương tiện thanh toán đang giảm thấp, công cụ hạn mức tín dụng trở nên vô tác dụng.

Công cụ hạn mức tín dụng là sự can thiệp hành chính, trực tiếp để khống chế khối lượng tín dụng của hệ thống TCTD đối với nền kinh tế. Công cụ này chỉ phát huy hiệu quả khi tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế tăng cao và các công cụ gián tiếp khác không phát huy được hiệu quả

Chưa xây dựng được bộ tiêu chí phân loại các TCTD và phương pháp tính toán các tiêu chí phân loại để làm căn cư phân bổ hạn mức tín dụng cho từng TCTD.

Năm 2012 là năm đầu tiên NHNN thực hiện công cụ kiểm soát hạn mức tín dụng cho từng TCTD.Việc phân loại các nhóm TCTD được NHNN căn cứ vào những yếu tố định tính, định lượng nào đó nhưng NHNN không công khai các tiêu chí xếp hạng, phương pháp tính toán và bảng xếp hạng .Vì vậy các TCTD cho rằng chưa có cơ sở thuyết phục trong việc xếp loại các TCTD để làm căn cứ phân hạn mức tín dụng.Trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay, các tiêu chí và phương pháp đánh giá, xếp hạng tín nhiệm các TCTD còn rất nhiều bất cập, chất lượng xếp hạng tín nhiệm của một vài tổ chức công bố chưa được thị trường công nhận. Vì vậy căn cứ để đánh giá, xếp loại, phân hạng các TCTD làm căn cứ cho phân bổ hạn mức tín dụng còn nhiều vấn đề chưa đảm bảo
chính xác.

III. NHẬN XÉT TỔNG QUÁT VỀ CSTT 2011-2012.

1. Những kết quả tích cực:

Những chủ trương định hướng và quan điểm chỉ đạo điều hành về CSTT thể hiện trong các Nghị quyết 11/2011/NQ-CP, NQ 01/2012/NQ-CP và NQ 13/2012/NQ-CP là sự điều chỉnh đúng hướng, phù hợp với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, sự diễn biến của kinh tế vĩ mô và thị trường.

– Vai trò của tự chủ của NHNN trong hoạch định, điều hành thực thi CSTT được nâng cao và phát huynhiều hơn trong việc quyết định, lựa chọn sử dụng công cụ điều hành chính sách tiền tệ để thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ đã được Chính phủ đề ra.

– Giữ được hệ thống TCTD không bị đổ vỡ, kiềm chế lạm phát từ mức rất cao 18.13% năm 2011 xuống ở mức khoảng 7% cuối 2012;

-Tỷ giá ổn định;dự trữ ngoại hối được tăng lên, cán cân thanh toán được cải thiện;thị trường vàng được kiểm soát chặt chẽ hơn.

-Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa ngày càng có sự kết hợp đồng bộ hơn, hiệu quả hơn đối với những thời kỳ trước đây.

Tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế được điều chỉnh theo hướng hợp lý và tích cực hơn:giảm tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với các lĩnh vực đầu cơ bất động sản, chứng khoán và tăng tỷ trọng tín dụng cho 4 lĩnh vực ưu tiên: sản xuất nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, sản xuất phụ trợ và doanh nghiệp vừa và nhỏ;

– Hoạt động trên thị trường liên ngân hàng và nghiệp vụ thị trường mở có những bước phát triển mới, tạo ra những chuyển biến tích cực hơn trên thị trường tiền tệ.NHNN đã chủ động hơn trong việc thu thập các thông tin về lãi suất và khối lượng giao dịch trên thị trường tiền tệ đểsử dụng các công cụ phù hợp điều tiết cung cầu vốn trên thị trường.

4.2. Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu xử lý và hoàn thiện

Luật NHNN 2010 đã quy định mục tiêu duy nhất của CSTT là ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, nhưng trong các văn bản chỉ đạo, điều hành CSTT thể hiện phải đồng thời thực hiện nhiều mục tiêu có mức ưu tiên như nhau như: mức cung tiền M2, tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD.Do đó các giải pháp và công cụ điều hành CSTT nhiều khi phải ưu tiên giải quyết các mục tiêu trước mắt nhằm hỗ trợ tăng trưởng để ổn định kinh tế vĩ mô, nên kết quả chưa đảm bảo được tính bền vững và mục tiêu trung dài hạn

Mục tiêu kiểm soát lạm phát đã đạt được kết quả khichỉ số lạm phát xuống mức thấp dưới 1 con số nhưng kết quả chỉ mang tính thời điểm, chưa ổn định và bền vững.Khả năng kiểm soát lạm phát theo mục tiêu còn nhiều thách thức và khó khăn dài hạn.

Những yếu tố và nguyên nhân cơ bản từ nội tại nền kinh tế làm cho lạm phát bùng phát trở lại vẫn chưa được giải quyết;nhiều biến số tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông vượt ra khỏi tầm kiểm soát của NHNN;nguồn lực tài chính của Nhà nước chưa đủ mạnh để can thiệp điều chỉnh có hiệu quả quan hệ cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ.

Việc lựa chọn sử dụng các công cụ của CSTT chưa phân định được rõ ràng theo chức năng, vai trò chủ yếu của từng công cụ; làm triệt tiêu hoặc hạn chế phát huy tác dụng của một số công cụ, giảm hiệu quả thực hiện mục tiêu CSTT.

Công cụ lãi suất còn một số bất cập về phương pháp xác định các và cơ chế điều hành.Lãi suất huy động và cho vay của các TCTD mang nặng tính hành chính, nhiều khi chưa sát với CPI và chưa điều chỉnh kịp thời với quan hệ cung cầu vốn trên thị trường.

Lãi suất tín dụng tuy đã giảm nhiều so với 2011 nhưng vẫn còn ở mức cao vượt quá khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.Hệ thống chính sách và cơ chế tín dụng chưa thực hiện được chức năng phân bổ vốn tín dụng cho khu vực hiệu quả, chưa giải quyết được tình trạng “suy kiệt tín dụng”, tác động tiêu cực đến phát triển trung dài hạn của nền kinh tế.

-Mức độ điều chỉnhcắt giảm cung tiền, tăng trưởng tín dụng, cơ cấu tín dụng đột ngột và quá giảm thấp trong năm 2011, so với mức thực hiện bình quân của thời kỳ trước đó, vượt quá khả năng điều chỉnh thích ứng của nền kinh tế;làm phát sinh thêm những khó khăn chưa từng có đối với SXKD, suy giảm tín dụng, đóng băng và sụt giá tài sản trên thị trường bất động sản và chứng khoán, tăng bất ổn hệ thống tài chính tiền tệ vốn đã ốm yếu.

IV. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH TCTT 2013-2015

1. Định hướng mục tiêu và quan điểm điều hành chính sách tiền tệ năm 2013-2015

Trong giai đoạn 2013-2015, hoạch định mục tiêu CSTT cần nhất quán và kiên định quan điểm ưu tiên kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng bền vững, thúc đẩy quá trình tái cơ cấu toàn diện nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và chuyển đổi từng bước chuyển sang cơ chế giá thị trường đối với các loại giá SX-KD của các mặt hàng cơ bản và dịch vụ, hàng hóa thiết yếu mà Nhà nước đang kiểm soát giá .

Vì vậy, phải kiểm soát chặt chẽ cả các yếu tố gây lạm phát cao từ phía tổng cầu và các yếu tố tác động làm suy giảm tổng cầu quá mức, mới đảm bảo quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng thành công.Mặt khác phải kiểm soát các yếu tố gây đột biến lạm phát từ chi phí đẩy, đặc biệt là lộ trình điều chỉnh hợp lý giá các ngành hàng, dịch vụ từ giá bao cấp sang giá thị trường.

Kiểm soát chỉ tiêu lạm phát mục tiêu 2013-1015 từ: 8 % – <10%/năm;

Quan điểm điều hành chính sách kiểm soát mục tiêu lạm phát 2013 là: Kiểm soát chặt chẽ các yếu tố làm tăng đột biến chi phí đẩy; hỗ trợ kích cầu một số kĩnh vực SXKD mà sản lượng chưa cung cấp đủ theo yêu cầu nên phải nhập khẩu và tiêu dùng thiết yếu.

Trong năm 2013, tổng cầu của nền kinh tế chưa có dấu hiệu phục hồi mà có thể còn xu hướng suy giảm vì mức tăng M2 và tín dụng 2011-2012 rất thấp và những khó khăn về nợ xấu, suy giảm thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán chưa thể giải quyết được.Vì vậy, áp lực lạm phát từ phía tổng cầu 2013 không lớn, lạm phát thực sẽ có xu hướng giảm thấp.

Nếu điều hành lạm phát 2013 ở mức < 8%/năm, thì phải thực hiện giải pháp: tăng cường thắt chặt tiền tệ, tài khóa trong khi tổng cầu đang suy kiệt, hoặc phải kiểm soát chặt lạm phát chi phí đẩy bằng cách hạn chế nhập khẩu và giản lộ trình điều chỉnh giá bao cấp sang giá thị trường của các ngành hàng nhà nước đang quản lý giá.Các giải pháp nêu trên đều tác động tiêu cực đến mục tiêu phục hồi tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô .

Do vậy, sẽ đạt được hiệu quả bền vững và cao hơn, nếu lạm phát mục tiêu trong năm 2013 được điều hành trong khoảng 8%- 9%.

Kiểm soát tổng phương tiện thanh toán và tín dụng 2013-2015:

Quan điểm điều hành tăng trưởng M2 và tín dụng nên theo hướng nới rộng tín dụng và M2 so với mức thực hiện 2011-2012 ở mức hợp lý; hỗtrợ kích cầu bằng lãi suất thấp một số lĩnh vực tiêu dùng thiết yếu( nhà ở cho người thu nhập thấp và trung bình;…) và các ngành hàng sản xuất không đủ sản lượng đang phải nhập khẩu trong các lĩnh vực nông sản, thực phẩm, nguyên liệu.

Chỉ tiêu tăng trưởng M2 của giai đoạn 2013-2015 trong khoảng 17%-18%/năm.

Năm 2013 nên điều hành tổng phương tiện thanh toán ở mức 18-19% để hỗ trợ cho suy giảm tổng cầu của nền kinh tế chưa được phục hồi.

Kiểm soát tăng trưởng tín dụng 2013-2015 khoảng 17% – 19%/năm.

