You are currently browsing the daily archive for 20/02/2013.

TS LÊ ĐÌNH THĂNG

Kiểm toán ngân sách địa phương là nhiệm vụ quan trọng hàng năm mà Kiểm toán Nhà nước (KTNN) phải đảm nhận. Việc kiểm toán ngân sách địa phương không chỉ giúp chính quyền địa phương các cấp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách, tăng cường quản lý và giám sát ngân sách mà còn giúp cho các cơ quan trung ương nắm bắt được thực trạng quản lý ngân sách tại các địa phương, hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách. Kiểm toán ngân sách địa phương còn giúp cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội có thông tin tin cậy phục vụ giám sát ngân sách, hoạch định ngân sách năm và chính sách ngân sách. Những năm qua việc kiểm toán ngân sách địa phương chủ yếu do KTNN khu vực đảm nhận và tập trung nhiều vào kiểm toán quyết toán ngân sách. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đề cập đến việc kiểm toán chuyên đề trong kiểm toán ngân sách địa phương.
1. Những năm qua, kể từ khi KTNN được thành lập, nhiệm vụ kiểm toán ngân sách địa phương luôn được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Trước đây, khi các KTNN khu vực chưa đủ năng lực, chuyên ngành kiểm toán ngân sách cùng với các KTNN khu vực đảm nhận kiểm toán ngân sách địa phương hàng năm. Cùng với sự lớn mạnh của KTNN, các KTNN khu vực được thành lập và đảm nhận kiểm toán ngân sách các địa phương. Cho đến nay, với mạng lưới KTNN khu vực rộng khắp đã đảm nhận toàn bộ việc kiểm toán ngân sách địa phương. Ngoài ra, các KTNN khu vực còn thực hiện kiểm toán một số đơn vị theo sự phân công của Tổng KTNN. Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, kể từ khi thành lập đến nay, các cuộc kiểm toán ngân sách địa phương đều thực hiện mang tính truyền thống, chủ yếu thực hiện kiểm toán quyết toán ngân sách địa phương là chính. Các cuộc kiểm toán ngân sách địa phương được thực hiện qua kiểm toán quyết toán ngân sách địa phương nhưng trên thực tế có sự lồng ghép giữa kiểm toán báo cáo tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp, kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp mà thực chất là kiểm toán thuế và kiểm toán báo cáo quyết vốn đầu tư công trình hoàn thành. Quyết toán ngân sách địa phương chưa được kiểm toán với tư cách là báo cáo tài chính độc lập cần phải được kiểm toán một cách độc lập.

Đọc tiếp »

Advertisements

TS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA

Trường Đại học Kinh tế quốc dân

Tập đoàn kinh tế là mô hình doanh nghiệp mới được hình thành ở Việt Nam trong quá trình hội nhập. Các tập đoàn kinh tế nắm giữ lượng vốn lớn, hoạt động trong các ngành kinh tế mũi nhọn, với mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Việc thực hiện được các mục tiêu có ý nghĩa quan trọng không chỉ với bản thân các tập đoàn mà còn với cả nền kinh tế. Kiểm soát nội bộ được xem là một cách thức để nhà quản lý hiện thực hóa mục tiêu đã xác định. Mô hình tập đoàn nói chung và kiểm soát nội bộ trong tập đoàn nói riêng là những điều còn rất mới mẻ ở Việt Nam. Bài viết phân tích những đặc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các tập đoàn kinh tế.

I. Mở đầu
Kiểm soát được hiểu là việc nhà quản lý xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định. Kiểm soát là một trong các chức năng của quản lý, có tác dụng giúp nhà quản lý điều chỉnh các hoạt động thực tế theo kế hoạch dự kiến, từ đó hiện thực hoá được các mục tiêu đã xác định. Các tập đoàn kinh tế có qui mô lớn, phạm vi hoạt động phân tán, tính chất hoạt động của các đơn vị thành viên có thể rất đa dạng, phức tạp do đó sai phạm trong hoạt động thực tế tại các đơn vị thành viên có thể dễ nảy sinh, chậm hoặc khó bị phát hiện và điều chỉnh kịp thời dẫn đến rủi ro cao trong việc không đạt được mục tiêu, chiến lược và kế hoạch đã đặt ra của tập đoàn nói chung. Vai trò của kiểm soát do đó rất thiết thực và hữu hiệu đối với nhà quản lý tập đoàn.
Điều 38, Nghị định 102/2010/NĐ-CP xác định tập đoàn kinh tế bao gồm nhóm công ty có quy mô lớn có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ – công ty con. Trong tập đoàn theo mô hình công ty mẹ – công ty con thì công ty mẹ kiểm soát công ty con theo vốn góp của công ty mẹ lớn hơn 50% tại công ty con, hoặc theo uỷ quyền của các cổ đông khác về kiểm soát khi việc góp vốn dưới 50%. Việc nhà quản lý tự tiến hành các hoạt động kiểm soát để hiện thực hoá mục tiêu đã xác định cũng như để bảo đảm sự tuân thủ các qui định pháp lý có liên quan được hiểu là kiểm soát nội bộ. Kiểm soát nội bộ phân biệt với kiểm soát bên ngoài (là hình thức kiểm soát mà chủ thể kiểm soát ở bên ngoài đơn vị bị kiểm soát).
II. Đặc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các tập đoàn kinh tế

Đọc tiếp »

NGUYỄN BÁ PHÚ

Cục thuế Thanh Hóa

Thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, đánh vào sản phẩm khai thác chịu thuế là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, như: Khoáng sản kim loại; Khoáng sản không kim loại; Dầu thô; Khí thiên nhiên; Sản phẩm của rừng tự nhiên; Hải sản tự nhiên (động vật và thực vật);… Tài nguyên thiên nhiên khác. Trên thực tế, để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của đất nước, Nhà nước ta đã áp dụng một cách hợp lý việc huy động thuế với cách điều tiết thông qua giá tính thuế và thuế suất. Việc điều chỉnh chính sách thuế tài nguyên cũng là yêu cầu được đặt ra thường xuyên nhằm làm cho hành lang pháp lý hoàn chỉnh và phù hợp hơn. Luật thuế Tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 25/11/2009 thay thế Pháp lệnh thuế tài nguyên năm 1998 là một bước quan trọng hoàn chỉnh pháp luật về thuế Tài nguyên. Cùng với Luật thuế Tài nguyên 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên. Bộ Tài chính trong phạm vi chức năng của mình cũng đã ban hành Thông tư số 105/2010/TT-BTC ngày 23/7/2010 Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên và hướng dẫn thi hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP của Chính phủ. 
Thứ nhất, những khác biệt giữa qui định mới và cũ

Đọc tiếp »

NGUYỄN HOÀNG

Vụ Quan hệ Quốc tế, Kiểm toán Nhà nước

Nợ nước ngoài là một bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu nợ công của một quốc gia. Do đó, để có thể đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện những qui định pháp lý liên quan đến hoạt động giám sát nợ nước ngoài tại Việt Nam, ta phải nhìn nhận hoạt động giám sát từ: (1) nhóm các qui định pháp lý chung về giám sát nợ công. Nhóm này nằm trong các văn bản quản lý về nợ công như: Luật Quản lý nợ công, nghị định, thông tư hướng dẫn về quản lý nợ công … phục vụ cho hoạt động giám sát tổng thể về nợ công của một quốc gia; (2) nhóm các qui định cụ thể về giám sát nợ nước ngoài. Nhóm này thường được lồng ghép trong các văn bản quản lý riêng đối với nợ nước ngoài. 

1.  Nhóm các qui định chung về giám sát nợ công
Nhìn chung, các qui định pháp lý thuộc nhóm này không nhiều, hầu hết mới được ban hành nhưng cũng đã có mặt ở tất cả các văn bản pháp lý từ cấp độ cao đến thấp như luật, nghị định, thông tư hướng dẫn và qui định khá toàn diện về trách nhiệm các cơ quan Nhà nước, về mục tiêu, phương pháp, nội dung, … liên quan đến việc giám sát nợ công của quốc gia.

Trong nhóm văn bản này, trước hết phải kể đến Luật NSNN năm 2002. Văn bản này được ban hành khá lâu nhưng hiện còn giá trị và có hiệu lực cao trong việc lập, chấp hành, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, quyết toán ngân sách nhà nước. Theo đó, một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và HĐND các cấp là giám sát thực hiện NSNN. Tuy nhiên, nợ công là một bộ phận cấu thành của NSNN nên cũng có thể tạm coi đây là căn cứ pháp lý quan trọng trong hoạt động giám sát nợ công, nhất là thời kỳ trước năm 2009, khi Luật Quản lý nợ công chưa ra đời.

Đọc tiếp »

Đã có không ít định chế tài chính thất bại với mô hình bancassurance như ING, Standard Life. Mô hình ngân hàng kết hợp bảo hiểm – Bancassurance không ưu việt như từng được tung hô.

Có nhiều lý do để ngân hàng và đơn vị bảo hiểm tham gia bancassurance, mô hình bán các sản phẩm bảo hiểm thông qua mạng lưới của ngân hàng. Đối với ngân hàng, trong bối cảnh cạnh tran

h lãi suất khiến cho lợi nhuận bị sụt giảm, việc bán bảo hiểm (hưởng hoa hồng) giúp mang lại nguồn thu ổn định và ít rủi ro, trong khi không đòi hỏi vốn đầu tư lớn (ngân hàng có thể tận dụng chi nhánh và nhân lực sẵn có). Đối với đơn vị bảo hiểm, khi bán sản phẩm thông qua ngân hàng, họ không cần phải phát triển mạng lưới và thương hiệu, từ đó giúp tiết giảm chi phí, hạ giá thành để nâng cao tính cạnh tranh. Thông qua mối liên kết, cả ngân hàng lẫn đơn vị bảo hiểm sẽ có cơ hội cung cấp nhiều sản phẩm tài chính hơn nhằm giữ chân khách hàng tốt hơn.

Đó là lý do ở Việt Nam có nhiều ngân hàng mở công ty bảo hiểm riêng. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) có ABIC, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam có BIC, Ngân hàng Công Thương Việt Nam có Bảo hiểm Bảo Ngân… Ngược lại, Bảo Việt, tập đoàn bảo hiểm hàng đầu Việt Nam, cũng lập nên ngân hàng riêng là Baoviet Bank nhằm hướng tới hoàn thiện mô hình “siêu thị tài chính Bảo Việt.”

Đọc tiếp »

TS.NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội

Công ty cổ phần (CTCP) nói riêng và doanh nghiệp nói chung không thể tồn tại và hoạt động lâu dài, hiệu quả nếu thiếu sự hợp tác của chủ sở hữu (CSH), chủ nợ và người quản lý, điều hành. Để điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa các chủ thể trong quá trình quản lý, sử dụng vốn và tài sản của CTCP, không chỉ giải quyết hậu quả phát sinh mà phải ngăn ngừa nguy cơ xảy ra vi phạm hoặc hạn chế tối đa thiệt hại có khả năng xảy ra. Bài viết phân tích những bất cập của các chế định pháp luật về bảo đảm an toàn tài chính CTCP, lợi ích của cổ đông và chủ nợ; kiến nghị sửa đổi một số nội dung Luật Doanh nghiệp (Luật DN).

1. Bất cập của các chế định pháp luật về bảo đảm an toàn tài chính công ty cổ phần, lợi ích của cổ đông và chủ nợ

1.1. Bảo đảm quyền được biết thông tin về hợp đồng vay và mua, bán tài sản

Quan hệ hợp đồng vay tạo cho chủ nợ có quyền lợi ưu tiên hơn so với cổ đông. Về nguyên tắc, khi công ty không trả được nợ, chủ nợ sẽ xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Trong trường hợp thỏa thuận vay không có tài sản bảo đảm thì chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu Toà án tuyên bố phá sản công ty để thu hồi nợ.

Sự thỏa thuận thu hồi nợ trong hợp đồng và sử dụng quyền lực của Tòa án để thu hồi nợ đặt các công ty vào tình trạng bất ổn khi không thanh toán được các khoản nợ đến hạn. Trong hàng loạt các giao dịch của mình, không phải giao dịch nào cũng mang lại lợi nhuận cho công ty, rủi ro trong thực hiện dự án có thể dẫn tới đổ bể công ty nếu không kịp thời giải quyết vấn đề nợ.

Không phải tất cả cổ đông đều có cơ hội như nhau trong nắm bắt các thông tin về đầu tư, vay nợ và mua bán tài sản. Trên thực tế, các cổ đông lớn là cá nhân và người đại diện ủy quyền của cổ đông pháp nhân thường tham gia vào bộ máy quản lý, điều hành công ty. Theo Luật DN, cổ đông có thể tiếp cận thông tin tài chính thông qua báo cáo tình hình kinh doanh của công ty hàng năm, hoặc kết quả trả lời của Ban kiểm soát (BKS) về kiểm tra, xem xét các vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành công ty. Đối với việc quyết định kinh doanh, Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) chỉ quyết định khi đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu điều lệ công ty không quy định một tỉ lệ khác (điểm d khoản 2 Điều 96); còn hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất thuộc thẩm quyền thông qua của Hội đồng quản trị (HĐQT – điểm g khoản 2 Điều 108). Ngoài ra, HĐQT còn có thẩm quyền chấp thuận các hợp đồng và giao dịch có giá trị nhỏ hơn 50% tổng giá trị tài sản (khoản 2 Điều 120). Hơn thế nữa, nhằm hạn chế giao dịch tư lợi, khoản 1 Điều 120 quy định các giao dịch phải được ĐHĐCĐ hoặc HĐQT chấp thuận: (i) Cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ đông sở hữu trên 35% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những người liên quan đến họ; (ii) Thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; (iii) Doanh nghiệp có liên quan đến việc sở hữu của thành viên HĐQT, thành viên BKS, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty; doanh nghiệp mà những người liên quan của họ cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng cổ phần hoặc phần vốn góp trên 35% vốn điều lệ. Theo quy định này, thẩm quyền quyết định để kiểm soát xung đột lợi ích chưa chắc đã thuộc về ĐHĐCĐ khi điều lệ công ty ghi nhận thẩm quyền này thuộc HĐQT. Như vậy, quyền quyết định kinh doanh trong CTCP chủ yếu tập trung cho HĐQT.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Hai 2013
H B T N S B C
« Th1   Th3 »
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 313 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements