ThS NGUYỄN THANH TÚ VÀ NGUYẾN THỊ HỒNG NHUNG

ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trong một thời gian dài chúng ta đã quá quen thuộc với việc các TCTD công bố các khoản lãi khủng, với những khoản lợi nhuận khổng lồ từ hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, thời gian gần đây, những con số mà các TCTD đưa ra lại vẽ lên một bức tranh tương phản với những điều chính các tổ chức này thể hiện trước đây: tăng trưởng tín dụng thấp; tình trạng nợ xấu gia tăng và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ; con số sợ xấu được ghi nhận lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng. Rất nhiều câu hỏi được đặt ra về thực trạng nợ xấu của các TCTD, đâu là nguyên nhân và có những giải pháp nào để giải quyết?

1. Thực trạng nợ xấu của các TCTD ở Việt Nam

Nợ xấu được hiểu là một món nợ phải thu khó đòi[1]. Việc xác định tính chất “khó đòi” của nợ xấu được xác định khác nhau ở mỗi quốc gia. Phòng Thống kê – Liên Hiệp Quốc xác định , “một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.

Tại Việt Nam, các khoản nợ của các TCTD được phân loại thành 5 nhóm theo thứ tự từ 1 đến 5 và từ nhóm 3 trở lên được xác định là nhóm “dưới tiêu chuẩn” tương đương với việc thể hiện tính chất “khó đòi”. Cụ thể, theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng của TCTD được sửa đổi bổ sung bởi Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN, nợ từ nhóm 3 gồm các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. Đồng thời tại Điều 7 của Quyết định nói trên cũng quy định các ngân hàng thương mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.   Như vậy nợ xấu theo pháp luật Việt Nam xác định theo 2 phương pháp: (i) phương pháp định lượng dựa vào tính chất quá hạn của khoản nợ và (ii) phương pháp định tính căn cứ theo khả năng trả nợ đáng lo ngại.

Xét về bản chất, nợ xấu ngân hàng là do khách hàng vay vốn sử dụng vốn vay không hiệu quả, nó thường phát sinh sau một chu kỳ vay vốn, thậm chí sau một thời gian dài. Do đó nợ xấu là vấn đề tồn tại từ lâu trong hoạt động của các TCTD. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây nợ xấu của hệ thống các TCTD đang có chiều hướng gia tăng nhanh. Trong giai đoạn 2008-2011, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân 26,56% nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu bình quân 51%. Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng từ năm 2011 chậm lại đáng kể, đặc biệt là 5 tháng đầu năm 2012 dư nợ tín dụng không tăng nhưng nợ xấu tăng tới 45,5% do tình hình kinh doanh và tài chính của các doanh nghiệp suy giảm mạnh.[2] Và theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tính đến tháng 9 năm 2012 tỷ lệ ngành ngân hàng là 4,9 %[3]. Tuy nhiên, theo báo cáo của Ủy ban Kinh tế về đánh giá tình hình kinh tế xã hội 2012 – 2013 ra ngày 19/10/2012, tỷ lệ nợ xấu theo cơ quan thanh tra của NHNN đưa ra tại cuối quý 2 năm 2012 là 8,82%, cao hơn con số 8,6% vào cuối quý 1 năm 2012 và cao hơn nhiều con số báo cáo từ các TCTD (4,49%) tại cùng thời điểm. Trong khi đó, nợ xấu của nhiều ngân hàng vẫn tiếp tục tăng lên trong quý 3 (Bảng 1)[4]

clip_image001clip_image003

Bảng 1. Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành (Nguồn: SBV.VCBS Tổng hợp)

Những con số ngắn gọn kể trên đã cho thấy một phần thực trạng nợ xấu của các TCTD nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung ở Việt Nam thời gian qua. Trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn kéo dài, sự gia tăng “nợ xấu” tức gia tăng rủi ro trong hoạt động có tính nhạy cảm cảm cao như hoạt động ngân hàng là một vấn đề thực sự đáng lo ngại.

2. Nguyên nhân của thực trạng nợ xấu ở Việt Nam

Thứ nhất, do môi trường kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tình hình kinh doanh và tài chính của các doanh nghiệp suy giảm.

Kể từ cuối năm 2008, nền kinh tế chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sau đó là vấn đề lạm phát cao. Những tác động tiêu cực này khiến cho Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tổng cầu chậm lại, trong 6 tháng đầu năm 2012, tăng trưởng kinh tế ước chỉ đạt 4,38% so với cùng kỳ năm 2011[5]. Các chỉ số tiêu dùng (Gồm cả chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp và chỉ số tiêu dùng cá nhân) tăng chậm so với cùng kỳ các năm trước. Trong khi đó, tại các doanh nghiệp chỉ số tồn kho tăng mạnh và ở mức cao so với cùng kỳ các năm trước, tại thời điểm 01/6/2012, chỉ số hàng tồn kho của ngành công nghiệp chế biến tăng 26% so với cùng kỳ năm 2011. Hàng tồn kho nhiều dẫn đến đọng vốn trong sản xuất kinh doanh và làm tăng nợ xấu của các TCTD. Bên cạnh đó, rất nhiều doanh nghiệp hiện nay có năng lực tài chính yếu, chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng, vốn chủ sở hữu nhỏ và khả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường kinh doanh hạn chế. Vì vậy, khi môi trường kinh doanh xấu đi, chính sách kinh tế vĩ mô thắt chặt, lãi suất tăng, đồng thời tiêu thụ hàng hoá khó khăn đã ảnh hưởng lớn đến điều kiện tài chính, kết quả kinh doanh và khả năng trả nợ vay ngân hàng của doanh nghiệp. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số lượng doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động tăng nhanh: Năm 2011 có 79.014 doanh nghiệp và tính từ đầu năm đến ngày 21/6/2012 có khoảng 25.250 doanh nghiệp, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2011 (23.358 doanh nghiệp bị phá sản trong 6 tháng đầu năm 2011).[6]