Trong năm 2013, nếu điều hành mức tăng trưởng tín dụng đạt được 18-19% thì sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết khó khăn về vốn đã bị suy kiệt 2012, giúp bản thân Ngân hàng giảm tỷ lệ nợ xấu/tổng dự nợ; hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2014-2015 phục hồi và đạt được mục tiêu tăng trưởng đã đề ra cho giai đoạn 2011-2015 .

– Hoàn thiện phương pháp tính toán và dự báo các chỉ tiêu của CSTT và kinh tế vĩ mô:

Nghiên cứu xây dựng phương pháp tính toán, dự báo các chỉ tiêu lạm phát, tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng tín dụng một cách đồng bộ, có hệ thống và mối liên hệ mật thiết với nhau. Trong đó, cần nghiên cứu định lượng mối quan hệ và tính toán tỷ lệ thích hợp giữa các chỉ tiêu: lạm phát và tăng trưởng kinh tế; tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng tín dụng.

2. Hoàn thiện công cụ của Chính sách tiền tệ 2013-2016:

– Hoàn thiện cơ sở pháp lý và nội dung kinh tế của lãi suất cơ bản trở thành lãi suất chuẩn, lãi suất định hướng để điều hành cho hoạt động thị trường tiền tệ .

Sớm giải quyết các vướng mắc pháp lý về lãi suất cơ bản quy định tại luật dân sự 2005 và luật Ngân hàng Nhà nước 2010

Xây dựng phương pháp xác định và cơ chế điều hành lãi suất cơ bản để làm căn cứ chỉ đạo điều hành thống nhất, nâng cao hiệu quả và tác dụng của công cụ lãi suất cơ bản.

– Xây dựng, hoàn thiện phương pháp xác định các loại lãi suất và cơ chế điều hành các loại lãi suất. Việc xác định lãi suất không chỉ căn cứ vào biến số CPI mà còn phải căn cứ vào cung cầu vốn thực tế trên thị trường.Thực hiện cơ chế lãi suất thị trường đối với huy động vốn và cho vay của TCTD với
khách hàng.

Nếu NHNN tiếp tục duy trì quy định hành chính, trực tiếp đối với lãi suất huy động vốn và cho vay khách hàng của các TCTD sẽ làm vô hiệu hóa các công cụ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, thị trường mở và nguyên tắc kinh doanh thương mại, thị trường của các TCTD.

Nếu NHNN xây dựng được lãi suất cơ bản trở thành lãi suất chuẩn mực, lãi suất định hướng, cơ chế tác động truyền dẫn của các loại lãi suất điều hành của NHNN như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, OMO, tín phiếu… sẽ tác động hiệu quả đến cung cầu vốn và dự trữ của các TCTD, qua đó tác động đến lãi suất huy động vốn và cho vay của TCTD đối với khách hang.

Đối với các TCTD yếu kém có khó khăn thanh khoản, chiếm tỷ trọng thị phần hoạt động ngân hàng rất nhỏ và đang được tái cơ cấu. NHNN cần áp dụng các biện pháp kiểm soát đặc biệt, kể cả áp dụng trần lãi suất huy động và cho vay, không thể có điều kiện để nâng lãi suất cao trái với định hướng của NHNN.

3. Xử lý nợ xấu, tái cơ cấu và bảo đảm an toàn hệ thống TCTD.

Xử lý nợ xấu, tái cơ cấu và bảo đảm an toàn hệ thống TCTD là một trong những vấn đề quyết định để giải thoát khó khăn cho nền kinh tế, là trọng tâm của điều hành CSTT năm 2013.

3.1. Xử lý nợ xấu:

Xây dựng đề án và lộ trình giải quyết nợ xấu của từng TCTD 2013-2015:

Tất cả các NHTM và TCTD đều phải xây dựng đề án giải quyết và lộ trình giải quyết nợ xấu trình NHNN thẩm định và phê duyệt

Các đề án xử lý nợ xấu phải đảm bảo lộ trình xử lý nợ xấu từ 2013-2015 phải đưa nợ xấu về mức hợp lý.

Quan điểm chính sách và nguồn vốn xử lý nợ xấu:

– Những khoản nợ xấu phát sinh do Ngân hàng tự thẩm định và cho vay theo nguyên tắc thương mại thị trường thì Ngân hàng phải tự xử lý theo nguyên tắc thị trường.

Nguồn xử lý từ quỹ dự phòng rủi ro từ chi phí kinh doanh. Mức trích lập rủi ro phải đảm bảo đủ bù đắp rủi ro đã xẩy ra; phải trích đầy đủ theo thực tế phân loại nợ xấu hàng quý;xử lý rủi ro dứt điểm các khoản nợ xấu theo quý, không được kéo dài dây dưa..

Ngân hàng phải cắt giảm chi phí, cắt giảm lao động, cắt giảm tiền lương, không được đầu tư mua sắm tài sản cố định cho đến khi chưa đủ nguồn dự phòng rủi ro; không được chi phí tài trợ quảng cáo, tài trợ các hoạt động thể dục thể thao, văn hóa, nghệ thuật khác khi chưa trích đủ nguồn xử lý rủi ro.

Các NHTM nợ xấu cao phải có phương án kinh doanh chấp nhận lỗ trong 1-2 năm để trích đủ dự phòng rủi ro.

Các NHTM không chịu nổi thua lỗ phải bắt buộc tái cơ cấu hoặc tăng vốn chủ sở hữu để bù đắp thua lỗ, đảm bảo an toàn hoạt động.

– Những khoản nợ xấu Ngân hàng cho vay do chỉ định, bảo lãnh gián tiếp hoặc trực tiếp của Chính phủ thì đề nghị Bộ tài chính xây dựng phương án trả nợ theo hướng “chứng khoán hóa các khoản nợ vay, bảo lãnh”:

Phát hành tín phiếu kỳ hạn 364 ngày để thanh toán cho Ngân hàng; chuyển đổi nợ vay thành nợ trái phiếu kho bạc;chuyển thành cổ phần góp vốn của Nhà nước vào Ngân hàng.

– Những khoản nợ xấu của các Doanh nghiệp vay để thực hiện các dự án của Nhà nước mà nguồn trả nợ là nguồn vốn thanh toán của Ngân sách nhưng chưa có, cũng giải quyết bằng cách “chứng khoán hóa nợ vay”

Chuyển thành trái phiếu công trình có bảo lãnh của Bộ tài chính, trái phiếu địa phương có kỳ hạn 1-2 năm.

Thành lập công ty mua bán nợ theo mô hình công ty cổ phần và huy động nguồn vốn từ đóng góp của các cổ đông:

– Mô hình tổ chức và hoạt động: công ty cổ phần của các tổ chức
nhà nước.

– Các cổ đông chủ yếu là:Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước(SCIC);Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam(DIV); các NHTM Nhà nước và NHTM cổ phần Nhà nước;một số NHTM cổ phần tư nhân khác.

– Nguồn vốn: Do các cổ đông đóng góp

Ban hành cơ chế mua bán nợ xấu tháo gỡ các vướng mắc pháp lý để xử lý nhanh nợ xấu:

Cơ chế mua bán nợ xấu phải giải quyết được các tồn tại vướng mắc về các quy định pháp luật hiện hành; đảm bảo đầy đủ các cơ sở pháp lý phù hợp với thực tế để giải quyết nhanh chóng các hợp đồng mua bán nợ, hạn chế rủi ro pháp lý và vướng mắc thủ tục hành chính.

3.2. Tái cơ cấu chức năng của Ngân hàng thương mại

Các NHTM VN hiện nay được hoạt động theo mô hình tập đoàn tài chính đa chức năng.Các NHTM vừa hoạt động với chức năng kinh doanh thương mại, vừa có chức năng Ngân hàng đầu tư.Hầu hết các NHTM đều có chiến lược trở thành tập đoàn tài chính, có các công ty con trực thuộc là:Công ty chứng khoán, công ty quỹ, công ty bảo hiểm, công ty vàng bạc đá quý, công ty bất động sản.

Mô hình trên chưa phù hợp với điều kiện vốn, trình độ quản trị và nền kinh tế. Đây là một trong những nguyên nhân tạo ra cạnh tranh phát triển nóng, rủi ro cao, dễ bị tổn thương, gây ra mất ổn định và khủng hoảng tài chính -ngân hàng.

Vì vậy, cần thiết phải tái cơ cấu lại chức năng các NHTM theo hướng: tách bạch chức năng ngân hang đầu tư và NHTM của các ngân hàng để phòng ngừa tích tụ rủi ro quá cao, dẫn đến khủng hoảng đổ vỡ Ngân hàng như nhiều quốc gia trên thế giới.

3.3. Tái cơ cấu chức năng hoạt động của công ty tài chính

Hiện nay VN có 18 CTTC trong đó có 6 công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, 12 công ty trực thuộc các tổng công ty, tập đoàn kinh tế hiện có vốn chi phối của Nhà nước.

Các công ty tài chính của VN hiện nay hoạt động theo mô hình: là công ty con thuộc sở hữu của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước, vừa thực hiện chức năng giống như chức năng của NHTM(ngoại trừ chức năng dịch vụ thanh toán và nhận tiền gửi dưới 1 năm), vừa thực hiện chức năng của ngân hang đầu tư(đầu tư tài chính-chứng khoán, tư vấn bảo lãnh phát hành chứng khoán, .)

Đây là mô hình tập trung rủi ro rất cao: Vừa là hình thức đầu tư tài chính mạo hiểm của các tập đoàn, tổng công ty, là đầu mối huy động vốn trong nội bộ các đơn vị thành viên và nền kinh tế để cho vay, đầu tư chủ yếu cho các đơn vị là thành viên của tập đoàn và tổng công ty, bị chi phối bởi quan hệ nội bộ. Vì vậy chất lượng các khoản cho vay và đầu tư rất thấp, nguy cơ bất ổn về tài chính cao.

Về bản chất, công ty tài chính ra đời không phải để thực hiện các chức năng của các NHTM hay NHĐT. Các công ty tài chính do các nhà sản xuất hoặc nhà phân phối lập ra, để thực hiện chức năng tín dụng, hỗtrợ tiêu thụ hàng hóa và thu hồi các khoản phải thu của chính nhà sản xuất và nhà phân phối đó.

Cần nghiên cứu tái cơ cấu chức năng hoạt độngcủa các công ty tài chính theo mô hình thông lệ chuẩn mực quốc tế: hỗ trợ cho các hoạt động tiêu thu hàng hóa của nhà sản xuất và nhà phân phối bằng hình thức mua lại các hợp đồng bán hang trả góp của nhà sản xuất và nhà phân phối;cho vay mua sắm hang hóa tiêu dung đối với cá nhân;cấp tín dụng dưới hình thức mua nợ hoặc chiết khấu các khoản phải thu của doanh nghiệp.

3.4. Hoàn thiện các quy định quản lý bảo đảm an toàn hoạt động TCTD, ngăn ngừa các nguy cơ thực tế dẫn đến khủng hoảng hệ thống Ngân hang và các Tổ chức tín dụng.

Hoàn thiện các quy định quản lý bảo đảm an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng theo hướng: sửa đổi các tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động phù hợp với thực tế môi trường hoạt động kinh doanh ngân hàng Việt NamViệt Nam, tiếp cận với tiêu chuẩn quốc tế và tăng cường kỷ cương, hiệu lực trong thực thi quy định của các TCTD, bảo đảm an toàn hệ thống. Đặc biệt là các chỉ tiêu đang có nhiêu quan điểm khác nhau như: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) và tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR)

Về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu CAR:cần bổ sung sửa đổi những bất cập về hệ số rủi ro của các tài sản có (ở mẫu số)phù hợp với mức độ rủi ro của từng hình loại tài sản, hình thức cho vay.Mặt khác để khắc phục nhược điểm của tỷ lệ CAR là mẫu sốchỉ mới tính đến rủi ro tín dụng, chưa tính đến các rủi ro khác, chưa bao quát hết các hoạt động của NHTM đa chức năng như các NHTM Việt NamViệt Nam, cần bổ sung thêm các tỷ lệ an toàn khác (thí dụ như tỷ lệ Vốn tự có /Tổng tài sản, ..)

3.5. Xây dựng bộ tiêu chí định lượng rủi ro hệ thống và dấu hiệu cảnh báo sớm bất ổn tài chính của hệ thống TCTD, làm căn cứ quản lý và điều hành, giám sát để ngăn ngừa các nguy cơ khủng hoảng hệ thống các Tổ chức tín dụng

– Để chủ động đối phó với các bất ổn tài chính và khủng hoảng hệ thống ngân hàng, các cơ quan có chức năng quản lý, giám sát TCTD phải có cơ sở dữ liệu tin cậy và cập nhật về định lượng hóa rủi ro hệ thống và dấu hiệu cảnh báo sớm về bất ổn của hệ thống TCTD.

– Xây dựng bộ chỉ số đo lường rủi ro hệ thống và bất ổn tài chính bao gồm: các chỉ số đo lường độ yếu kém năng lực tài chính dựa trên bảng cân đối kế toán, các chỉ số cảnh báo sớm, các kịch bản kiểm định khủng hoảng.

Giao cho Ủy ban giám sát tài chính quốc gia chức năng và nhiệm vụ tính toán và công bố các chỉ tiêu định lượng rủi ro hệ thống và dấu hiệu cảnh báo sớm.Cơ quan này có nhiệm vụ phải thẩm định số liệu báo cáo của các TCTD, điều tra thu thập số liệu về giá thị trường, giá trị thực đối với các tài sản có, tài sản nợ theo báo cáo của các TCTD, để đưa ra các đánh giá chính xác, khách quan về thực trạng, dự báo những yếu tố và nguy cơ có thể xẩy ra khủng hoảng trong tương lai.

3.6. Đổi mới, hoàn thiện thể chế quản lý và tái cơ cấu hệ thống quản trị các TCTD

Để đảm bảo cho hệ thống TCTD phát triển an toàn hiệu quả, đi đôi với tái cơ cấu tài chính phải tiến hành tái cơ cấu hệ thống quản trị các TCTD và hoàn thiện thể chế quản lý hoạt động các TCTD.Đây là vấn đề cốt lõi có tính chất quyết định của quá trình tái cơ cấu hoạt động TCTD, để không lặp lại những sai lầm, khuyết tật và các yếu kém như hiện nay.

– Về thể chế: cần sớm bổ sung, hoàn thiện thể chế quản lý đối với các NHTM cổ phần Nhà nước có vốn chủ sở hữu của nhà nước chi phối (trên 65%) theo hướng: Các NHTM cổ phần có vốn chủ sở hữu của Nhà nước trên 65% như là một loại doanh nghiệp Nhà nước đặc biệt, có vai trò trọng yếu trong nền kinh tế, phải hoạt động theo thể chế khác với thể chế quản lý của các NHTM cổ phần tư nhân. Trong đó, cơ chế đại diện chủ sở hữu; cơ chế bổ nhiệm cán bộ;cơ chế quản lý lao động, tiền lương;cơ chế quản lý vốn, đầu tư, cơ chế tài chính phải thực hiện theo đúng các nguyên tắc, quy định pháp luật đối với danh nghiệp
Nhà nước.

Định hướng tái cơ cấu hệ thống quản trị theo hướng đổi mới hệ thống quản trị ngân hàng theo sát với các thông lệ chuẩn mực quốc tế, đảm bảo tính minh bạch, tính đại chúng. Xây dựng hệ thống quản trị chuẩn mực về về quản trị điều hành; quản trị tài sản nợ, quản trị tài sản có, quản trị rủi ro phù hợp với các quy định pháp luật Việt Nam, hạn chế rủi ro tác nghiệp, rủi ro điều hành và rủi ro đạo đức; tiếp cận từng bước theo cácnguyên tắc cơ bản của OECD về quản lý công ty và của Ủy ban Basel.

Tài liệu tham khảo

Các Nghị quyết 01,02,11/2011/NQ-CP

– Các Nghị quyết 01,13/2012/NQ-CP

– Chỉ thị 01/2011/CT-NHNN; Chỉ thị 01/2012/CT- NHNN; Công văn 3739/NHNN ngày 20/6/2012 thực hiện NQ 13; Chỉ thị 06/2012/CT-NHNN ngày 9/11/2012

Điều 2, Luật NHNN số 06/1997/QH, Điều 3, Luật NHNN số 46/2010/QH12

– QĐ 01/2007/QĐ-NHNN,QĐ 27/2008/QĐ-NHNN

– Thông tư 12,13,22/2010/TT-NHNN

– Quyết định 2281/2010/QĐ-NHNN

– Thông tư 01,12,14,15, 20/2012/TT-NHNN

– Các báo cáo tình hình kinh tế-xã hội 2011-2012-Chínhphu.vn

– Các báo cáo tiền tệ của NHNN từ năm 2011-2012-svb.gov.vn

– Ngân hàng và thị trường tài chính của FREDERIC S.MISHKIN

Ảnh hưởng của đôla hóa đến thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước và giải pháp -TS. Nguyễn Thị Kim Thanh

– Nhìn nhận khách quan và thấu đáo vấn đề lạm phát ở Việt Nam-Ts Đào Minh Tú và Ths Từ Thị Kim Thanh

– Lạm phát mục tiêu và lưu ý đối với khuôn khổ chính sách tiền tệ ở Việt nam-Uỷ ban kinh tế QH và UNDP-NXB Tri thức 2012.

– Dự trữ bắt buộc – Từ lý thuyết đến thực tiễn-PGS.,TS.Nguyễn Thị Nhung

– Các tạp chí chuyên ngành,bài báo và tài liệu có liên quan khác.

Asso, P.F., Kahn, G.A., Lesson, R. (12/2007), The Taylor Rule and The Transformation of Monetary Policy, The Federal Reverse Bank of Kansas City, Economic Research Department.

– Taylor Rule: http://en.wikipedia.org/wiki/Taylor_rule

– Woodford, M., 01/2001, The Taylor Rule and Optimal Monetary Policy, Princeton University

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: CPI và các loại lãi suất giai đoạn từ tháng 1/2011- 10/2012

Đơn vị: %/tháng

Thời gian

CPI

Lãi suất huy động

Lãi suất Tái cấp vốn

Lãi suất tái chiết khấu

Lãi suất cho vay qua đêm

Lãi suất OMO

Lãi suất cơ bản

1/2011

1.74

1.13

0.75

0.58

0.75

0.92

0.75

2/2011

2.13

1.13

0.92

0.58

0.92

0.92

0.75

3/2011

2.25

1.17

1.00

1.00

1.00

0.92

0.75

4/2011

3.53

1.17

1.08

1.00

1.08

1.00

0.75

5/2011

2.43

1.17

1.17

1.08

1.17

1.17

0.75

6/2011

1.22

1.17

1.25

1.08

1.33

1.17

0.75

7/2011

1.32

1.17

1.25

1.08

1.33

1.17

0.75

8/2011

1.07

1.17

1.25

1.08

1.33

1.17

0.75

9/2011

0.95

1.17

1.25

1.08

1.33

1.17

0.75

10/2011

0.42

1.17

1.25

1.08

1.33

1.17

0.75

11/2011

0.45

1.17

1.25

1.08

1.33

1.17

0.75

12/2011

0.63

1.17

1.25

1.08

1.33

1.17

0.75

1/2012

1.00

1.17

1.25

1.08

1.33

1.17

0.75

2/2012

1.37

1.17

1.25

1.08

1.33

1.17

0.75

3/2012

0.16

1.08

1.17

1.00

1.25

1.08

0.75

4/2012

0.05

1.00

1.08

0.92

1.17

0.83

0.75

5/2012

0.18

0.92

1.00

0.83

1.08

0.83

0.75

6/2012

-0.26

0.75

0.92

0.75

1.00

0.67

0.75

7/2012

-0.29

0.75

0.83

0.67

0.92

0.67

0.75

8/2012

0.63

0.75

0.83

0.67

0.92

0.67

0.75

9/2012

2.20

0.75

0.83

0.67

0.92

0.67

0.75

10/2012

0.85

0.75

0.83

0.67

0.92

0.67

0.75

11/2012

0.47

0.75

0.83

0.67

0.92

0.67

0.75

Nguồn: Ngân hàng nhà nước và Tổng cục thống kê

Bảng 3: Diễn biến CPI với lãi suất tái cấp vốn giai đoạn từ tháng 1/2011-10/2012

Thời gian

CPI (%/tháng) (1)

Ls tái cấp vốn (%/năm) (2)

Ls tái cấp vốn (%/tháng) (3)

Chênh lệch

(1) – (3)

1/2011

1.74

9.00

0.75

0.99

2/2011

2.13

11.00

0.92

1.21

3/2011

2.25

12.00

1.00

1.25

4/2011

3.53

13.00

1.08

2.45

5/2011

2.43

14.00

1.17

1.26

6/2011

1.22

15.00

1.25

-0.03

7/2011

1.32

15.00

1.25

0.07

8/2011

1.07

15.00

1.25

-0.18

9/2011

0.95

15.00

1.25

-0.30

10/2011

0.42

15.00

1.25

-0.83

11/2011

0.45

15.00

1.25

-0.80

12/2011

0.63

15.00

1.25

-0.62

1/2012

1.00

15.00

1.25

-0.25

2/2012

1.37

15.00

1.25

0.12

3/2012

0.16

14.00

1.17

-1.01

4/2012

0.05

13.00

1.08

-1.03

5/2012

0.18

12.00

1.00

-0.82

6/2012

-0.26

11.00

0.92

-1.18

7/2012

-0.29

10.00

0.83

-1.12

8/2012

0.63

10.00

0.83

-0.20

9/2012

2.20

10.00

0.83

1.37

10/2012

0.85

10.00

0.83

0.02

11/2012

0.47

10.00

0.83

-0.36

Nguồn: Ngân hàng nhà nước và Tổng cục thống kê

Bảng 4: CPI và lãi suất tái chiếu khấu giai đoạn từ tháng 1/2011 – 10/2012

Thời gian

CPI (%/tháng) (1)

Lãi suất tái chiết khấu (%/năm) (2)

Lãi suất tái chiết khấu (%/tháng) (3)

Chênh lệch

(1) – (3)

1/2011

1.74

7.00

0.58

1.16

2/2011

2.13

7.00

0.58

1.55

3/2011

2.25

12.00

1.00

1.25

4/2011

3.53

12.00

1.00

2.53

5/2011

2.43

13.00

1.08

1.35

6/2011

1.22

13.00

1.08

0.14

7/2011

1.32

13.00

1.08

0.24

8/2011

1.07

13.00

1.08

-0.01

9/2011

0.95

13.00

1.08

-0.13

10/2011

0.42

13.00

1.08

-0.66

11/2011

0.45

13.00

1.08

-0.63

12/2011

0.63

13.00

1.08

-0.45

1/2012

1.00

13.00

1.08

-0.08

2/2012

1.37

13.00

1.08

0.29

3/2012

0.16

12.00

1.00

-0.84

4/2012

0.05

11.00

0.92

-0.87

5/2012

0.18

10.00

0.83

-0.65

6/2012

-0.26

9.00

0.75

-1.01

7/2012

-0.29

8.00

0.67

-0.96

8/2012

0.63

8.00

0.67

-0.04

9/2012

2.20

8.00

0.67

1.53

10/2012

0.85

8.00

0.67

0.18

11/2012

0.47

8.00

0.67

-0.20

Nguồn: Ngân hàng nhà nước và Tổng cục thống kê

Bảng 5: Biến động CPI và lãi suất OMO giai đoạn từ tháng 1/2011 – 10/2012

Thời gian

CPI (%/tháng) (1)

Lãi suất OMO (%/năm) (2)

Lãi suất OMO (%tháng) (3)

Chênh lệch

(1) –(3)

1/2011

1.74

11.00

0.92

0.82

2/2011

2.13

11.00

0.92

1.21

3/2011

2.25

11.00

0.92

1.33

4/2011

3.53

12.00

1.00

2.53

5/2011

2.43

14.00

1.17

1.26

6/2011

1.22

14.00

1.17

0.05

7/2011

1.32

14.00

1.17

0.15

8/2011

1.07

14.00

1.17

-0.10

9/2011

0.95

14.00

1.17

-0.22

10/2011

0.42

14.00

1.17

-0.75

11/2011

0.45

14.00

1.17

-0.72

12/2011

0.63

14.00

1.17

-0.54

1/2012

1.00

14.00

1.17

-0.17

2/2012

1.37

14.00

1.17

0.20

3/2012

0.16

13.00

1.08

-0.92

4/2012

0.05

10.00

0.83

-0.78

5/2012

0.18

10.00

0.83

-0.65

6/2012

-0.26

8.00

0.67

-0.93

7/2012

-0.29

8.00

0.67

-0.96

8/2012

0.63

8.00

0.67

-0.04

9/2012

2.20

8.00

0.67

1.53

10/2012

0.85

8.00

0.67

0.18

11/2012

0.47

8.00

0.67

-0.20

Nguồn: Ngân hàng nhà nước và Tổng cục thống kê

Bảng 6: Biến động CPI và lãi suất cho vay qua đêm giai đoạn từ tháng 1/2011 – 10/2012

Thời gian

CPI (%/tháng) (1)

Lãi suất cho vay qua đêm (%/năm) (2)

Lãi suất cho vay qua đêm (%/tháng) (3)

Chênh lệch

(1) – (3)

1/2011

1.74

9.00

0.75

0.99

2/2011

2.13

11.00

0.92

1.21

3/2011

2.25

12.00

1.00

1.25

4/2011

3.53

13.00

1.08

2.45

5/2011

2.43

14.00

1.17

1.26

6/2011

1.22

16.00

1.33

-0.11

7/2011

1.32

16.00

1.33

-0.01

8/2011

1.07

16.00

1.33

-0.26

9/2011

0.95

16.00

1.33

-0.38

10/2011

0.42

16.00

1.33

-0.91

11/2011

0.45

16.00

1.33

-0.88

12/2011

0.63

16.00

1.33

-0.70

1/2012

1.00

16.00

1.33

-0.33

2/2012

1.37

16.00

1.33

0.04

3/2012

0.16

15.00

1.25

-1.09

4/2012

0.05

14.00

1.17

-1.12

5/2012

0.18

13.00

1.08

-0.90

6/2012

-0.26

12.00

1.00

-1.26

7/2012

-0.29

11.00

0.92

-1.21

8/2012

0.63

11.00

0.92

-0.29

9/2012

2.20

11.00

0.92

1.28

10/2012

0.85

11.00

0.92

-0.07

11/2012

0.47

11.00

0.92

-0.45

Nguồn: Ngân hàng nhà nước và Tổng cục thống kê

Bảng 7: Biến động CPI và lãi suất huy động giai đoạn 1/2011 – 10/2012

Thời gian

CPI (%/tháng)(1)

Lãi suất huy động ngắn hạn(%/năm) (2)

Ls huy động ngắn hạn (%/tháng) (3)

Chênh lệch (3)-(1)

1/2011

1.74

13.50

1.13

– 0.59

2/2011

2.13

13.50

1.13

– 1.00

3/2011

2.25

14.00

1.17

– 1.08

4/2011

3.53

14.00

1.17

– 2.36

5/2011

2.43

14.00

1.17

– 1.26

6/2011

1.22

14.00

1.17

– 0.05

7/2011

1.32

14.00

1.17

– 0.15

8/2011

1.07

14.00

1.17

+ 0.10

9/2011

0.95

14.00

1.17

+ 0.22

10/2011

0.42

14.00

1.17

+ 0.75

11/2011

0.45

14.00

1.17

+ 0.72

12/2011

0.63

14.00

1.17

+ 0.54

1/2012

1.00

14.00

1.17

+ 0.17

2/2012

1.37

14.00

1.17

– 0.20

3/2012

0.16

13.00

1.08

+ 0.92

4/2012

0.05

12.00

1.00

+ 0.95

5/2012

0.18

11.00

0.92

+ 0.74

6/2012

-0.26

9.00

0.75

+ 1.01

7/2012

-0.29

9.00

0.75

+ 1.04

8/2012

0.63

9.00

0.75

+ 0.12

9/2012

2.20

9.00

0.75

– 1.45

10/2012

0.85

9.00

0.75

– 0.10

11/2012

0.47

9.00

0.75

-0.28

Nguồn: Ngân hàng nhà nước và Tổng cục thống kê

Bảng 8: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc VND 2009-2012

Thời gian

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc VND ( không thay đổi từ 24/2/2009)

Kỳ hạn dưới 12 tháng (%/năm)

Kỳ hạn trên 12 tháng (%/năm)

Các NH bình thường

NH Nông nghiệp và PTNT

NH chính sách

Các NH bình thường

NH Nông nghiệp và PTNT

NH chính sách

1/2011

3

1

0

1

1

0

2/2011

3

1

0

1

1

0

3/2011

3

1

0

1

1

0

4/2011

3

1

0

1

1

0

5/2011

3

1

0

1

1

0

6/2011

3

1

0

1

1

0

7/2011

3

1

0

1

1

0

8/2011

3

1

0

1

1

0

9/2011

3

1

0

1

1

0

10/2011

3

1

0

1

1

0

11/2011

3

1

0

1

1

0

12/2011

3

1

0

1

1

0

1/2012

3

1

0

1

1

0

2/2012

3

1

0

1

1

0

3/2012

3

1

0

1

1

0

4/2012

3

1

0

1

1

0

5/2012

3

1

0

1

1

0

6/2012

3

1

0

1

1

0

7/2012

3

1

0

1

1

0

8/2012

3

1

0

1

1

0

9/2012

3

1

0

1

1

0

10/2012

3

1

0

1

1

0

11/2012

3

1

0

1

1

0

Nguồn: Ngân hàng nhà nước và Tổng cục Thống kê


[1]Nghị quyết 01/2011/NQ-CP; Nghị quyết 11/2011/NQ-CP, ngày 24/2/2011; Nghị quyết 01/2012/NQ-CP; Nghị quyết 13/2012/NQ-CP

[2]Chỉ thị 01/2011/CT-NHNN, ngày 4/3/2011; Chỉ thị 01/2012/CT-NHNN; Công văn 3739/NHNN ngày 20/6/2012 thực hiện NQ 13; Chỉ thị 06/2012/CT-NHNN ngày 9/11/2012

[3] Điều 2, Luật NHNN số 06/1997/QH, ngày 12/12/1997

[4] Điều 3, Luật NHNN số 46/2010/QH12

[5]Kết luận của Bộ chính trị tại cuộc họp ngày 26/4/2012

[6] Nghị quyết 11/2011/NQ-CP

[7] Nghị quyết 01/2012/NQ-CP

[8][Thông tư số 17/2011/TT-NHNN ngày 18/8/2011 quy định cho vay có bảo đảm giấy tờ có giá;Thông tư số 37/2011/TT-NHNN ngày 12/12/2011 bổ sung sửa đổi Thông tư 17/2011/TT-NHNN; Thông tư số 01/2012/TT-NHNN ngày 16/2/2012 chiết khấu giấy tờ có giá đối với các TCTD; Thông tư số 15/2012/TT-NHNN ngày 4/5/2012 tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại hồ sơ tín dụng đối với các TCTD.]

[9]Thống đốc NHNN trả lời chất vấn đại biểu quốc hội ngày 13/11/2012

NGUỒN: Trang Điện tử  Học viện chính sách và Phát triển http://apd.edu.vn/sites/default/files/upload/8/Nhin%20lai%20chinh%20sach%20tien%20te%20.docx

Advertisements