You are currently browsing the daily archive for 11/02/2014.

QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 130/2006/NĐ-CP NGÀY 08/11/2006 VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 46/2012/NĐ-CP NGÀY 22/5/2012 QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM CHÁY, NỔ BẮT BUỘC

———-

Căn cứ Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 4 tháng 4 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy;

Căn cứ Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 8 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc;

Căn cứ Nghị định số 46/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006 quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc;

Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an;

Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006 và Nghị định số 46/2012/NĐ-CP ngày 22/5/2012 quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc.

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này hướng dẫn việc thực hiện chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc đối với tài sản của cơ sở phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc; trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc trích lập kinh phí cho các hoạt động phòng cháy, chữa cháy (sau đây viết tắt là PCCC) và cơ chế quản lý cấp phát, thanh toán, quyết toán nguồn kinh phí này; trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ quy định tại Phụ lục 1 Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy (sau đây gọi là Nghị định số 35/2003/NĐ-CP), Khoản 7 Điều 1 Nghị định số 46/2012/NĐ-CP ngày 22/5/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy và Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006 quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc (sau đây gọi là Nghị định số 46/2012/NĐ-CP), doanh nghiệp bảo hiểm được phép kinh doanh bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc và cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đọc tiếp »

Advertisements

LÂM HỒNG CƯỜNG

Kiểm soát chi ngân sách là tổng thể các hoạt động của cá nhân và tổ chức có trách nhiệm nhằm bảo đảm cho các khoản chi ngân sách thực hiện đúng quy định, đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm. Luật NSNN hiện hành quy định khi có nhu cầu chi, Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách gởi chứng từ thanh toán (đồng thời là lệnh chuẩn chi) tới KBNN cùng với hồ sơ thanh toán, KBNN kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật và thực hiện chi ngân sách khi có đủ các điều kiện quy định của Luật theo phương thức thanh toán trực tiếp. Cùng với việc triển khai hoạt động kiểm soát chi của hệ thống KBNN, công tác quản lý chi ngân sách có nhiều chuyển biến tích cực và quan trọng. Tuy nhiên để đạt tới mục tiêu minh bạch, hiệu quả, tiết kiệm chúng ta còn phải cố gắng nhiều. Từ thực tế công tác, xin góp một vài ý kiến trong tổ chức công tác kiểm soát chi.

Kiểm soát chi ở đơn vị sử dụng ngân sách

Hoạt động kiểm soát chi ngân sách trước đây là hoạt động kiểm soát các chứng từ chi tiêu trong công tác kế toán được nâng cấp, chuẩn hoá và từng bước hoàn thiện trong quá trình hình thành và phát triển của Hệ thống KBNN. Việc kiểm soát chi được thực hiện cả trước, trong và sau quá trình chi tiêu, thực hiện tại đơn vị sử dụng ngân sách và tại cơ quan kiểm soát chi. Ngoại trừ các khoản chi sử dụng hình thức cấp phát là Lệnh chi tiền do cơ quan tài chính kiểm soát , các khoản chi còn lại do KBNN kiểm soát chi.

Trong một thời gian dài và ngay cả hiện nay vẫn còn ở đâu đó, thuật ngữ “kiểm soát chi qua KBNN” bị hiểu nhầm là chỉ có KBNN thực hiện kiểm soát chi ngân sách và do đó đúng sai thất thoát thì KBNN phải chịu trách nhiệm. Rất nhiều người kể cả các cơ quan nội chính ở địa phương đã viện dẫn điều 56 của Luật NSNN hiện hành để lý giải cho lập luận này. Trong thực tế vẫn còn nhiều đơn vị sử dụng ngân sách ít kiểm soát, kiểm soát một cách hình thức thậm chí không biết kiểm soát các khoản chi ngân sách tại đơn vị mình.

Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN THÀNH ĐÔ

Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính)

Các nguồn vốn vay trong và ngoài nước là nguồn tài chính quan trọng bổ sung cho đầu tư phát triển, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do đó, đối với Việt Nam, việc quản lý nợ trong trung và dài hạn một cách hiệu quả là hết sức quan trọng.

Theo quy định của Luật Quản lý nợ công, nợ công bao gồm: nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Tính đến ngày 31/12/2012, tổng số nợ công của Việt Nam là 1.642.916 tỷ đồng, bằng 55,7% GDP năm 2012.
Cụ thể, tổng số nợ Chính phủ là 1.279.994 tỷ đồng, bằng 43,3% GDP; trong đó nợ nước ngoài 726.314 tỷ đồng (chiếm khoảng 57%), nợ trong nước 553.680 tỷ đồng (chiếm khoảng 43%). Đối với vay về cho vay lại, tính đến ngày 31/12/2012, tổng dư nợ các khoản cho vay lại là 10,84 tỷ USD, tương đương 225,85 nghìn tỷ đồng (quy đổi theo tỷ giá hạch toán ngân sách tháng 12/2012). Nợ được Chính phủ bảo lãnh tính đến ngày 31/12/2012 là 342.036 tỷ đồng, trong đó nợ bảo lãnh vay nước ngoài là 150.586 tỷ đồng (chiếm 44%), nợ bảo lãnh vay trong nước là 191.450 tỷ đồng (chiếm 56%).