Thứ hai, do năng lực quản trị rủi ro tại mỗi ngân hàng còn kém. Hiện nay, việc xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng của TCTD mang tính chất chủ quan. Các ngân hàng chưa xây dựng được thước đo lượng hóa rủi ro nên chưa tính toán chính xác được yếu tố này dẫn đến quyết định cho vay, phân loại nợ chưa chính xác. Những khoản rủi ro to được làm bé đi, khoản vay bé thì làm cho nó to lên. Bên cạnh đó, về phía các doanh nghiệp – đối tượng giải ngân vốn quan trọng của các TCTD, theo nghiên cứu hiện có đến 90% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, không ít doanh nghiệp có báo cáo tài chính không chính xác, trong khi phần lớn các báo cáo tài chính này lại không được kiểm toán. Ngay cả đối với những doanh nghiệp lớn được kiểm toán thì sự chậm chễ trong việc công bố báo cáo cũng như chất lượng kiểm toán cũng gây không ít khó khăn cho ngân hàng.

Thứ ba, do đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ ngân hàng và khách hàng kém dẫn đến tình trạng thông đồng rút ruột ngân hàng. Ngân hàng là ngành kinh doanh đặc thù, cần dựa trên sự tin cậy và mức độ tín nhiệm thì đạo đức phải được đặt lên hàng đầu và ở khía cạnh nào đó còn mang tính bắt buộc. Thực tế cho thấy, nhiều cán bộ ngân hàng đã thông đồng rút ruột với khách hàng, cho vay khống dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Chính vì vậy đã có chi nhánh phải xử lý hàng chục nhân viên do cấu kết với nhau rút ruột ngân hàng. Tuy nhiên hiện chưa có tính toán, trong tỷ lệ nợ xấu có bao nhiêu xuất phát từ đạo đức ngân hàng. Ngoài ra, nợ xấu còn nằm ở dạng “chuyển vốn cho vay thành vốn góp.” Khoản nợ này không chỉ “rất xấu” mà còn nguy hiểm ở chỗ đôi khi chỉ tồn tại trên sổ sách của con nợ và chủ nợ.

Thứ tư, do tình trạng sở hữu chéo. Một nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright công bố mới đây về sở hữu chéo giữa Ngân hàng với doanh nghiệp (DN) tại Việt Nam cho thấy hệ thống Ngân hàng đã hình thành một mạng lưới sở hữu chéo và cho vay theo quan hệ rất phức tạp, nhằm mục đích thâu tóm ngân hàng, thu xếp vốn cho những dự án đầu tư chưa minh bạch. Theo đó, rất nhiều công ty lớn, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế Nhà nước và các tập đoàn cổ phần, dù không thuộc lĩnh vực tài chính nhưng hiện đang đầu tư dài hạn với vai trò nhà sáng lập, nhà đầu tư chiến lược trong các Ngân hàng thương mại. Chưa kể, các Ngân hàng cũng sở hữu cổ phần lẫn nhau, cổ đông tại các Ngân hàng thương mại là các công ty quản lý quỹ đầu tư vốn vào những Ngân hàng khác có tiềm năng. Hiện không ít tập đoàn, tổng công ty Nhà nước và tư nhân cũng đang đầu tư, sở hữu chéo khi họ có trong tay khá nhiều Ngân hàng. Theo Ủy ban Kinh tế Quốc hội, đến nay, gần 40 Doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân sở hữu trên 5% tại các Ngân hàng Thương mại cổ phần và các doanh nghiệp này lại sở hữu các công ty đầu tư tài chính[7]. Tình trạng sở hữu chéo này có thể dẫn tới rất nhiều hệ lụy, một trong số đó là làm tăng tỷ lệ xấu của các ngân hàng. Bởi lẽ, việc sở hữu chéo sẽ dẫn đến tình trạng các Ngân hàng sẽ tạo điều kiện để cho các doanh nghiệp sở hữu ngân hàng này có thể dễ dàng vay được vốn từ ngân hàng kia, hoặc dễ dàng cho các công ty con của các doanh nghiệp có vốn sở hữu tại ngân hàng vay vốn, thậm chí khi một tổ chức tín dụng lớn chiếm cổ phần chi phối ngân hàng khác và biến ngân hàng này thành "sân sau” của mình, họ có thể buộc ngân hàng bị chi phối cấp tín dụng cho những dự án không an toàn hoặc cho doanh nghiệp có quan hệ thân thiết. Việc cho vay dễ dàng, thiếu kiểm soát cộng với việc thẩm định vốn vay thiếu cẩn trọng tất yếu sẽ dẫn đến nợ xấu. Do đó, tình trạng sở hữu chéo được xem là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu tăng cao trong thời gian gần đây.

Thứ năm, quy định pháp luật nhằm hạn chế, giải quyết tình trạng nợ xấu đã có nhưng chưa minh bạch, chưa hợp lý. Có thể thấy rằng, pháp luật hiện hành đã có những khung pháp lý cơ bản trong việc hạn chế cũng như giải quyết nợ xấu của các TCTD như: quy định về phân loại nợ; quy định về trích lập dự phòng rủi ro; quy định về xử lý tài sản đảm bảo nợ; quy định về quyền khởi kiện yêu cầu các tổ chức cá nhân hoàn trả vốn vay; quy định về hoạt động mua bán nợ…Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy, các quy định khi đi vào thực tế trở nên không phù hợp, không phát huy được hiệu quả trong việc giải quyết nợ xấu, dẫn đến tình trạng nợ xấu không được cải thiện mà còn có xu hướng tăng lên. Có thể kể đến những hạn chế như:

(i) Quy định phân loại nợ xấu chưa rõ ràng, khiến cho việc giải quyết nợ xấu khó khăn. Về mặt nguyên tắc, để giải quyết được nợ xấu trước hết phải tìm ra được con số thực và những nguyên nhân dẫn đến có con số đó thì mới có giải pháp cụ thể. Tuy nhiên, một trong những rào cản lớn nhất khiến cho việc xác định chính xác số nợ xấu cũng như tình trạng nợ xấu tại các TCTD hiện nay đó là sự không rõ ràng trong quy định về tiêu chí phân loại nợ. Theo quy định tại Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, được sửa đổi bổ sung tại Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN của NHNN nợ của các TCTD được phân loại dựa trên cả 2 phương pháp định lượng[8] và định tính[9]. NHNN cho phép các ngân hàng lựa chọn 1 trong 2 phương pháp tùy theo khả năng và điều kiện thực hiện của từng ngân hàng. Chính vì vậy, có ngân hàng xác định tỷ lệ nợ xấu theo phương pháp định lượng, có ngân hàng theo phương pháp định tính. Trong đó, phân loại nợ theo phương pháp định tính được đánh giá là phương pháp phân loại nợ phát huy hiệu quả hơn, giúp cho TCTD có đầy đủ cơ sở để đánh giá tiềm lực và khả năng thanh toán nợ của khách hàng một cách chính xác và đầy đủ hơn. Tuy nhiên, Tại Việt nam hiện nay vẫn chưa có một quy chuẩn chung về tiêu chí định tính, Ngân hàng Nhà nước cũng chưa có bất cứ hướng dẫn cụ thể nào về việc áp dụng phương pháp định tính mà chỉ có những quy định chung chung tại Quyết định 493/QĐ-NHNN, mặt khác việc phân loại nợ theo phương pháp định tính yêu cầu TCTD thực hiện phải xây dựng một hệ thống đánh giá, xếp hạng tín nhiệm đối với khách hàng một cách chặt chẽ mà điều này lại không dễ thực hiện, đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian cũng như công sức. Một yếu tố quan trọng nữa đó là việc phân loại nợ theo tiêu chí định tính sẽ làm tỷ lệ nợ xấu cao gấp 2 – 3 lần so với định lượng mà nợ xấu cao đồng nghĩa với doanh nghiệp phải trích lập tỷ lệ dự phòng cao, đây là điều nhiều TCTD e ngại khi phân loại nợ xấu. Do đó, hiện nay ở Việt Nam có rất ít TCTD tiền hành phân loại nợ theo phương pháp định tính[10]. Trong khi đó việc phân loại nợ theo tiêu chí định lượng lại không quan tâm đến kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, điều này dẫn tới việc phân loại nợ không phản ánh thực chất của khoản nợ, các TCTD cũng không chủ động được về chất lượng danh mục tín dụng của mình. Như vậy, quy định phân loại nợ xấu chưa rõ ràng đã khiến con số nợ xấu của các NHTM không được phản ánh đầy đủ và chính xác, từ đó dẫn tới việc giải quyết nợ xấu cũng như hạn chế nợ xấu gia tăng trở nên khó khăn hơn.

(ii) Quy định về xử lý nợ thông qua khởi kiện ra tòa án đối với các khoản nợ không có tài sản đảm bảo nợ phức tạp, gây khó khăn, mất nhiều thời gian của các TCTD trong quá trình thu hồi nợ. Sở dĩ như vậy là do, việc xử lý nợ thông qua khởi kiện ra tòa án đối với các khoản nợ không có tài sản đảm bảo nợ như yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp. Theo hướng này thì thời gian xử lý lâu (phải từ 3 – 4 năm) vì phải mất nhiều trình tự, thủ tục như mở thủ tục phá sản, thành lập tổ thanh lý tài sản, thực hiện thanh lý tài sản…Trong khi đó, tỷ lệ thu hồi nợ trong những trường hợp này cũng rất thấp do xử lý tài sản của doanh nghiệp dưới hình thức bán thanh lý và số tiền thu hồi phải phân chia cho các chủ nợ có tài sản đảm bảo khác. Thậm chí, dù có phán quyết của Toà án, TCTD vẫn gặp trở ngại vì khâu thi hành án chậm, thủ tục thi hành án còn nhiều bất cập. Tiếp đến là sự phối hợp không đồng bộ giữa cơ quan chức năng liên quan như cơ quan thẩm định, cơ quan bán đấu giá… Từ lúc khởi kiện đến cưỡng chế, thi hành một vụ xử lý nợ qua toà án mất ít nhất 2 năm, trung bình mất 8 – 9 năm[11]. Việc xử lý nợ xấu quan khởi kiện khó khăn như vậy cho nên tình hình nợ xấu của các TCTD cho đến nay không giải quyết được là bao, các khoản nợ xấu vẫn tiếp tục tồn động trên giấy tờ từ năm này qua năm khác mà không có cơ chế nào để thu hồi về. Do đó, để giải quyết tình trạng nợ xấu hiện nay, việc tạo khung pháp lý rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD khởi kiện yêu cầu các tổ chức, cá nhân mắc nợ thanh toán nợ là rất cần thiết.

(iii) Khung pháp lý về việc mua bán nợ đã có những chưa hoàn thiện, chưa phát huy hiệu quả trong hoạt động giải quyết nợ xấu. Tại Việt Nam, thị trường mua bán nợ đã manh nha hình thành với sự ra đời của các công ty xử lý và mua bán nợ của các ngân hàng thương mại (AMC) và công ty mua bán nợ – DATC thuộc Bộ Tài chính. Cả DATC và AMC về nguyên tắc giống nhau, đều có nhiệm vụ mua lại các khoản nợ xấu từ các ngân hàng thương mại, từ các chủ nợ, doanh nghiệp và cơ cấu lại bán cho thị trường. Thông qua hoạt động mua bán nợ, các con nợ có cơ hội phục hồi sản xuất kinh doanh, từ đó tạo dòng tiền đi vào để có nguồn trả nợ.Tuy nhiên, DATC có số vốn điều lệ hạn chế, nên hoạt động lâu nay chủ yếu mua bán nợ một số ngân hàng thương mại trong lần tái cơ cấu thứ nhất giai đoạn 2001-2004. Còn AMC ngoài mua bán nợ còn có một số nghiệp vụ repo tài sản như là hoạt động tín dụng. Vì thế hoạt động mua bán nợ của AMC dành cho ngân hàng thương mại đó rất hạn chế. Ngoài ra, khung pháp lý cho hoạt động của các chủ thể này hoạt động mua bán nợ cũng chưa đầy đủ, khiến việc mua bán, giải quyết nợ tồn đọng trở nên khó khăn hơn. Ví dụ, vấn đề cốt lõi trong hoạt động của DATC và MAC đó sau khi mua nợ thì cần xử lý doanh nghiệp yếu kém, nâng đỡ để phục hồi doanh nghiệp đó lại, có như thế mới có thể thu hồi vốn bỏ ra, chữa “lành” được vết thương cho nền kinh tế. Và yếu tố quan trọng hàng đầu để phục hồi những doanh nghiệp này chính là vốn, có vốn thì doanh nghiệp mới có thể phục hồi sản xuất, tiếp tục hoạt động, có như thế mới có tiền để trả nợ. Tuy nhiên, Quy định hiện hành không cho phép công ty mua bán nợ cho vay bảo lãnh, do đó việc xử lý, khôi phục các doanh nghiệp nợ trở nên rất khó khăn và mất nhiều thời gian. Không chỉ khó khăn trong khâu xử lý doanh nghiệp sau khi mua, công ty mua bán nợ còn gặp khó khăn trong tiếp cận “khách hàng bán nợ”. hiện nay ngân hàng thương mại không có quy định buộc các ngân hàng thương mại phải bán nợ nếu họ để tỷ lệ nợ xấu cao hoặc họ không đủ năng lực xử lý nợ xấu nên đa số NHTM còn e ngại trong bán nợ. Ngoài ra, nếu có chào bán nợ xấu thì họ đòi giá rất cao đến phi thực tế, 70% thậm chí cả 100% mệnh giá món nợ. Điều này khiến cho việc đàm phán rất mất thời gian,  ảnh hưởng nhiều tới nỗ lực mua và xử lý nợ xấu của DATC và AMC…

3. Giải pháp giải quyết thực trạng nợ xấu ở Việt Nam

Thực trạng nợ xấu của các TCTD cho thấy tình trạng nợ xấu đang ở mức báo động trong nền kinh tế, nó được ví như “cục máu đông” làm tắc nghẽn cả hệ thống tài chính. Sự tồn tại của nợ xấu có thể tác động tiêu cực đến nhiều mặt. Trước hết, làm tăng nghẽn dòng tín dụng ra nền kinh tế. Trong 7 tháng đầu năm 2012, tốc độ tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 0,57%[12]. Điều đó chứng tỏ, dòng tiền vẫn còn đang loanh quanh trong hệ thống ngân hàng. Nợ xấu cũng làm cho lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại ở mức cao trong thời gian dài, gần đây tuy đã được giảm xuống, nhưng vẫn còn lớn. Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động còn cao. Trước thực trạng như vậy, việc đề ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề nợ xấu hiện nay là cần thiết hơn bao giờ hết. Nhiều giải pháp được đưa ra như thành lập công ty mua bán nợ với quy mô 200.000 tỷ đồng, thực hiện chứng khoán hóa nợ xấu….Ngân hàng nhà nước cũng tích cực đưa ra các quy định nhằm giải quyết, ngăn chặn tình hình nợ xấu đang ngày càng gia tăng trong hệ thống ngân hàng, có thể kể đến Thông tư 10/2012/TT-NHNN quy định về xử lý sau thanh tra, giám sát đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài với quy định TCTD có nợ xấu 10% liên tục 3 tháng sẽ bị hạ tăng trưởng tín dụng, quy định này buộc các TCTD sẽ phải có trách nhiệm hơn, phải thực hiện quyết liệt hơn vấn đề giải quyết nợ xấu, cũng như cẩn trọng hơn trong quá trình kinh doanh. Bên cạnh đó còn có thể kể tới Thông tư số 26/2012/TT-NHNN hướng dẫn thủ tục chấp thuận của NHNN đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán trong nước và nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần (TCTD) với quy định TCTD nợ xâu từ 3% trở lên không được niêm yết. Việc bị hủy niêm yết cũng đồng nghĩa với việc khả năng huy động vốn của TCTD bị thu hẹp, cơ hội quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp cũng bị hạn chế… Những quy định trên cho thấy, Ngân hàng nhà nhà nước đang rất chú trọng nâng cao trách nhiệm, chất lượng hoạt động của các TCTD để có thể giải quyết vấn đề nợ xấu tận gốc. Đây là những bước đi đúng hướng, tuy nhiên, chỉ bằng đấy chưa đủ. Vấn đề nợ xấu là một vấn đề hết sức phức tạp, do nhiều nguyên nhân dẫn tới, do đó, việc giải quyết nợ xấu không chỉ đơn giản là đưa ra một vài giải pháp, hay ban hành một vài văn bản quy định trách nhiệm của các chủ thể liên quan mà cần đi vào phân tích những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu như hiện nay để từ đó đưa ra giải pháp giải quyết thích hợp. Cần xác định rõ việc giải quyết nợ xấu không chỉ là giải quyết “cục máu đông” hơn hai trăm ngàn tỷ mà còn phải quan tâm tới việc hạn chế không để “mầm bệnh máu đông” tái phát. Trên cơ sở phân tích các nguyên nhân của thực trạng nợ xấu của Việt Nam hiện nay có thể áp dụng đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật về phân loại nợ xấu. Để có thể tiến hành giải quyết nợ xấu thì việc đầu tiên mà các TCTD cần tiến hành là phải xác định rõ, chính xác tình hình nợ của doanh nghiệp. Để làm được điều này, thiết nghĩ pháp luật hiện hành nên có quy định rõ ràng hơn trong việc phân loại nợ xấu, nên thống nhất một tiêu chí phân loại nợ áp dụng cho tất cả các TCTD, nên kết hợp giữa phương pháp định lượng và phương pháp định tính trong việc phân loại nợ xấu. Đồng thời cần đưa ra một quy chuẩn chung về tiêu chí định tính, quy định cụ thể về quy trình, cách thức để thực hiện phân loại nợ theo tiêu chí định tính. Cần có quy định mang tính chất bắt buộc chung đối với các TCTD trong việc nghiêm túc thực hiện phân loại nợ xấu theo đúng quy chuẩn đã ban hành, nghiêm cấm việc đảo nợ, cơ cấu lại khoản nợ… để che dấu tình trạng nợ xấu.

Thứ hai, Xây dựng thị trường mua bán nợ, hoàn thiện quy định pháp luật về hoạt động mua bán nợ của DATC và MAC. Trong quá trình giải quyết nợ xấu vai trò của DATC và MAC là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, khung pháp lý để các chủ thể này hoạt động hiệu quả lại đang thiếu, đây cũng là nguyên nhân khiến cho hoạt động của những chủ thể này kém hiệu quả trong thời gian qua. Mặt khác, với quy mô nợ xấu lớn như hiện nay thì chỉ riêng DATC và MAC tham gia mua bán nợ xấu thôi thì chưa đủ, trong khi đó nợ xấu cũng có thể được xem như một “món hàng” có thể mua bán, mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư, và trên thế giới thị trường mua bán nợ xấu cũng đã và đang hoạt động khá là hiệu quả. Do đó, để góp phần vào việc giải quyết nợ xấu, bên cạnh việc hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động mua bán nợ việc xây dựng thị trường mua bán nợ ở Việt Nam cũng hết sức cần thiết. Có thể kể đến một số giải pháp sau:

(i) Bổ sung quy định cho phép DATC và MAC cho vay tín chấp đối với các doanh nghiệp “con nợ”, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này phục hồi;

(ii) Quy định cụ thể về trách nhiệm của TCTD trong công khai, minh bạch hóa các khoản nợ. Đồng thời các TCTD phải có nghĩa bán các khoản nợ khó đòi, xác định việc bán nợ xấu cho các công ty giải quyết nợ xấu chuyên nghiệp là nghĩa vụ chứ không phải là quyền của các TCTD… Chỉ khi nợ xấu được công khai, TCTD có trách nhiệm bán nợ thì các công ty mua nợ mới có thể tìm đến và thực hiện hoạt động mua bán nợ.

(iii) Cần đưa ra những chính sách nhằm khuyến khích các nhà đầu tư tham gia thị trường mua bán nợ, ví dụ như đưa ra các ưu đãi về thuế, cho phép các nhà đầu tư chủ nợ được quyền tham gia vào quản trị kiểm soát doanh nghiệp phải xử lý nợ…, đơn giản hóa thủ tục xử lý tài sản đảm bảo nợ hay thanh lý tài sản doanh nghiệp và có cơ chế để thực hiện nhanh chóng trong trường hợp phải phá sản doanh nghiệp. Những yếu tố đó rất cần thiết để giúp các nhà đầu tư hiểu rằng họ được khuyến khích và sẽ thu được lợi ích khi tham gia mua bán, xử lý nợ xấu. Có như vậy mới có thể kích thích thị trường mua bán nợ ở Việt Nam đi vào hoạt động hiệu quả được.

Thứ hai, nâng cao năng lực quản trị rủi ro tại các TCTD. Nâng cao năng lực quản trị rủi ro của các TCTD là một vấn đề lớn cần xem xét xây dựng trong cả một quá trình dài, tuy nhiên, việc quan trọng đầu tiên trong việc nâng cao năng lực rủi ro của các TCTD đó là cần phải gấp rút xây dựng được thước đo lượng hóa rủi ro để trên cơ sở dó có thể đưa ra quyết định cho vay, phân loại nợ chính xác nhất.

Thứ ba, nâng cao ý thức đạo đức, nghề nghiệp cho các nhân viên tín dụng. Trước thực trạng ý thức đạo đức, nghề nghiệp của các nhân viên tín dụng kém như hiện nay thì việc tuyên truyền, giáo dục họ nâng cao ý thức là cần thiết nhưng chưa đủ, cần có chế tài nghiêm khắc đối với những hành vi vi phạm nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp. Có như thế thì mới có thể nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức đạo đức nghề nghiệp của các nhân viên tín dụng.

Thứ tư, hạn chế, tiến tới giải quyết dứt điểm tình trạng sở hữu chéo. Như đã phân tích sở hữu chéo khiến khó nhận dạng được con nợ và chủ nợ thực sự trong hệ thống. Trong thời gian dài việc quản lý sở hữu quá lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng, không nhận diện được những chủ sở hữu thực sự. Do đó, nếu không xử lý được tình trạng sở hữu chéo đang tồn tại ở hệ thông ngân hàng hiện nay thì vấn đề nợ xấu rất khó có thể giải quyết. Việc giải quyết tình trạng sở hữu chéo là cả một vấn đề lớn, do đó trong khuân khổ bài viết tác giả chỉ xin đưa ra một số giải pháp mà các chuyên gia hiện nay đánh giá là cần thiết như sau: (i) “Ngân hàng Nhà nước cần có hành lang pháp lý nhằm kiểm soát đường đi của dòng tiền bởi mọi bất cập của các Ngân hàng thương mại đều phát sinh từ đây” – TS Trần Du Lịch, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia. (ii) Theo chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, trước hết Ngân hàng Nhà nước cần sửa đổi các giới hạn về sở hữu, cấp tín dụng liên quan đến cổ đông lớn, xóa bỏ các lỗ hổng pháp lý để cá nhân, tổ chức không thể kiểm soát Ngân hàng thông qua nhiều tầng nấc trung gian… Với những nhóm cổ đông hiện hữu (gồm cả Nhà nước lẫn tư nhân), nếu có nắm giữ cổ phiếu Ngân hàng trực tiếp hay gián tiếp vượt mức giới hạn của quy định mới thì buộc phải có kế hoạch thoái vốn gửi cho Ngân hàng Nhà nước giám sát, chế tài. (iii) “Chính phủ Việt Nam cần có những điều hành rõ ràng, các ngân hàng cũng cần phải công bố thông tin minh bạch và giám sát việc sở hữu chéo” – theo ông Tomoyuki Kimura, Giám đốc ADB tại Việt Nam…

Thứ năm, cần có giải pháp giải quyết nợ xấu phù hợp với từng nhóm nợ, trong mỗi giải pháp cần có sự hỗ trợ của chính phủ thông qua cơ chế, chính sách. Cụ thể:

(i) Đối với một số nhóm nợ xấu do doanh nghiệp “con nợ” có hàng tồn kho không thể bán được. Đối với những trường hợp này việc hỗ trợ tạo điều kiện cho doanh nghiệp thanh lý hàng tồn kho là giải pháp hữu hiệu nhất. Chính phủ có thể hỗ trợ cho doanh nghiệp trong trường hợp này thông qua việc giảm thuế, miễn thuế để doanh nghiệp hạ giá thành, kích thích tiêu dùng, giải quyết hàng tồn kho. Hàng tồn kho được giải quyết, doanh nghiệp có vốn để tiếp tục quay vòng phục hồi sản xuất. Từ đó, sẽ có tiềm lực để trả nợ cho các TCTD.

(ii) Đối với khoản nợ được đánh giá mất hoàn toàn khả năng thu đòi (ví dụ doanh nghiệp nợ bị phá sản, tài sản đảm bảo không còn giá trị). Cần xác định rõ trách nhiệm của TCTD trong những trường hợp này. TCTD phải chấp nhận chịu lỗ, trích dự phòng rủi ro để giải quyết, thậm chí phải cắt lợi nhuận của ngân hàng để bù đắp vào khoản nợ không thể thu hồi này.

