NGÔ TRUNG DŨNG

PHÓ TỔNG THƯ KÝ HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM

Vài nét về Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

Hiệp hội các nước Đông Nam Á ( ASEAN) được thành lập từ năm 1967, hiện tại bao gồm 10 nước: Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Hiệp hội ASEAN dựa trên 03 trụ cột chính: an ninh chính trị; kinh tế; văn hóa xã hội. Kinh nghiệm thực tế từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997/1998, cộng thêm sự nổi lên của các nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ đã khiến các nước ASEAN quyết tâm tạo ra một cộng đồng hợp tác kinh tế mạnh mẽ, gắn kết hơn. Hội nghị thượng đỉnh Hiệp hội ASEAN năm 1997 tại Kualar Lumpur, Malaysia đã ra Tuyên bố về Tầm nhìn ASEAN 2020 với ý tưởng biến ASEAN thành một khu vực phát triển ổn định, hội nhập và cạnh tranh, thiết lập một cộng đồng kinh tế khu vực vào năm 2020. Vào năm 2003, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Bali đã quyết đinh đẩy nhanh quá trình hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN (Asean Economic Community- AEC), thay vì thời hạn 2020, các nước quyết định hình thành AEC vào cuối năm 2015. Năm 2007 thông qua Kế hoạch AEC 2007 đặt ra các thời hạn rõ ràng cụ thể cho các nước thành viên ASEAN thực hiện để hình thành AEC, với mục đích hợp nhất các quốc gia thành viên thành một cộng đồng kinh tế chung vào ngày 31/12/2015. Không giống như EU, ASEAN không tạo lập các tổ chức quản lý trung ương như Ủy ban Liên minh châu Âu EU hay Ngân hàng Trung ương châu Âu mà sẽ tập trung vào việc xóa bỏ các rào cản kinh doanh, thương mại.

Kế hoạch AEC bao gồm 04 trụ cột (04 nội dung then chốt): tạo lập một thị trường và cơ sở sản xuất chung thống nhất; tạo lập một khu vực kinh tế cạnh tranh cao;  thúc đẩy sự phát triển  kinh tế công bằng; xây dựng một khu vực hội nhập hoàn toàn với nền kinh tế toàn cầu. Tóm lại, AEC sẽ biến ASEAN thành một khu vực với sự tự do dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động có kỹ năng, và tự do dịch chuyển dòng vốn.

Để đánh giá sự tiến bộ của việc thực hiện kế hoạch AEC, Hiệp hội ASEAN xây dựng hệ thống đánh giá gọi là Bảng điểm AEC (AEC Scorecard ). Theo Bảng điểm AEC tháng 3/2012, tiến độ thực hiện Kế hoạch AEC của các nước ASEAN được đánh giá mức điểm trung bình là 68,2 điểm trên tổng điểm tối đa 100 điểm. Trong 4 trụ cột của Kế hoạch AEC, Trụ cột thứ 04 : Hội nhập với Kinh tế toàn cầu, đã đạt được nhiều tiến bộ nhất, đạt điểm 85,7. Nội dung then chốt I – Nền tảng một thị trường và sản xuất thống nhất, đạt điểm thấp nhất : 66,5 điểm. Mới đây nhất, Thủ tướng Malaysia Naajib Tun Razak tại lễ khai mạc Hội nghị Hiệp hội kinh tế Malaysia – Nhật Bản lần thứ 32 tại Tokyo ngày 13/12/2013 đã phát biểu khẳng định về tổng thể, 10 quốc gia thành viên ASEAN đã hoàn tất 80% khối lượng công việc trong lộ trình AEC (riêng Malaysia đã thực hiện xong 88% khối lượng công việc).

Liên quan đến việc tạo lập một thị trường và cơ sở sản xuất chung thống nhất, các quốc gia thành viên ASEAN đang tập trung thực hiện giảm và tiến tới xóa bỏ các rào cản để đảm bảo dòng chảy hàng hóa, dịch vụ và vốn trở nên tự do giữa các nước ASEAN. Đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính, các quốc gia thành viên đã cam kết tự do hóa mạnh mẽ, xóa bỏ các hạn chế trong các ngành ngân hàng, bảo hiểm và các thị trường vốn vào năm 2015. Điều này bao hàm  tự do hóa 4 phương thức cung cấp thương mại dịch vụ qua biên giới như được định nghĩa trong WTO – là cung cấp thương mại dịch vụ qua biên giới (phương thức 1), Tiêu dùng (sử dụng dịch vụ) ở nước ngoài (phương thức 2), Hiện diện thương mại (Phương thức 3), và Tự do dịch chuyển cá nhân (Phương thức 4) (1).

