Luật gia TRẦN VŨ HẢI

Đại học Luật Hà Nội

1. Tại sao cần hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp?

Lý do đầu tiên là xuất phát từ phía doanh nghiệp còn hạn chế kiến thức pháp lý. Nhận thức của nhiều chủ doanh nghiệp, nhà quản lý doanh nghiệp về vai trò của pháp luật trong hoạt động kinh doanh còn khá hạn chế. Nhiều chủ doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đi lên từ mô hình sản xuất nhỏ, không được đào tạo hoặc bồi dưỡng bài bản về kiến thức pháp luật, thường làm việc theo thói quen. Ở quy mô nhỏ thì không có vấn đề gì, nhưng ở quy mô lớn, rất dễ xảy ra các tranh chấp pháp lý. Ví dụ: việc giao kết hợp đồng chỉ bằng lời nói, bàn giao tiền hoặc tài sản không kèm theo chứng từ… Bên cạnh đó, thực tế hiện nay có nhiều chủ doanh nghiệp, nhà quản lý doanh nghiệp quan niệm rằng: pháp luật là câu chuyện của nhà nước đặt ra để trói buộc doanh nghiệp, và nếu không có “chạy chọt” để “cởi trói” thì dù có giỏi pháp luật đến mấy cũng không thể làm được. Thực tế cho thấy, tuy chưa hoàn toàn loại trừ được tham nhũng, tiêu cực, nhưng nếu doanh nghiệp am hiểu pháp luật, thì hoàn toàn có thể tự bảo vệ mình trước các rủi ro pháp lý trong kinh doanh, cũng như dễ dàng hơn trong các giao dịch hành chính đối với cơ quan nhà nước.

Hệ thống pháp luật phức tạp và chưa hoàn thiện

· Hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay đang ngày càng trở nên “rối rắm”. Việc chúng ta đẽo cày giữa đường trong việc học hỏi công tác lập pháp ở các hệ thống pháp luật khác nhau (vừa học hỏi hệ thống Anh Mỹ lại cả của Châu Âu lục địa và Trung Quốc là những ví dụ điển hình) đã làm cho hệ thống văn bản trở nên phức tạp, hỗn độn và chồng chéo.

· Tư duy thích điều hành bằng văn bản của nhiều cơ quan nhà nước hơn là giải quyết công việc bằng chỉ đạo cụ thể cho từng trường hợp đã làm cho hệ thống văn bản càng trở nên đồ sộ. Thậm chí, bản thân một số cơ quan soạn thảo cũng không dám chắc chắn là có văn bản nào đang có hiệu lực điều chỉnh vấn đề này, bằng chứng là trong các văn bản thường có quy định sau đây: “Những quy định ban hành trước đây trái với Thông tư/Nghị định này đều bị bãi bỏ”.

· Việc áp dụng các văn bản pháp luật cũng không hề dễ dàng do có nhiều văn bản cùng điều chỉnh về một vấn đề, thậm chí lại do nhiều cơ quan khác nhau ban hành. Ví dụ: vấn đề giá thanh toán hợp đồng xây dựng đối với các công trình có nguồn vốn nhà nước vừa chịu sự điều chỉnh của văn bản của Bộ Xây dựng, lại vừa chịu sự điều chỉnh của Bộ Tài chính, vừa chịu sự điều chỉnh của Nghị định Chính phủ, lại vừa của Bộ Luật Dân sự… Một ví dụ khác: chúng ta có thể tìm thấy nhiều văn bản có quy định: để thực hiện việc này việc kia thì theo pháp luật về vấn đề gì đó, hoặc thậm chí dẫn chiếu cụ thể đến một văn bản khác, nhưng khi tìm đến văn bản kia thì chẳng thấy quy định cụ thể nội dung gì.

· Về nguyên tắc, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì văn bản nào có giá trị pháp lý cao hơn thì được áp dụng, nếu ngang giá trị pháp lý thì văn bản nào ban hành sau sẽ được áp dụng. Nhưng trên thực tế, các cơ quan áp dụng pháp luật thường có khuynh hướng áp dụng các văn bản cụ thể, đặc biệt là của ngành mình trong giải quyết công việc. Bởi vậy, nhiều khi Luật đã sửa có nội dung mới, nhưng Nghị định/Thông tư hướng dẫn Luật cũ với quy định cũ vẫn được thực hiện vì chưa được sửa. Điều nay gây hoang mang cho ngay cả với các luật gia, chứ không chỉ là doanh nghiệp.