(iii) Đối với các khoản nợ có tài sản đảm bảo, khoản nợ doanh nghiệp “con nợ” có khả năng phục hồi nếu có sự hỗ trợ. Trong trường hợp này nên kết hợp giải pháp chứng khoán hóa nợ xấu và giải pháp mua bán chứng khoán nợ xấu. Bởi lẽ: Thực tế cho thấy, đối với những khoản nợ có tài sản đảm bảo việc bán tài sản đảm bảo mất rất nhiều thời gian mà không hiệu quả. Bởi, giá trị tài sản đảm bảo nợ đã “bốc hơi” rất nhiều so với thời điểm vay vốn, ví dụ như các tài sản là tàu biển giá trị giảm trên dưới 50%, các cổ phiếu có nhiều mã giảm tới 60 – 70% so với thời điểm cầm cố, giá trị bất động sản giảm mạnh, các tài sản đặc thù giá trị lớn khó xác định giá giao dịch… Điều này khiến các TCTD rất khó xử lý tài sản đảm bảo nợ, nếu xử lý thì chỉ thu hồi được một phần nợ. Ngoài ra, một khó khăn khác mà ngân hàng thường gặp phải khi tài sản đảm bảo của một số doanh nghiệp là các máy móc thiết bị chuyên dùng có giá trị cao thì rất khó thanh lý. Khi bán được thì phải ưu tiên thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhập khẩu, vì hầu hết các thiết bị này đều được miễn thuế nhập khẩu do thường được coi là tài sản cố định khi thành lập công ty…, dẫn đến việc thực hiện xử lý nợ xấu thông qua xử lý tài sản đảm bảo nợ thường kéo dài, tốn kém về tài chính. Vấn đề còn trở nên khó khăn hơn khi mà việc thu hồi tài sản đảm bảo để tự khai thác đối với các TCTD cũng gặp không ít khó khăn, thậm chí là bất khả thi do các tài sản đặc thù như tàu biển, máy móc chuyên dụng hoặc tài sản gắn liền với tổ hợp tài sản khác như đập thủy điện, tổ máy thủy điện trong nhà máy thủy điện, máy móc trong cả dây chuyền sản xuất, công trình trên đất…, nên không thể tách rời ra để xử lý hoặc khai thác. Nếu tiếp nhận về để khai thác tài sản thì TCTD cũng không có năng lực và nghiệp vụ để thực hiện như khai thác tàu biển, cơ khí chế tạo… Do đó đối với những trường hợp này việc chứng khoán hóa các khoản nợ sau đó bán các chứng khoán nợ nợ này cho các doanh nghiệp có nhu cầu dường như có vẻ hợp lý nhất, bởi lẽ:

(i) Việc chứng khoán hóa nợ xấu có giải quyết nhanh chóng, dứt điểm trong thời gian ngắn các khoản nợ xấu của các TCTD, tạo điều kiện cho doanh nghiệp “con nợ” khơi thông nguồn vốn, có cơ hội phục hồi sản xuất.

(ii) Việc bán chứng khoán nợ xấu cho các “bên mua” là những đơn vị am hiểu lĩnh vực hoạt động của con nợ, có vốn, có năng lực xoay chuyển tình thế để tạo ra giá trị gia tăng sẽ mang lại hiệu quả hơn nhiều so với việc TCTD vẫn tiếp tục ôm những chứng khoán đó. Sẽ rất hợp lý nếu một công ty sản xuất hàng tiêu dùng mua lại một công ty sản xuất bao bì đang bế tắc vì nợ nần, hay một công ty giấy mua lại một công ty chuyên sản xuất bột giấy…

(iii) Việc chứng khoán hóa nợ xấu sau đó mới tiến hành mua bán các chứng khoán này sẽ vừa giúp khơi thông được nguồn vốn cho doanh nghiệp “con nợ”, giải quyết nợ xấu trên báo cáo tài chính của các TCTD, đồng thời có thể thu lại vốn thông qua việc bán các chứng khoán nợ xấu cho các doanh nghiệp có nhu cầu. Trong khi đó, nếu chỉ chứng khoán hóa nợ xấu thì TCTD cũng có thể gặp rủi ro trong trường hợp doanh nghiệp “con nợ” sau khi được chứng khoán hóa không thể phục hồi, mà TCTD cũng không có khả năng để khôi phục được con nợ. Hoặc nếu không chứng khoán hóa nợ xấu mà thực hiện mua bán nợ luôn thì thời gian giải quyết được hệ thống nợ xấu sẽ mất rất nhiều thời gian vì thực tế việc thành lập một công ty mua bán nợ quy mô hàng trăm nghìn tỷ đồng như dự định của NHNN hiện nay rất khó thực hiện, các doanh nghiệp mua bán nợ dã tồn tại như DATC và MAC đã ra đời khá lâu nhưng hiệu quả hoạt động cũng rất thấp, trong khi đó để đợi các doanh nghiệp có nhu cầu tìm đến để mua nợ thì cũng tốn không ít thời gian. Chính vì thế, trong lúc để cho thị trường mua bán nợ có thể đi vào quỹ đạo thì việc chứng khoán nợ xấu sau đó thực hiện bán các chứng khoán nợ xấu này thông qua cơ chế sàn giao dịch sẽ giải quyết được những vướng mắc được đặt ra.

(iv) Việc kết hợp cả hai giải pháp sẽ mang lại lợi ích cho cả 3 phía. Phía doanh nghiệp mang nợ, giúp đơn vị mang nợ phục hồi hoạt động, thanh lý nợ xấu và cân đối cơ cấu tài chính. Phía ngân hàng, có thể giải quyết dứt điểm tình trạng nợ xấu mà không mất nhiều thời gian. Phía doanh nghiệp mua chứng khoán nợ, có cơ hội mua lại các doanh nghiệp có thể hỗ trợ cho hoạt động của mình với giá hời, phục hồi hoạt động của các doanh nghiệp con nợ cũng có thể mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mua, thậm chí ngay cả trong trường hợp doanh nghiệp con nợ không còn một cơ sở phục hồi nào và chỉ còn cái “xác” doanh nghiệp mua nợ cũng có thể được mua vì việc sử dụng một cái “xác” đang hoạt động thua lỗ sau đó chuyển đổi mô hình hoạt động sẽ đem lại lợi ích về tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp mua nợ…

Như vậy có thể thấy rằng, việc kết hợp chứng khoán hóa nợ xấu và mua bán chứng khoán nợ xấu có thể góp phần giải quyết khá nhanh và hiệu quả tình trạng nợ xấu của các TCTD. Tuy nhiên, để TCTD thực hiện hiệu quả giải pháp mua bán chứng khoán nợ xấu cần có sự can thiệp từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thiết nghĩ, để hoạt động mua bán chứng khoán nợ có thể dễ dàng thực hiện nên chăng nhà nước đưa hoạt động mua bán này vào hoạt động mua bán trên thị trường có tổ chức đặt dưới sự điều hành của các nhà tổ chức thị trường, đưa chứng khoán nợ xấu vào mua bán trên thị trường chứng khoán cũng là một giải pháp. Mặt khác, để chứng khoán nợ xấu có thể đến được với các chủ thể có nhu cầu thì việc công khai thông tin chứng khoán nợ xấu là hết sức cần thiết. Pháp luật cần đặt ra những quy định bắt buộc về công khai thông tin nợ xấu và chứng khoán nợ xấu của các TCTD cùng những chế tài đủ mạnh, có như vậy thị trường mua bán chứng khoán nợ xấu mới có cơ hội phát triển.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trường Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Ngân hàng Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân 2012.

2. Đào Ngọc Chuyền, Phạm Thị Nhát, Một số khó khăn trong xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại / Đào Ngọc Chuyền,Phạm Thị Ngát, Tạp chí Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Số18(tháng9/2010, tr. 49 – 51

3. http://stox.vn/archive/Article.aspx?a=137814

4. http://www.tapchitaichinh.vn/Nghien-cuu-trao-doi/Xu-ly-no-xau-tai-Viet-Nam-Thuc-trang-va-giai-phap/14102.tctc

5. http://www.thoibaonganhang.vn/tin-tuc/23-hoa-giai-bai-toan-no-xau-3528.html

6. http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungtinhhinhthuchien?categoryId=100002607&articleId=10050082

7. http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/Kinh-te/553160/khong-can-100000-ty-dong-de-xu-ly-no-xau.htm

8. http://www.anninhthudo.vn/Tien-Vang/So-huu-cheo-va-thau-tom-ngan-hang/466223.antd

9. http://cafef.vn/20120824102811145CA34/no-xau-kho-xu-ly-vi-sao.chn

10. http://dantri.com.vn/c76/s76-633696/nam-van-de-lon-cua-nen-kinh-te.htm

11. Nguyễn Kim Đức, hoạt động thẩm định giá trong việc quản lý nợ xấu tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay, Tạp chí Phát triển và hội nhập số 7(17) Tháng 11-12/2012.


[1] http://legal-dictionary.thefreedictionary.com/bad+debt

[2] http://stox.vn/archive/Article.aspx?a=137814

[3] Theo Phạm Thùy Dung, chuyên viên phân tích Ngân hàng, Báo cáo ngành ngân hàng Việt Nam, 19/12/2012

[4] Theo báo cáo cập nhật ngành ngân hàng Quý 3 năm 2012 của CÔng ty TNHH Chứng khoán Vietcombank.

[5]http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungtinhhinhthuchien?categoryId=100002607&articleId=10050082

[6] http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/Kinh-te/553160/khong-can-100000-ty-dong-de-xu-ly-no-xau.htm

[7] http://www.anninhthudo.vn/Tien-Vang/So-huu-cheo-va-thau-tom-ngan-hang/466223.antd

[8] Phân loại nợ theo phương pháp định lượng là việc phân loại nợ dựa vào lịch sử thanh toán gốc và lãi của khách hàng.

[9] Phân loại nợ theo phương pháp định tính là việc phân loại nợ ngày từ khi phê duyệt hồ sơ, bao gồm một hệ thống 14 chi tiêu tài chính, mỗi chỉ tiêu lại có trọng số khác nhau ứng với từng lĩnh vực và ngành nghề kinh doanh.

[10] Tính đến tháng 7/2012 ở Việt Nam hiện có 4 Ngân hàng phân loại nợ theo tiêu chí định tính là BIDV, Agribank, Sacombank và VCB

[11] http://cafef.vn/20120824102811145CA34/no-xau-kho-xu-ly-vi-sao.chn

[12] http://dantri.com.vn/c76/s76-633696/nam-van-de-lon-cua-nen-kinh-te.htm

Nguồn: Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 3+4 (372+373) phát hành tháng 2/2013

Advertisements