AEC đối với ngành bảo hiểm

Đối với bảo hiểm, dưới đây là danh mục những lĩnh vực được xác định sẽ tự do hóa vào năm 2015 và các quốc gia thành viên đã cam kết thực hiện. (*)

image

Hiệp hội ASEAN thừa nhận một thực tế là ngành tài chính của các nước thành viên đang ở những trình độ phát triển khác nhau, và chấp nhận tự do hóa theo công thức “ASEAN trừ X”  cho phép các nước thành viên đã sẵn sàng chuẩn bị sẽ hội nhập ngay trong khi một số nước khác sẽ tham gia sau. Điều này giúp các quốc gia thành viên thực hiện từng bước việc tự do hóa trong khi vẫn đảm bảo được sự phát triển của ngành tài chính và duy trì được ổn định kinh tế- xã hội.

Các mức độ cam kết đối với tự do hóa thị trường của các quốc gia thành viên ASEAN khác nhau đáng kể, do các mục tiêu của chính sách quốc gia và mức độ phát triển của ngành kinh tế và tài chính của mỗi nước thành viên. Ví dụ, Singapore đã đạt tới giai đoạn tự do hóa nhất trong số các nước ASEAN trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm. Tuy vậy, vẫn còn một số hạn chế ở phương thức 2 và 3 đối với trung gian bảo hiểm (môi giới, đại lý bảo hiểm). Ở Myanmar, có những hạn chế chặt chẽ đối với phương thức 1, 3 và 4 đối với tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia. Các điều chỉnh luật ở Myanmar hiện tại đã chấp thuận cho phép hiện diện thương mại và dịch chuyển con người tự nhiên (dịch chuyển cá nhân) ở Myanmar. Việt Nam cũng đã đạt được những bước tiến dài trong việc tự do hóa đối với phương thức 1, 2 và 3 trong lĩnh vực bảo hiểm và các dịch vụ phụ trợ liên quan, mặc dù vậy phương thức 4 vẫn còn bị hạn chế. Hiện tại quy định của nhiều nước ASEAN đã phù hợp với các tiêu chuẩn trong kế hoạch của AEC đối với sự tự do tham gia vốn cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài. Ví dụ như sở hữu nước ngoài trong công ty bảo hiểm có thể được phép lên tới 80% ở Indonesia và 70% ở Malaysia… Tuy nhiên thương mại qua biên giới đối với dịch vụ bảo hiểm vẫn phổ biến là bị hạn chế và người tiêu dùng vẫn gặp những rào cản đáng kể. Vì vậy vẫn còn nhiều việc để làm để khách hàng có thể mua các loại hình bảo hiểm xuyên suốt cả Đông Nam Á, như điều đang được thực hiện ở EU.

Hiện tại, điều các nước cần tập trung thực hiện nhất là việc hài hòa hóa các quy định quản lý. Ta biết rằng ngành bảo hiểm hoạt động trong một môi trường có sự quản lý chặt chẽ. Để đạt được mức độ hài hòa nhất định, hệ thống các quy định quản lý của mỗi quốc gia thành viên phải cùng bao hàm những yếu tố chung và đáp ứng được những tiêu chuẩn tối thiểu.

AEC – Cơ hội đối với các doanh nghiêp bảo hiểm Việt Nam

Khi nói đến cơ hội, cũng nên nói về những thách thức. Thách thức đối với các công ty bảo hiểm Việt Nam sau AEC 2015 đương nhiên là có, sẽ phát sinh sự cạnh tranh từ các công ty bảo hiểm khác trong ASEAN (mở công ty, chi nhánh tại Việt Nam hoặc cung cấp dịch vụ qua biên giới…). Nhớ lại thời kỳ trước khi Việt Nam gia nhập WTO, nhiều người cũng nói đến thách thức đối với các công ty bảo hiểm trong nước, khi chúng ta dần phải tuân thủ đầy đủ các cam kết. Nhưng thực tế chứng minh, sau khi gia nhập WTO, các công ty bảo hiểm trong nước vẫn tiếp tục phát triển vững chắc, bảo hiểm phi nhân thọ trong nước vẫn chiếm tỷ trọng chi phối trên thị trường. Và xét về tổng thể hoạt động của các doanh nghiệp (cả nhân thọ và phi nhân thọ) trên thị trường, ta thấy “được” nhiều hơn là “mất”. Với AEC, tôi tin tưởng cơ hội cũng sẽ nhiều hơn thách thức và các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cần tự tin nắm bắt những cơ hội này.

Tôi thấy có một số cơ hội chính sau cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam :

1.Cơ hội có được một thị trường rộng lớn hơn.

ASEAN có tổng GDP trên 2,7 nghìn tỷ USD, tăng trưởng trung bình 5%-6% hàng năm. Dân số trên 600 triệu người, với cơ cấu dân số tương đối trẻ. Thu nhập bình quân đầu người trên 4.500 USD/người/năm. Thu hút đầu tư nước ngoài năm 2012 đạt 110 tỷ USD. Tổng giá trị giao dịch thương mại 2,5 nghìn tỷ USD (*). AEC với việc tự do hóa dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ trong khu vực ASEAN sẽ khuyến khích các hoạt động kinh doanh  và đầu tư lớn hơn ở khu vực. Đầu tư nước ngoài trực tiếp gia tăng và hoạt động kinh tế ở khu vực đương nhiên sẽ mang lại việc gia tăng nhu cầu bảo hiểm ở Đông Nam Á. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhiều hơn ở các nước khác trong khu vực ASEAN … – đây là cơ hội tốt để các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam nắm bắt thời cơ mở rộng thị trường. Mặt khác, AEC tạo lập một khu vực thị trường và sản xuất thống nhất, dẫn đến kinh tế của nhiều nước trở nên phồn vinh hơn, dẫn đến tăng thu nhập và hình thành nên một lượng mới người tiêu dùng trung lưu với thu nhập cao – cũng là đối tượng khách hàng rất tiềm năng của các công ty bảo hiểm.

2. Cơ hội khi chỉ phải “thi đấu” với các đối thủ “ngang cơ” (hoặc thậm chí yếu hơn ở những nước có trình độ phát triển thấp hơn).

Phân tích đặc điểm thị trường bảo hiểm của một số nước trong khu vực cho thấy một đặc trưng là có nhiều các công ty bảo hiểm nhỏ, vốn ít, năng lực cạnh tranh yếu (ít ra là ở lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ). Vì thế, một số công ty bảo hiểm lớn của Việt nam có đủ khả năng mở rộng hoạt động, cạnh tranh bình đẳng được với các công ty bảo hiểm địa phương ở các nước khác, kể cả các nước có trình độ phát triển cao hơn ta một chút như Indonesia, Philipin, Thái Lan…

Một điểm lưu ý nữa là AEC mang lại cơ hội cho các công ty BH trong khu vực, không mang lại cơ hội cho các tập đoàn, công ty BH lớn trên thế giới. Trên thực tế, ngoại trừ bảo hiểm nhân thọ, một số công ty BH phi nhân thọ lớn trên thế giới sau một thời gian thâm nhập thị trường các nước nhỏ ở khu vực Đông Nam Á  thấy thị trường quá nhỏ bé, hoạt động không hiệu quả nên chấm dứt hoạt động hoặc không tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động. Đây cũng là cơ hội cho các công ty BH lớn của Việt Nam khi không gặp sự cạnh tranh mạnh của các tập đoàn lớn nếu đầu tư sang các nước nhỏ trong khu vực.

3. Cơ hôi do có hiểu biết tốt hơn và sự tương đồng ở một số thị trường mục tiêu

Ở các nước như Lào, Myanmar, Campuchia, nơi có nền chính trị và văn hóa kinh doanh bảo hiểm (như bảo hiểm phi nhân thọ) tương đối tương đồng với Việt Nam, các nước láng giềng như Lào, Campuchia còn có các mối quan hệ truyền thống với Việt Nam, các công ty Việt Nam sẽ có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn các công ty từ các nước ASEAN khác, ít nhất là trong giai đoạn đầu hoạt động. Thị trường bảo hiểm ở những nước này còn tương đối sơ khai, còn rất nhiều tiềm năng chưa được khai thác hết, chắc chắn sẽ là một trong những thị trường mục tiêu tiềm năng mà công ty bảo hiểm Việt Nam muốn mở rộng hoạt động, không nên bỏ qua.

Cách thức mở rộng hoạt động sang các nước ASEAN

Để mở rộng kinh doanh sang các thị trường khác, có thể đi tuần tự từng bước, cũng có thể lựa chọn hướng đi ngắn hơn. Dưới đây xin trình bày một số phương án có thể xem xét cân nhắc lựa chọn phương án tối ưu trong thời điểm này.

1.Thành lập văn phòng đại diện

Thâm nhập một thị trường mới thường có một cách thức truyền thống là đầu tiên xin phép mở văn phòng đại diện, nghiên cứu thị trường, hệ thống pháp luật, xây dựng quan hệ… trước rồi ra quyết định chính xác nên hay không nên đầu tư thành lập công ty, chi nhánh tại nước đó.

Hiện tại, mới chỉ có Indonesia và Philipin cam kết mở cửa tự do hóa cả bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tái bảo hiểm… các nước còn lại chưa cam kết tự do hóa bảo hiểm nhân thọ vào năm 2015. Tuy nhiên, theo lộ trình tất cả các thị trường ASEAN cũng sẽ phải thực hiện cam kết tự do hóa toàn diện tất cả các lĩnh vực bảo hiểm trong thời gian sớm. Việc lựa chọn một thị trường mục tiêu, xin phép mở văn phòng đại diện để nghiên cứu tìm hiểu thị trường và thực hiện các công việc chuẩn bị là việc đã cần phải nghĩ đến tại thời điểm này nếu doanh nghiệp nào có hướng mở rộng hoạt động sang các nước trong khu vực.

2.Mua lại cổ phần của các công ty BH địa phương

Đây là một hướng đi tắt, cho phép đẩy nhanh quá trình mở rộng hoạt động sang thị trường bạn. Như đã phân tích ở trên, nhiều thị trường khu vực có nhiều công ty BH nhỏ, vốn ít. Hiện tại, cơ quan quản lý bảo hiểm ở một số nước đã nâng mức quy định về vốn để nâng cao năng lực cạnh tranh và phù hợp với các cam kết ASEAN (ví dụ như các nước Indonesia, Phillipin, với những mốc thời hạn bắt buộc các doanh nghiệp BH phải tăng vốn rất cụ thể vào 31/12/2014, 31/12/2016… – xem thêm Bảng So sánh các quy định về thuế, biên khả năng thanh toán, vốn góp của các nước ASEAN). Điều này khuyến khích việc sáp nhập các công ty bảo hiểm nhỏ, hoặc tìm kiếm nguồn đầu tư từ các đối tác trong nước và nước ngoài. Ở một số nước thời điểm hiện tại dường như chưa có nguồn vốn trong nước đủ và thích hợp để thực hiện tăng vốn của công ty bảo hiểm, khiến việc tìm kiếm nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài cũng là một hướng được các công ty BH xem xét. Đây sẽ là cơ hội cho các đối tác nước ngoài tìm kiếm cơ hội hợp tác. Các công ty BH Việt Nam nếu muốn đầu tư vào một số thị trường, nên nghiên cứu tìm hiểu những công ty bảo hiểm địa phương đang có nhu cầu tăng vốn. Những công ty đang có thương hiệu tốt, mạng lưới rộng ở nước sở tại có thể là lựa chọn tốt để đầu tư vì khi đó chúng ta không phải xây dựng từ đầu bộ máy kinh doanh, hệ thống bán hàng vốn thường chiếm nhiều thời gian và công sức. Nên cân nhắc việc tham gia cổ phần tại công ty BH địa phương với định hướng tăng dần được tỷ lệ sở hữu, dần đến việc chiếm tỷ lệ chi phối giúp thực hiện việc quản lý, điều hành để thực hiện phương án kinh doanh theo đúng định hướng, chiến lược của mình chứ không chỉ thuần túy đầu tư vốn với tỷ lệ nhỏ vào một công ty. Công ty tái bảo hiểm cũng có thể nghiên cứu việc đầu tư vào những công ty bảo hiểm địa phương đang mạnh về BH tài sản kỹ thuật, hàng hải…. tại một số nước để làm cầu nối thâm nhập dần dần vào thị trường nước đó. Tại thời điểm này, một số nước khu vực đã gần như không khống chế sở hữu nước ngoài tại công ty bảo hiểm như đã trình bày ở trên, và đây là một thuận lợi.

3.Thành lập công ty 100% vốn hoặc liên kết thành lập công ty liên doanh

Hiện tại đã có một số công ty bảo hiểm Việt Nam như BIC, PTI thành lập công ty liên doanh hoặc 100% vốn tại Lào và Campuchia (Lào có công ty bảo hiểm Lào Việt (LVI) liên doanh giữa BIC với Ngân hàng liên doanh Lào Việt và Ngân hàng ngoại thương Lào, công ty bảo hiểm Lane Xang giữa PTI và Ngân hàng phát triển Lào; Campuchia có công ty bảo hiểm Cambodia- Việt Nam (CVI) có sự tham gia góp vốn của ngân hàng đầu tư phát triển Việt nam (BIDV) và công ty đầu tư và phát triển Campuchia (IDCC). Nếu thành lập công ty liên doanh, về lâu dài cũng nên tăng tỷ lệ sở hữu chi phối hoặc chuyển thành công ty 100% sở hữu để thực hiện được đúng định hướng kinh doanh và điều hành 100% hoạt động, vì mô hình công ty liên doanh bảo hiểm dường như là một mô hình kinh doanh không thành công trong dài hạn ở khu vực Đông Nam Á.