· Cơ chế đảm bảo thực thi các quy định của pháp luật hiện nay cũng có nhiều vấn đề. Nhiều văn bản luật có tính chất tuyên ngôn, định hướng, khuyến khích, chứ không đưa ra các nghĩa vụ cụ thể nên các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước không biết áp dụng thế nào. Ví dụ: dự thảo Luật Thực hành tiết kiệm và Phòng, chống lãng phí dự kiến sẽ áp dụng cho cả cá nhân và doanh nghiệp dân doanh. Một ví dụ khác: một tài sản bảo đảm bằng biện pháp thế chấp, thậm chí là cầm cố cho ngân hàng, sẽ rất khó cho ngân hàng khi xử lý nếu không có sự hợp tác của bên bảo đảm. Do vậy, chính các ngân hàng mặc dù có tài sản bảo đảm nhưng vẫn phải kiện đòi nợ hoặc kiện đòi xử lý tài sản bảo đảm. Có đại biểu Quốc hội nói vui nhưng rất đáng suy ngẫm: chúng ta đang trong “rừng luật”, mà nhiều khi phải áp dụng “luật rừng”

Cơ quan nhà nước còn chưa chú trọng đến công tác pháp chế và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

· Nhiều cơ quan nhà nước, cả trung ương và địa phương chưa quan tâm đến việc hoàn thiện công tác xây dựng pháp luật của đơn vị mình. Nhiều văn bản ban hành chưa đạt độ chuẩn mực của một văn bản pháp quy, đặc biệt là cách hành văn, nội dung quy định nên dẫn đến cách hiểu và vận dụng không giống nhau.

Ví dụ: trong Thông tư 121/2012/TT-BTC về quản trị công ty đại chúng có quy định: “Công ty không được cấp các khoản vay hoặc bảo lãnh cho các thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành, cán bộ quản lý khác và những người có liên quan tới thành viên nêu trên, trừ khi Đại hội đồng cổ đông có quyết định khác”. Có doanh nghiệp hiểu rằng, quyết định khác có thể hiểu là Đại hội đồng cổ đông có thể cho phép Hội đồng quản trị quyết định cho những cá nhân nêu trên vay; nhưng cũng có doanh nghiệp hiểu rằng phải có quyết định của Đại hội đồng cổ đông cho cụ thể một cá nhân nào đó vay.

· Công tác pháp chế của các cơ quan nhà nước thường bị buông lỏng. Thậm chí ở những nơi có bộ phận pháp chế thì tầm ảnh hưởng cũng không nhiều trong các quyết định pháp luật của tổ chức, đơn vị đó. Mặc dù Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 4/7/2011 quy định khá cụ thể về tổ chức pháp chế trong các cơ quan cấp Bộ, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp Tỉnh và trong doanh nghiệp nhà nước nhưng trong quá trình triển khai còn nhiều vướng mắc. Vấn đề quan trọng nhất là chất lượng cán bộ pháp chế, đặc biệt là ở địa phương hiện nay. Tìm cử nhân luật đưa vào vị trí cán bộ pháp chế không khó, nhưng tìm được cử nhân luật đáp ứng được yêu cầu công việc thì lại không dễ. Bên cạnh đó, có những lĩnh vực rất chuyên sâu cần kiến thức chuyên ngành không phải luật như kinh tế, môi trường, y tế, giáo dục… thì trình độ một cử nhân luật thông thường không thể một sớm một chiều đáp ứng được.

· Công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong thời gian trước đây không được chú trọng. Vấn đề minh bạch thông tin điều hành luôn là sự cản trở trong quan trình cải cách hành chính ở Việt Nam. Đội ngũ cán bộ làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp còn ít về số lượng, chưa thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức pháp luật và kỹ năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, đa số cán bộ làm việc kiêm nhiệm, do đó, chất lượng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp hiện nay chưa cao, trong khi đó kinh phí dành cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp còn hạn chế, thiếu tập trung, chưa được thực hiện một cách đồng bộ trên cả nước, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác này.

· Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp, các tổ chức dịch vụ pháp lý chưa được đồng bộ, chặt chẽ và hiệu quả, dẫn đến tình trạng bỏ trống nhiều địa bàn hoặc không đáp ứng được yêu cầu hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Tuy thời gian gần đây có nhiều chuyển biến, nhưng về cơ bản vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Mức độ quan tâm đến việc hỗ trợ, giải đáp thắc mắc của các cơ quan nhà nước là không giống nhau và cũng không thường xuyên.

Thực trạng các luật gia độc lập

· Các luật gia độc lập được nói đến ở đây là các luật sư, công ty luật và công ty tư vấn đầu tư v.v.. Hiện nay, số lượng các luật gia độc lập là không ít, nhưng thường tập trung tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, còn những địa phương khác thì hạn chế hơn. Chính vì vậy, việc doanh nghiệp muốn tìm kiếm sự hỗ trợ về pháp lý của những luật gia không phải lúc nào cũng dễ thực hiện, đặc biệt là thêm rào cản về chi phí và quan niệm chưa đúng của chủ doanh nghiệp. Nhiều người, thậm chí không ít những chủ doanh nghiệp quan niệm là chỉ nên tìm sự giúp đỡ của luật sư khi có kiện tụng hoặc khi gặp rắc rối về hình sự. Một điều bất ngờ là nhiều luật sư cũng quan niệm như vậy, nên rất ít chú trọng đến kỹ năng tư vấn pháp lý, đặc biệt tư vấn về các giao dịch kinh doanh.

· Trình độ các luật gia rất không đồng đều dẫn đến rất khác nhau trong năng lực của các công ty luật hay tổ chức tư vấn. Điều đó gây khó khăn cho việc tiếp cận và lựa chọn luật gia tư vấn của doanh nghiệp. Nhiều trường hợp các luật gia không đủ năng lực nhưng vẫn nhận vụ việc dẫn đến không hoàn thành hoặc hiệu quả hoàn thành thấp đã làm ảnh hưởng đến uy tín của giới tư vấn nói chung và luật gia nói riêng.

· Nhiều công ty tư vấn hoặc luật sư cũng đặt nặng vai trò là người thực hiện thủ tục thông qua “chạy chọt” dựa vào các mối quan hệ hơn là thực hiện các quyền cho doanh nghiệp một cách nghiêm túc. Cách làm này có thể giúp cho tổ chức tư vấn hoặc luật sư có được thù lao, nhưng nó dẫn đến nhiều hệ lụy: một là làm xói mòn nền pháp chế, hai là làm xói mòn ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp và ba là, làm doanh nghiệp hiểu sai về các tổ chức tư vấn.

Như vậy, với 4 lý do gồm: (1) doanh nghiệp còn hạn chế kiến thức pháp lý; (2) hệ thống pháp luật phức tạp và chưa hoàn thiện; (3) hệ thống cơ quan nhà nước còn chưa chú trọng đến công tác pháp chế và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và (4) thực trạng các luật gia độc lập còn nhiều bất cập đã cho thấy rất cần những động thái cụ thể của nhà nước để hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và chủ trương này khi ra đời đã nhận được sự hoan nghênh mạnh mẽ từ xã hội nói chung và cộng đồng doanh nghiệp nói riêng.

2. Hệ thống quy định về hỗ trợ pháp lý dành cho doanh nghiệp hiện nay

Văn bản đánh dấu bước đột phá chính thức về cơ chế để hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là Nghị định số 66/2008/NĐ-CP của Chính phủ (sau đây gọi tắt và Nghị định 66). Nghị định này quy định hình thức, nội dung hỗ trợ pháp lý, điều kiện bảo đảm hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh (sau đây gọi chung là doanh nghiệp); trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Nói một cách không quá rằng, cơ chế hỗ trợ pháp lý theo Nghị định 66 là một “món quà” của nhà nước dành cho doanh nghiệp, nhưng cũng đồng thời dành cho các cơ quan nhà nước vì nếu các doanh nghiệp có nhận thức và thực hiện pháp luật tốt, thì hiệu quả quản lý nhà nước từ đó cũng sẽ tăng lên.

Nguyên tắc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định 66 được thực hiện đối với mọi doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu, hình thức tổ chức, quy mô kinh doanh và lĩnh vực hoạt động. Như vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng sẽ có cơ hội để thụ hưởng những lợi ích của chính sách này. Chính phủ cũng khuyến khích hoạt động hỗ trợ pháp lý được thực hiện bằng nhiều cách theo những hình thức phù hợp. Và một nội dung quan trọng là hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cần được thực hiện trên nguyên tắc có sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức đại diện của doanh nghiệp. Như vậy, vai trò của các hiệp hội, tổ chức xã hội của doanh nghiệp từ trung ương đến địa phương được xác định là hết sức quan trọng trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Ngược lại, Nghị định 66 cũng xác định trách nhiệm của doanh nghiệp là cần chủ động tìm hiểu pháp luật, bố trí cán bộ phụ trách công tác pháp chế doanh nghiệp hoặc thuê luật sư tư vấn để giúp doanh nghiệp thực thi pháp luật đồng thời phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức đại diện của doanh nghiệp trong việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý.

Hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được thực hiện bằng 2 phương thức là hỗ trợ chung và hỗ trợ cụ thể. Phương thức chung như xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật, ban hành các tài liệu hướng dẫn và tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp. Một nguyên tắc cần đảm là: Việc hỗ trợ là dành cho tất cả các doanh nghiệp chứ không phải dành riêng cho từng doanh nghiệp cụ thể. Ngoài phương thức hỗ trợ chung, Nghị định 66 còn quy định cách thức hỗ trợ cụ thể bao gồm giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp và tiếp nhận kiến nghị của doanh nghiệp để từ đó hoàn thiện pháp luật. Về phương thức giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp thì Nghị định 66 quy định doanh nghiệp có quyền yêu cầu các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh giải đáp pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực do mình quản lý có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy trách nhiệm trong giải đáp pháp luật trước tiên thuộc về chính quyền địa phương. Chỉ trong trường hợp việc giải đáp pháp luật của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp thì doanh nghiệp có quyền yêu cầu các Bộ có liên quan giải đáp, tức là cho phép các doanh nghiệp trực tiếp đề nghị cấp Bộ trả lời nếu thấy việc trả lời của địa phương là không đáng tin cậy. Tuy nhiên, quy định sau đây mới đáng chú ý, đó là: Việc giải đáp pháp luật của cơ quan nhà nước không áp dụng đối với các yêu cầu giải đáp pháp luật của doanh nghiệp về những trường hợp cụ thể liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo Nghị định 66, Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi cả nước. Thực hiện quy định này, Bộ Tư pháp đã xây dựng chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, ngày 05/5/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 585/QĐ-TTg  phê duyệt “Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2010 – 2014”. Chương trình được triển khai trên phạm vi toàn quốc, trong đó  tập trung triển khai điểm tại 07 địa phương được lựa chọn là: Cần Thơ, Đắk Lắk, Đồng Nai, Quảng Bình, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc và Hà Nội (2010 – 2011). Trên cơ sở đánh giá tổng kết hiệu quả hoạt động của Chương trình tại các địa phương nêu trên, Chương trình sẽ được tổ chức triển khai nhân rộng hoạt động tại các địa phương khác (2012 – 2014) và có định hướng các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đến năm 2020 để bảo đảm kết quả của Chương trình có tác động lâu dài. Chương trình được thực hiện thông quan 03 dự án cụ thể bao gồm Dự án “Hỗ trợ nâng cao chất lượng hoạt động thông tin pháp lý cho doanh nghiệp”, dự án “Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên một số hoạt động cụ thể” và dự án “Tăng cường năng lực cho các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp”.

Để thực hiện chương trình, Quyết định 585 đưa ra các giải pháp đồng bộ bao gồm giải pháp về chính sách, giải pháp về cơ chế và giải pháp về chuyên môn. Giải pháp về chính sách như khuyến khích các Luật sư, Luật gia, Tư vấn viên pháp luật và cộng tác viên tư vấn pháp luật tham gia hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại các địa bàn kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; hỗ trợ các tổ chức đại diện của doanh nghiệp để nâng cao năng lực thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thành viên; khuyến khích tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến sức mạnh của truyền thông khi huy động các phương tiện thông tin đại chúng như Đài truyền hình, truyền thanh, báo viết thực hiện tuyên truyền pháp luật kinh doanh cho doanh nghiệp. Giải pháp về cơ chế như cơ chế huy động nguồn lực hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo hướng khuyến khích sự đóng góp nguồn lực xã hội hóa; cơ chế tổ chức triển khai bằng cách thành lập Ban chỉ đạo liên ngành đồng thời phân công trách nhiệm thực hiện các hoạt động của Chương trình cho từng cơ quan cụ thể; và cơ chế phối hợp nhằm tăng cường phối hợp công tác giữa các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương và các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp và doanh nghiệp tham gia thực hiện chương trình. Giải pháp về chuyên môn là giải pháp quan trọng nhất, có tính quyền định về hiệu quả của các giải pháp trên như bồi dưỡng, cập nhật kiến thức pháp luật và quy trình kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; thông tin, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về pháp luật kinh doanh cho doanh nghiệp cũng như khuyến cáo các doanh nghiệp về những rủi ro pháp lý trong kinh doanh; kết hợp các phương thức truyền thống với các phương thức hiện đại trong việc bồi dưỡng, hỗ trợ pháp lý; đồng thời kết hợp việc xây dựng mô hình điểm để nhân rộng.

3. Thực trạng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp hiện nay

Thứ nhất, vấn đề hỗ trợ thông tin pháp lý đã được tăng cường nhưng vấn chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp

Theo đánh giá chung thì các Bộ, ngành trung ương và UBND, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ở địa phương đã có những chuyển biến trong hành động nhằm hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp như tăng cường hoàn thiện các trang thông tin điện tử cũng như các tài liệu để phổ biến pháp luật. Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều tổ chức đại diện cho doanh nghiệp thì khả năng tiếp cận thông tin pháp luật của doanh nghiệp hiện nay còn hạn chế. Theo khảo sát về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của VCCI trong vòng 6 năm qua được công bố chính thức, thì một trong những chỉ số có điểm số thấp nhất là chỉ số minh bạch. Năm 2010, có tới 78% số doanh nghiệp cho rằng phải có mối quan hệ với các cơ quan nhà nước để tiếp cận các thông tin kinh doanh nói chung và thông tin pháp luật nói riêng. Kết quả, năm 2011 vấn đề minh bạch thông tin pháp luật và tuyên truyền pháp luật ở 14 Bộ chỉ đạt ở mức trung bình so với nhu cầu của các doanh nghiệp.

Việc công khai các văn bản pháp luật cũng như các văn bản điều hành còn thực hiện chưa xứng tầm. Qua theo dõi Cổng thông tin điện tử của nhiều địa phương, người viết cho rằng trên các trang điện tử chính thức chỉ đăng những gì mà cơ quan đó muốn đăng, chứ không phải đăng những gì mà các doanh nghiệp cần. Nhìn chung vẫn còn thiếu nhiều văn bản và những văn bản đã có thì cũng khó tra cứu vì phần mềm quản trị website chạy rất chậm. Đặc biệt vô lý khi mà các trang web của Bộ thì thiếu rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản điều hành của chính Bộ mình, trong khi một số trang web kinh doanh thì lại có khá đầy đủ văn bản giải đáp của các Bộ, tất nhiên khi truy cập thì phải trả tiền. Hệ thống văn bản pháp luật hoặc văn bản điều hành được đăng tùy tiện, thiếu sự liền mạch, thiếu sắp xếp hợp lý, đôi khi còn lãng phí nguồn tài nguyên cũng như công sức của các cơ quan chức năng. Ví dụ: trang thông tin điện tử của Quốc hội cũng có đầy đủ các văn bản, nhưng trang thông tin của Chính phủ cũng có, nhiều văn bản của trung ương lại được địa phương đăng lại. Theo Nghị định 66 và Quyết định 585, Bộ Tư pháp là cơ quan chủ trì xây dựng và vận hành Trang thông tin điện tử hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhưng đến nay chưa có hình hài cụ thể.

Thứ hai, nội dung các chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nhận thức từ phía doanh nghiệp còn nhiều hạn chế.

Theo đánh giá của Bộ Tư pháp trong báo cáo tổng kết Chương trình năm 2011, các chương trình triển khai tuy mới ở giai đoạn đầu, nhưng đã đạt được những kết quả rõ rệt bởi sự hưởng ứng của các doanh nghiệp và sự phối hợp nhiệt tình của các cơ quan tham gia, đặc biệt ở địa phương. Nhiều cuộc Tọa đàm, hội thảo và các chương trình bồi dưỡng được thực hiện ở nhiều địa phương, góp phần phổ biến kiến thức pháp luật cho các đối tượng thụ hưởng chương trình. Trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng hội nhập, nên nhận thức về tầm quan trọng của kiến thức và kỹ năng kinh doanh nói chung và kiến thức pháp luật nói riêng của các doanh nghiệp đang từng bước được cải thiện. Qua thực tế tham gia đào tạo ở nhiều Hiệp hội cũng như các tổ chức đào tạo, người viết thấy được nhiều lãnh đạo doanh nghiệp, đặc biệt là những người trẻ tuổi, rất có tinh thần cầu thị và ý thức trau dồi các kiến thức và kỹ năng pháp lý. Hiện nay nhiều địa phương còn sẵn sàng sử dụng nguồn kinh phí thường xuyên của mình để thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp chứ không chỉ thụ động dựa vào Chương trình 585 của Bộ Tư pháp. Các hiệp hội doanh nghiệp, ngành nghề của địa phương, các doanh nghiệp lớn cũng rất sẵn lòng “mở hầu bao” để thực hiện các chương trình bồi dưỡng với các địa chỉ đào tạo có chất lượng nhưng với điều kiện các chương trình này được xây dựng dựa trên nhu cầu thật sự của bản thân địa phương, doanh nghiệp đó. Ví dụ: Trung tâm tư vấn pháp luật Trường ĐH Luật Hà Nội đã thực hiện nhiều chương trình với các ngân hàng lớn như Vietcombank, Agribank, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp Sơn La, Đà Nẵng, v.v..

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, các chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, đặc biệt là những chương trình sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước còn có những hạn chế chủ yếu sau:

Một là, nhiều chương trình được thực hiện chưa sát với đòi hỏi của thực tiễn và những điều doanh nghiệp cần. Các chương trình bồi dưỡng thường lệ thuộc vào việc ban hành các văn bản mới, mà thiếu đi tính gắn kết tổng thể với hệ thống quy định nên người nghe tương đối khó nắm bắt và áp dụng. Việc thiết kế nhiều chương trình đào tạo còn mang tính chủ quan từ phía các cơ quan chủ trì chương trình, chưa có những điều tra, nghiên cứu cụ thể nhu cầu của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nhiều đại diện doanh nghiệp khi tham gia tập huấn, bồi dưỡng chỉ “chăm chăm” hướng đến việc giải đáp những vướng mắc cụ thể của mình, mà không biết thấy được rất có thể những vấn đề được trình bày trong chương trình sẽ giúp mình tránh được những vướng mắc về sau này.

Hai là, qua thực tế tham gia công tác bồi dưỡng pháp lý cho doanh nghiệp người viết bài nhận thấy thực trạng là đa phần trường hợp là cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thì việc tham gia thường có tính chất chiếu lệ, do mệnh lệnh là chính chứ không xuất phát từ nhu cầu tự thân của các cán bộ quản lý doanh nghiệp. Do đó, việc phản hồi và tham gia vào quá trình học của họ là tương đối hạn chế. Điều đó cho thấy là đến thời điểm này, nhận thức của một bộ phận cán bộ quản lý doanh nghiệp về vai trò của kiến thức pháp lý cũng còn rất hạn chế. Khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh tuy có khá hơn đôi chút, nhưng việc tập hợp gặp nhiều khó khăn vì không có cơ chế gì ràng buộc. Ở đây có thể nhận thấy tính hai mặt của vấn đề “miễn phí” của chương trình. Một mặt, nó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng tiếp cận các chương trình hỗ trợ, nhưng mặt khác, nhiều cán bộ quản lý doanh nghiệp khi thấy “miễn phí” thì lại coi nhẹ, cho rằng nó không hữu ích hoặc chỉ tham gia cho vui khi có điều kiện.

Thứ ba, quy định và thực trạng giải đáp pháp luật còn nhiều bất cập

Giải đáp pháp luật là một ba nội dung trọng tâm trong công tác hỗ trợ pháp lý đối với doanh nghiệp. Trong quy định về những quyền lợi của doanh nghiệp theo Nghị định 66, có lẽ cần thiết nhất là “Doanh nghiệp có quyền yêu cầu các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giải đáp pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực do mình quản lý có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp". Tuy nhiên quyền này được đáp ứng đến đâu lại hoàn toàn phụ thuộc vào sự thiện chí của các cơ quan nhà nước. Thêm nữa, Nghị định 66 dường như đã “trói” doanh nghiệp khi doanh nghiệp chỉ được quyền gửi công văn hỏi cơ quan cấp Bộ khi đã có trả lời của cơ quan cấp tỉnh mà thấy là không đáp ứng được yêu cầu. Vậy nếu cơ quan cấp Tỉnh không trả lời thì doanh nghiệp biết hỏi ai, vì trường hợp này không được phép hỏi cơ quan cấp Bộ.

Trong việc giải đáp pháp luật, nếu doanh nghiệp có vấn đề cần giải đáp thì đó luôn luôn là vấn đề cụ thể, liên quan trực tiếp đến hoạt động hàng ngày của họ, do đó giải đáp thắc mắc về các vụ việc cụ thể mới là điều các doanh nghiệp cần và mới thực sự có ý nghĩa. Ngay cả trong các thông tư hướng dẫn cũng thường phải kèm theo các ví dụ cụ thể thì mới bảo đảm hiểu chính xác quy định. Tuy nhiên, những trường hợp này lại thuộc diện được loại trừ trách nhiệm giải đáp của các cơ quan nhà nước vì theo quy định tại Nghị định 66, đó là không giải đáp những trường hợp cụ thể. Điều cần nhất trong bối cảnh hiện nay của các doanh nghiệp, không chỉ là được tuyên truyền, đào tạo, phổ biến pháp luật mà là ở chỗ cần được tư vấn để giải quyết những vướng mắc thực tế, nhưng khi hỏi thì thường được giải đáp một cách chung chung, nên rất khó thực hiện, trong khi trên thực tế, vướng mắc cụ thể của doanh nghiệp này cũng là vướng mắc của nhiều doanh nghiệp khác. Nhiều trường hợp trên các website của Bộ, của UBND cấp tỉnh, của các cơ quan chuyên môn có phần giải đáp, nhưng chỉ là những câu hỏi giản đơn, thậm chí có mục giải đáp nhưng chẳng có câu hỏi lẫn câu trả lời.

4. Một số đề xuất nhằm tăng cường chất lượng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Ngoài một số kiến nghị đã nêu rải rác ở trên, người viết xin nhấn mạnh một số đề xuất sau đây:

· Thứ nhất, cần tuyên truyền để doanh nghiệp và bản thân cơ quan nhà nước không nên quan niệm chương trình hỗ trợ pháp lý là một món quà miễn phí từ nhà nước, như vậy mới đạt được hiệu quả.

– Đối với doanh nghiệp và các cán bộ quản lý của doanh nghiệp, cần nhận thức rõ đây là một chương trình lớn của nhà nước, và tốn kém, để dành cho việc nâng cao kiến thức và kỹ năng cho doanh nghiệp. Bởi vậy, với tư cách là người thụ hưởng chương trình, các doanh nghiệp cần được tuyên truyền để hiểu rằng, đây là một trong những cơ hội quan trọng để có được những kiến thức, kỹ năng có giá trị và hữu ích để áp dụng trong hoạt động kinh doanh của mình.

– Bằng những cách thức phù hợp, công tác xã hội hóa nguồn lực cần phải được đẩy mạnh. Với Chương trình 585 có kinh phí là 190 tỷ đồng, để “phủ sóng” pháp luật cho 65.000 doanh nghiệp thì mỗi doanh nghiệp chỉ được bình quân chưa đến 3 triệu đồng, đấy là chưa kể đến việc dành kinh phí cho các đối tượng khác thụ hưởng chương trình. Cần xác định có những gói hỗ trợ miễn phí, có những gói có phí trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc công bằng, không thiên vị và tư lợi từ phía cơ quan nhà nước.

· Thứ hai, cần xác định đội ngũ luật sư, công ty luật phải là đối tượng thụ hưởng chương trình.

Hiện nay theo cách hiểu của Nghị định 66 và Chương trình 585, các công ty luật và luật sư không được coi là đối tượng thụ hưởng trực tiếp. Nhiều chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp có các luật sư tham gia có tính chất dự thính, coi như tận dụng cơ hội mà thôi. Tuy nhiên, bồi dưỡng cho luật sư cần có chương trình riêng, vì trọng tâm không phải là ở cập nhật kiến thức, mà là kỹ năng tư vấn và hỗ trợ pháp lý. Hiện nay, Chương trình 585 chỉ quan tâm đến đội ngũ tư vấn viên pháp luật khu vực còn khó khăn, điều đó là chưa đủ. Vì chính những khu vực kinh tế phát triển mới có nhiều doanh nghiệp, và mới nảy sinh nhiều vướng mắc pháp lý. Trong khi đó, đội ngũ luật sư nhiều địa phương còn yếu và mỏng, rất cần được bồi dưỡng để tăng cường kiến thức, kỹ năng, từ đó hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp, như vậy mục đích của chương trình cũng thông qua đó mà đạt được.

· Thứ ba, cần bổ sung đối tượng thụ hưởng chương trình là cán bộ Tòa án. Khi doanh nghiệp có tranh chấp, thì các bên đều cần đến sự trợ giúp của Tòa để giải quyết đúng đắn vụ việc, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên. Cần tăng cường tập huấn pháp luật kinh doanh cho cả cán bộ Tòa án, đặc biệt là ở các Tòa án tại địa phương. Rất nhiều bản án xử sai đã gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp có nguyên nhân là sự nhận thức sai của cán bộ Tòa án dẫn đến áp dụng văn bản pháp luật sai. Ví dụ: vụ tuyên vô hiệu tài sản bảo đảm ngân hàng là quyền sử dụng đất của Tòa án Tỉnh Quảng Ngãi; xử sai quy định về thuê tài chính của Tòa án Đà Nẵng…

· Thứ tư, cần xây dựng các tiêu chí cụ thể để đánh giá hiệu quả các chương trình hỗ trợ pháp lý. Nếu là chương trình bồi dưỡng thì phải đạt những tiêu chí gì, việc công khai thông tin pháp lý của cơ quan nhà nước phải đáp ứng những chuẩn nào v.v.. Ví dụ đối với việc giải đáp thắc mắc của doanh nghiệp, cần lấy tiêu chí kịp thời, trả lời cụ thể rõ ràng để đánh giá. Người viết đề xuất là trên các trang thông tin điện tử của Bộ, UBND và cơ quan chuyên môn cấp tỉnh bên cạnh việc trả lời công văn yêu cầu giải đáp, còn cần phải cập nhật các công văn đề nghị giải đáp theo tuần khi có công văn được gửi đến, sau đó trả lời theo thời hạn. Việc đưa thông tin về những công văn được hỏi sẽ cho doanh nghiệp biết được công văn của mình đã được tiếp nhận và nghiên cứu, hạn chế tình trạng “ngâm” công văn hoặc lờ đi không trả lời, đồng thời để những doanh nghiệp khác nếu có vướng mắc tương tự sẽ theo dõi chờ câu giải đáp từ phía cơ quan nhà nước. Điều này hết sức quan trọng, để tránh tình trạng tiêu chí duy nhất để đánh giá hiệu quả chương trình là Chương trình đã giải ngân xong, còn mọi việc thì không có tiêu chí nào kiểm chứng cả.

· Thứ năm, trong khi một số tổ chức không có lực lượng chuyên gia cơ hữu lại được giao nhiệm vụ, thì Đề án 585 bỏ qua tất cả các cơ sở đào tạo Luật uy tín trong cả nước, trong đó có ĐH Luật Hà Nội, trong khi đội ngũ chuyên gia, luật gia của những đơn vị này là nhiều nhất, và thực tế chính họ đã cùng tham gia với tư cách là chuyên gia khi thực hiện cho các đơn vị khác.

Nguồn: Bài thuyết trình tại Hội thảo "Hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc: Thực trạng và giải pháp", UBND tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức, ngày 12/10/2012

Advertisements