You are currently browsing the daily archive for 18/03/2014.

BÙI ĐỨC NAM

Nhu cầu về tài chính cho giáo dục đại học đang ngày càng cao, tạo áp lực lên ngân sách nhà nước. Từ góc độ một cơ sở giáo dục đại học, bài viết đưa ra một số ý kiến xoay quanh vấn đề tài chính đại học đối với cơ sở giáo dục đại học (CSGDĐH) công lập.

Đổi mới cơ chế, chính sách…

Hiện nay, các CSGDĐH ở các nước trên thế giới nhận hỗ trợ tài chính từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: Kinh phí nhà nước phân bổ cho hoạt động, đặc biệt là giảng dạy và nghiên cứu khoa học; Kinh phí phân bổ cho nghiên cứu hoặc hỗ trợ cho các dự án nghiên cứu từ các nguồn khác nhau (từ các bộ); Học phí và các loại phí khác thu được từ sinh viên trong nước và sinh viên nước ngoài; Nguồn thu từ các hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, hợp đồng đào tạo, dịch vụ tư vấn, bản quyền…; Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ trong khuôn viên nhà trường phục vụ giảng viên, sinh viên và cộng đồng; Nguồn thu từ hiến tặng, tài trợ, quà biếu, đầu tư.

Cơ cấu của các nguồn trên thay đổi rất nhiều giữa các nước. Chẳng hạn, hầu hết các trường đại học ở nước đang phát triển, 90% nguồn thu của họ là từ phân bổ của Nhà nước cho giảng dạy. Học phí và lệ phí là không đáng kể. Ngay cả ở một vài nước phát triển, các trường đại học của họ nếu không có nhiều hoạt động nghiên cứu cũng sẽ dựa chủ yếu vào hai nguồn thu chính – hỗ trợ từ Nhà nước và học phí.

Ở Việt Nam, các CSGDĐH có 3 nguồn thu chính, gồm từ ngân sách nhà nước (NSNN) và học phí, nguồn còn lại không đáng kể. Thời gian qua, cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục đại học (GDĐH) đã đổi mới cho phù hợp với yêu cầu phát triển. Điều này thể hiện rõ qua Nghị quyết số 35/2009/ QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội khoá XII về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm 2010-2011 đến năm học 2014-2015; Nghị định số 49/2009/NĐ-CP quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015… Những đổi mới này, đã tạo động lực quan trọng đối với các CSGDĐH công lập trong việc nâng cao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm.

Đọc tiếp »

TS. BÙI TIẾN DŨNG

Bộ Khoa học và Công nghệ

Nguồn ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH&CN) nói chung còn khiêm tốn so với các lĩnh vực khác, mặc dù gần đây nhiều quy định đang được đổi mới song vẫn chưa hiển thị rõ nét. Bài viết đề cập một số đổi mới cơ chế tài chính hiện hành của các đơn vị sự nghiệp (KH&CN) công lập và đề xuất một số gợi ý nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính hiện nay.

Cơ chế tài chính những năm gần đây

Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các bộ ngành, địa phương trình Thủ tướng Chính phủ một số đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN nói chung và cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN nói riêng. Không có cơ chế tài chính chỉ riêng cho các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập.

Thứ nhất, Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH&CN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 28/9/2004 có nội dung “Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN”. Đây là nội dung thứ 3 trong 6 nhóm nội dung và giải pháp chủ yếu trong Đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN. Những giải pháp chính trong đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN gồm: Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho KH&CN; Đổi mới chính sách đầu tư và cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước (NSNN); Hoàn thiện cơ chế sử dụng nguồn tài chính tạo động lực cho KH&CN; Một số cơ chế được ban hành theo hướng đổi mới trong thời gian qua…

Để quản lý các dự án KH&CN, ngày 20/8/2004 Liên bộ Bộ Tài chính, Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN, hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án KH&CN được NSNN hỗ trợ và có thu hồi kinh phí. Thông tư 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN quy định NSNN hỗ trợ tối đa 30% tổng mức kinh phí đầu tư mới cần thiết để thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm, các dự án chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học từ nước ngoài; Đồng thời, tối đa không quá 24 tháng sau khi dự án kết thúc, các dự án phải nộp trả NSNN số kinh phí thu hồi từ 60 – 100% mức kinh phí NSNN đã hỗ trợ thực hiện các dự án; Kinh phí thu hồi chủ yếu từ nguồn thu bán các sản phẩm là kết quả thực hiện của dự án. Sau một thời gian thực hiện, những quy định tại Thông tư nói trên đã bộc lộ một số điểm bất cập, cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế.

Đọc tiếp »

TRẦN VŨ HẢI

Các bạn sinh viên ngành luật thường không nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp, nên tôi có một số ý ngắn gọn để giúp các bạn hiểu rõ hơn về Báo cáo tài chính khi học môn pháp luật tài chính doanh nghiệp.

Báo cáo tài chính và ý nghĩa của nó

Báo cáo tài chính thường bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Báo cáo thu nhập, có thể kèm theo Thuyết minh báo cáo tài chính.

Báo cáo tài chính được Ban giám đốc dùng để báo cáo với cổ đông, cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan, tổ chức liên quan.

Ý nghĩa cơ bản của từng loại như sau:

Bảng cân đối kế toán cho ta biết tổng giá trị sổ sách của tài sản trong doanh nghiệp và nguồn vốn tạo ra những tài sản ấy trong năm tài chính. Nó cũng cho ta biết những thông tin cơ bản về cấu trúc vốn và cấu trúc tài sản của doanh nghiệp. Bảng cân đối kế toán là bức ảnh chụp về thông tin kế toán vào cuối ngày 31/12 của năm tài chính. Do đó, để hiểu rõ hơn, người ta thường so sánh giữa số liệu đầu kỳ (ngày 31/12 của năm tài chính trước tức ngày 1/1 của năm tài chính hiện hành) và số liệu cuối kỳ hay nói cách khác, bảng cân đối kế toán thường sử dụng là gộp giữa hai bảng cân đối kế toán, đầu kỳ và cuối kỳ. Còn sự vận động của dòng tiền, tài sản trong năm thì nó mù tịt.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho ta biết dòng tiền đã chuyển dịch như thế nào trong năm tài chính, hay nói cách khác, nó cho biết lãnh đạo DN đã sử dụng tiền và tài sản như thế nào. Còn việc dùng tiền và tài sản có tạo ra được thu nhập hay không thì nó không được thể hiện.

Báo cáo thu nhập cho biết trong năm doanh nghiệp lỗ hay lãi bằng cách so sánh doanh thu và chi phí. Báo cáo thu nhập cũng cho biết thu nhập có được từ những hoạt động nào của doanh nghiệp.

Thuyết minh báo cáo tài chính giúp người đọc/cổ đông hiểu rõ hơn về báo cáo tài chính bằng việc diễn giải các số liệu. Việc thuyết minh sẽ có sức thuyết phục bằng cách sử dụng các chỉ số tài chính, ví dụ như tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tài sản lưu động hoặc các chỉ số mà các nhà đầu tư quan tâm như ROA, ROE, P/E, EPS, v.v.. Những chỉ số này cũng sẽ cho thấy có sự liên hệ giữa các báo cáo với nhau.

Đọc tiếp »

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính đối với Quỹ đầu tư phát triển địa phương được thành lập và hoạt động theo Nghị định số 138/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 08 năm 2007 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương (sau đây gọi tắt là Nghị định số 138/2007/NĐ-CP) và Nghị định số 37/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 138/2007/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định số 37/2013/NĐ-CP).

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Quỹ đầu tư phát triển địa phương (sau đây gọi tắt là Quỹ).

2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh).

3. Cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan.

Đọc tiếp »

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định việc mở và sử dụng tài khoản vốn đầu tư gián tiếp để thực hiện các giao dịch liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Thông tư này áp dụng với các đối tượng sau:

a) Nhà đầu tư nước ngoài là người không cư trú thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp tại Việt Nam;

b) Các tổ chức và cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam.

2. Thông tư này không điều chỉnh đối với đối tượng nhà đầu tư nước ngoài là người cư trú là tổ chức và cá nhân nước ngoài. Các đối tượng này thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp tại Việt Nam theo quy định hiện hành về pháp luật chứng khoán và các văn bản quy phạm pháp luật khác có Iiên quan.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Đọc tiếp »

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN

Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

(TBKTSG) – Nhìn từ thực trạng vi phạm các quy định trong lĩnh vực ngân hàng để thấy dẫu có cả một “rừng luật” thì cũng chẳng có ý nghĩa gì nếu xã hội không có tinh thần thượng tôn pháp luật.

Sao có thể làm ngơ?

Điều 55 của Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) 2010 quy định một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một TCTD, đồng thời cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó cũng không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một TCTD. Thế nhưng, trên thực tế có một số cổ đông là cá nhân, và trong nhiều trường hợp khác khi tính cả những người có liên quan đến cá nhân đó, đã và đang nắm giữ số cổ phần vượt quá tỷ lệ sở hữu quy định này. Điều chúng ta thắc mắc là tại sao luật pháp đã quy định khá rõ ràng rồi nhưng không thấy ai bị xử lý gì cả, kể cả một ý kiến chính thức từ cơ quan chức năng, trực tiếp ở đây là Ngân hàng Nhà nước (NHNN), về vấn đề này cũng chưa có.
Có người cho rằng, dù biết sai phạm(?!) nhưng do luật pháp của Việt Nam còn nhiều khiếm khuyết nên không thể xử lý được mà cần phải chờ để hoàn thiện các khiếm khuyết đó. Rõ ràng tâm lý chờ đợi có một hệ thống luật pháp hoàn bị rồi mới hành động là không thể chấp nhận được vì nó sẽ làm cho các quy định của luật pháp trở nên vô nghĩa. Việc viện lý do luật pháp có nhiều lỗ hổng hoặc không đủ chỉ là sự biện minh cho hành vi cố tình né tránh trách nhiệm hoặc làm ngơ trước một trở lực nào đó mà người có trách nhiệm thực thi luật pháp không dám đối mặt.

Vì sao cần phải thượng tôn pháp luật?

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Ba 2014
H B T N S B C
« Th2   Th4 »
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 986 917 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.