Để chinh phục một thị trường mới, đương nhiên cần có nhiều sự chuẩn bị. Một trong những sự chuẩn bị quan trọng nhất là nhân sự. Vấn đề lớn nhất là ngoại ngữ và hiểu biết về văn hóa nước sở tại. Vì vậy, nếu doanh nghiệp nào xác định chiến lược mở rộng hoạt động sang các nước trong khu vực, ngay từ thời điểm này cũng đã nên nghĩ đến việc chuẩn bị nhân sự vì việc đào tạo ngôn ngữ, văn hóa không phải việc ngày một ngày hai. Ngoài tiếng Anh là ngôn ngữ kinh doanh quốc tế thông dụng, ngôn ngữ và văn hóa bản địa cũng rất quan trọng, việc  đào tạo các kiến thức này cho những cán bộ được lựa chọn  cho công cuộc chinh phục thị trường mới nếu làm được bài bản và cẩn thận chắc chắn sẽ thu được thành quả tốt hơn.

                        ***

Hội nhập toàn diện của khu vực sẽ tạo tiền đề rất thuận lợi cho sự xuất hiện của những “Ông lớn bảo hiểm” trong khu vực, những công ty bảo hiểm quy mô bao trùm khu vực. Đối với ngành ngân hàng, chúng ta đã chứng kiến những ngân hàng của các nước trong khu vực như DBS của Singapore, Maybank của Malaysia đã tích cực bành trướng hoạt động ra khắp khu vực Đông Nam Á. Hiện tại chưa có một công ty bảo hiểm nào trong khu vực Đông Nam Á làm được điều này.

Tôi mơ giấc mơ một ngày nào đó Logo, bảng hiệu của những Bảo Việt, PVI, BIC…và các công ty bảo hiểm Việt Nam khác hiên ngang lấp lánh trên nóc các cao ốc của những thành phố lớn ở Myanmar, Lào, Campuchia và dần dần cả khu vực ASEAN. Tôi tin rằng Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, với chức năng nhiệm vụ và khả năng của mình, sẽ cố gắng hết sức hợp tác chặt chẽ cùng các doanh nghiệp bảo hiểm đón nhận những thách thức, cơ hội của AEC 2015 và trở thành một trong những cầu nối giúp doanh nghiệp vươn ra khu vực./.

(1) 04 phương thức cung cấp thương mại trong lĩnh vực dịch vụ theo định nghĩa của WTO là: Phương thức 1 : Thương mại qua biên giới (là việc cung cấp dịch vụ từ nước này sang nước khác), ví dụ như nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp dịch vụ quản lý danh mục tài sản hay dịch vụ môi giới qua biên giới; Phương thức 2: Tiêu dùng ở nước ngoài (cung cấp dịch vụ của một nước cho khách hàng của bất kỳ khách hàng nào ở nước khác), ví dụ một người đi ra nước ngoài để chữa bệnh; Phương thức 3: Hiện diện thương mại (bao hàm các dịch vụ được nhà cung cấp dịch vụ ở một nước thực hiện ở một nước khác), ví dụ một chi nhánh thuộc sở hữu của một ngân hàng nước ngoài cung cấp dịch vụ ở nước sở tại ; Phương thức 4: Hiện diện con người tự nhiên (cá nhân) (bao hàm các dịch vụ do một nhà cung cấp dịch vụ ở một nước thông qua sự hiện diện của một con người tự nhiên, tức là một cá nhân (khác với tổ chức, cơ quan) ở lãnh thổ của nước khác), ví dụ một người đi làm việc ở nước ngoài.

(*) Các số liệu sử dụng trong bài viết tập hợp từ các nguồn báo cáo của các nước tại Hội nghị Hội đồng bảo hiểm ASEAN lần thứ 39 ngày 4-6/12/2013 (trừ Lào và Myanmar không có báo cáo), trên mạng internet và tạp chí bảo hiểm châu Á số tháng 11/2013.

Nguồn: Trang Điện tử Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, ngày 27/2/2014

http://www.avi.org.vn/News/Item/1925/226/vi-VN/Default.aspx

Advertisements