Trong đó, bảo lãnh vay nước ngoài tính đến ngày 31/12/2012, đã có 96 dự án vay nước ngoài được cấp bảo lãnh Chính phủ thuộc các lĩnh vực điện (47 dự án), hàng không (6 dự án), xi măng (17 dự án), dầu khí (7 dự án), giấy và bột giấy (5 dự án) và các lĩnh vực khác với giá 12,97 tỷ USD, các dự án đã giải ngân là 9,88 tỷ USD và số dư nợ gốc là 7,24 tỷ USD (tương đương 150.586 tỷ đồng); Bảo lãnh vay trong nước tập trung vào 2 ngân hàng chính sách (Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam), Tổng Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) và một số dự án trọng điểm quốc gia.

Đọc tiếp »

ThS. VĨNH SANG

Mặc dù chưa có khuôn khổ pháp lý (Nghị định của Chính phủ) về nghiệp vụ quản lý ngân quỹ nhưng để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng công tác thanh toán, cuối tháng 7/2013 vừa qua, Tổng giám đốc KBNN đã ban hành “Quy trình nghiệp vụ thí điểm thanh toán song phương điện tử (TTĐTSP) giữa KBNN và Ngân hàng Thương mại” theo Quyết định 699/QĐ-KBNN. Việc thực hiện Quyết định này được xem như là bước khởi đầu của lộ trình hình thành tài khoản thanh toán tập trung của KBNN (gọi tắt là TSA), tạo điều kiện thực hiện chức năng quản lý ngân quỹ theo chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020.

Theo kế hoạch, nghiệp vụ TTĐTSP được triển khai theo từng giai đoạn tương ứng với từng hệ thống NHTM (Vietinbank, BIDV, Agribank, Vietcombank) và không cùng lúc với thời điểm triển khai mở rộng nghiệp vụ thanh toán điện tử liên ngân hàng (TTĐTLNH). Với kế hoạch như vậy thì trong từng giai đoạn triển khai sẽ đồng thời tồn tại hai hệ thống thanh toán cũ (phân tán) và mới (tập trung) và sẽ làm cho đường đi của dòng tiền vốn KBNN trở nên phức tạp.

Một cơ chế quản lý và điều hành vốn KBNN cụ thể trong từng giai đoạn triển khai nghiệp vụ TTĐTSP là rất cần thiết để điều chỉnh dòng tiền vốn KBNN hoạt động thông thoáng, phục vụ tốt nhất cho các giao dịch thu, chi qua các đơn vị KBNN.

Thực trạng công tác thanh toán giữa KBNN cấp huyện và chi nhánh NHTM hiện nay

Đọc tiếp »

Trong những ngày đầu năm 2014, dư luận trong nước quan tâm đến một loại tiền điện tử mới, gọi là Bitcoin, một loại tiền tệ kỹ thuật số phân cấp dựa trên một mã nguồn mở, giao thức thanh toán Internet ngang hàng, do Satoshi Nakamoto khởi xướng từ năm 2008, và đồng tiền này bắt đầu được sử dụng từ năm 2009.

    Cần thận trọng với hệ thống tiền tệ Bitcoin

Khác với các loại tiền tệ khác, hệ thống tiền tệ Bitcoin vận hành dựa trên mạng ngang hàng thuộc Internet, mà không cần sự quản lý của Ngân hàng Trung ương.

Bitcoin không phải là đồng tiền điện tử đầu tiên, Linden của Second Life hay Vcoin của VTC đã ra đời trước Bitcoin khá lâu. Tuy nhiên, giá Bitcoin biến động rất nhanh trong những tháng gần đây đã thu hút sự quan tâm trên khắp thế giới. Trong năm 2013, giá trị của Bitcoin tăng nhanh với tốc độ phi mã. Từ 13 USD/Bitcoin hồi tháng 1/2013, giá cả của một Bitcoin đã tăng lên 1.100 USD vào cuối năm, có thời điểm lên tới 1.216 USD.

Về bản chất, Bitcoin lấy ý tưởng từ hình thức chia sẻ thư mục (file) ngang hàng thông qua Bittorrent. Theo đó, người tham gia tự tạo ra tiền và tự trao đổi với nhau mà không cần sự can thiệp của cơ quan Nhà nước. Chi phí thanh toán bằng Bitcoin rẻ hơn nhiều so với thanh toán qua thẻ tín dụng và chuyển khoản, nên rất hấp dẫn những người muốn gửi tiền số lượng lớn. Người tham gia hệ thống tiền ảo Bitcoin cũng không phải nộp thuế giao dịch, do Bitcoin là đồng tiền do những người tham gia tạo nên.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Hai 2014
H B T N S B C
« Th1   Th3 »
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
2425262728  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 302 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements