ThS. NGUYỄN THANH HUYỀN

Bức tranh thị trường trái phiếu năm 2011

Mục tiêu của Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán giai đoạn 2011 – 2020 là tăng quy mô, độ sâu và tính thanh khoản cho thị trường chứng khoán; Phấn đấu đưa tổng giá trị vốn hóa trị trường cổ phiếu đạt khoảng 70% GDP vào năm 2020; Đưa thị trường trái phiếu trở thành một kênh huy động và phân bổ vốn quan trọng cho phát triển kinh tế; Đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, phát triển hệ thống nhà đầu tư tổ chức, khuyến khích đầu tư nước ngoài dài hạn và đào tạo nhà đầu tư cá nhân. Nhiệm vụ phát triển thị trường trái phiếu, đặc biệt là thị trường trái phiếu chính phủ được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu trong của Chiến lược.

Năm 2011, kinh tế Việt Nam đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn thách thức từ cả những yếu tố bên ngoài (khủng hoảng nợ công, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao…) lẫn các yếu tố nội tại của nền kinh tế (lạm phát và mặt bằng lãi suất tăng cao; hệ thống tài chính bộc lộ nhiều vấn đề phải giải quyết; sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) rất khó khăn; hoạt động đầu tư toàn xã hội bị thu hẹp do ưu tiên trong chính sách điều hành kinh tế là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Trong bối cảnh đó, TTCK Việt Nam cũng đã trải qua nhiều biến động. Trong năm 2011, tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HSX), chỉ số VN – Index để mất 27,66% so với mức 485.97 điểm vào đầu năm, đóng cửa ngày 30/12/2011 ở mức 351,55 điểm. Khối lượng giao dịch bình quân trong năm 2011 đạt 33,7 triệu chứng khoán, giá trị giao dịch bình quân vào khoảng 650 tỷ đồng, giảm 29% về khối lượng và 57,3% về giá trị so với năm 2010 với hơn 50% mã cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết có thị giá thấp hơn mệnh giá. Tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), chỉ số HNX-Index cũng giảm 48,58% so với cuối năm 2010 và dừng lại ở ngưỡng 58,74 điểm vào ngày 31/12/2011. Khối lượng và giá trị giao dịch đều giảm lần lượt là 9,27% và 60,34% so với năm 2010.

Thị trường trái phiếu DN trong năm 2011 cũng khá ảm đạm khi môi trường kinh tế cả trong và ngoài nước bất ổn, khiến việc phát hành trái phiếu DN hết sức khó khăn. Nhiều DN phải hoãn hoặc hủy kế hoạch phát hành trái phiếu như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam hoãn phát hành 500 triệu USD trái phiếu. Một loạt các DN trên sàn niêm yết như Địa ốc Hoàng Quân (HQC), NHTMCP Sài Gòn (SCB); Khoáng sản Na Rì (KSS) cũng ở trong tình trạng tương tự. Rủi ro tín dụng tăng cao dẫn tới nhiều trái phiếu mặc dù được chào với lãi suất rất cao từ 21-23%/năm vẫn không thể bán được, đặc biệt là trái phiếu bất động sản. Bức tranh thị trường thứ cấp cũng không sáng sủa hơn, thanh khoản rất ít và chỉ tập trung ở một số trái phiếu của DN lớn như EVN, Lilama, BIDV, FPT… Theo thống kê của Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA), năm 2011 ước tính có khoảng 27 đợt phát hành trái phiếu với khối lượng giao dịch khoảng 7.000 tỷ đồng, chỉ bằng 12,5% so với năm 2010.

Ngược lại, thị trường sơ cấp trái phiếu chính phủ lại rất sôi động. Năm 2011 có thể coi là năm thành công nhất từ trước đến nay trong huy động vốn cho ngân sách nhà nước thông qua đấu thầu trái phiếu chính phủ tại HNX. Lượng vốn huy động được lớn nhất và tỷ lệ huy động thành công/kế hoạch huy động cao nhất. Qua 130 phiên đấu thầu đã huy động được 81.715,8 tỷ đồng (gấp gần 3 lần khối lượng trúng thầu năm 2010), trong đó huy động trái phiếu kho bạc đạt 62.153,8 tỷ đồng, đạt khoảng 80% kế hoạch huy động. Lãi suất phát hành tuy ở một mặt bằng mới cao hơn năm trước, song vẫn thấp hơn khoảng 2% so với lãi suất huy động của hệ thống ngân hàng.

Toàn bộ trái phiếu Chính phủ phát hành qua kênh đấu thầu và bảo lãnh đều được thực hiện niêm yết trên thị trường trái phiếu Chính phủ chuyên biệt theo quy định.

Trên thị trường thứ cấp, từ cuối năm 2010 sang năm 2011, lãi suất trái phiếu Chính phủ đã ồ ạt tăng mạnh ở tất cả các kỳ hạn. Lãi suất đạt đỉnh vào thời điểm đầu tháng 6/2011, với lãi suất kỳ hạn 1 năm, 3 năm và 10 năm tương ứng là 13,532%, 13,234% và 12,385%. Sau khi đạt đỉnh này, lãi suất trái phiếu Chính phủ giảm dần, tuy vậy kết thúc năm 2011 vẫn đứng ở mức cao. Có thể phân chia thành 3 giai đoạn thay đổi lãi suất trái phiếu Chính phủ trong năm 2011 gồm:

Giai đoạn I (từ đầu năm đến tháng 5/2011): lãi suất trái phiếu Chính phủ liên tục tăng, đặc biệt với kỳ hạn 1 năm khi đạt đỉnh ở mức 13,532% vào ngày 26/5/2011. Nguyên nhân chủ yếu là do lạm phát tăng rất mạnh trong những tháng này (chỉ số CPI tăng bình quân 2,1%/tháng).

Giai đoạn II (từ tháng 6/2011 đến đầu tháng 10/2011): lãi suất giảm nhanh trong giai đoạn tháng 6, 7 và giảm chậm dần trong tháng 8, 9/2011. Nguyên nhân là do lạm phát phi mã lập đỉnh vào tháng 6 sau đó giảm dần các tháng tiếp theo cùng với nó là việc Ngân hàng Nhà nước siết chặt trần lãi suất 14%, đặt mục tiêu hạ lãi suất cho vay xuống 17-19%.

Giai đoạn III (quý IV/2011): lãi suất có xu hướng tăng trở lại do xuất hiện nhiều vụ vỡ nợ tín dụng đen, rủi ro tín dụng trên thị trường tăng lên. Một số ngân hàng thương mại bắt buộc phải nhận hỗ trợ thanh khoản từ Ngân hàng Nhà nước. Kết thúc năm 2011, tình hình vẫn chưa có thay đổi khi lãi suất ngắn hạn vẫn cao hơn dài hạn. Đây là chỉ báo rõ ràng chứng tỏ thị trường vẫn chưa quay trở lại với trạng thái thông thường, nguy cơ khủng hoảng thanh khoản đang còn hiện hữu.

Hệ thống giao dịch trái phiếu chuyên biệt đã được vận hành ổn định, an toàn với quy mô giao dịch 90.221 tỷ đồng, giá trị giao dịch bình quân phiên đạt 364 tỷ đồng/phiên. Có những tín hiệu cho thấy nhà đầu tư nước ngoài đã trở lại giao dịch khá tích cực trên thị trường trái phiếu Chính phủ với giá trị giao dịch hai chiều đạt xấp xỉ 55.000 tỷ đồng, gấp 1,7 lần so với năm 2010 và đấu thầu mua 9.000 tỷ đồng (năm 2010 nhà đầu tư nước ngoài không thực hiện mua qua đấu thầu). Tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài giao dịch chủ yếu ở các kỳ hạn ngắn dưới 1 năm và từ 1 đến 3 năm, các kỳ hạn khác chiếm tỷ trọng rất nhỏ.

Về hệ thống thành viên, trên thị trường sơ cấp, các thành viên đấu thầu hoạt động trên một thị trường đấu thầu có tính cạnh tranh, minh bạch với chất lượng tham gia ngày càng tăng. Tính cuối năm 2011, có 87 thành viên đấu thầu, trong đó bao gồm 30 công ty chứng khoán, 39 ngân hàng thương mại trong nước, 8 ngân hàng thương mại nước ngoài và 10 tổ chức tài chính khác. Đối tượng nhà đầu tư được mở rộng hơn với sự tham gia của các quỹ nước ngoài, các công ty bảo hiểm, các ngân hàng nước ngoài uy tín như: HSBC, Deutsche, Standardered Charted Bank, ANZ chi nhánh Hà Nội, BNP Paribas… Thị trường trái phiếu thứ cấp có 45 thành viên, trong đó 17 thành viên ngân hàng thương mại và 28 thành viên công ty chứng khoán. Trong số này, có 38 thành viên cũng là thành viên đấu thầu trên thị trường sơ cấp. Tỷ trọng tham gia giao dịch của khối ngân hàng thương mại vẫn giữ ổn định, đạt khoảng hơn 45,84% giá trị giao dịch của thị trường, công ty chứng khoán tiếp tục duy trì hình thức môi giới giao dịch là chủ yếu (chiếm hơn 50,1%). Như vậy, ngân hàng thương mại vẫn có vai trò là chủ thể giao dịch chính với đặc điểm có khối lượng giao dịch rất cao; các ngân hàng thương mại chưa phải là thành viên thứ cấp cũng là những khách hàng giao dịch chính của các công ty chứng khoán thành viên.

Đánh giá những thành tựu và hạn chế

Nhìn lại hơn hai năm sau khi thị trường trái phiếu chính phủ chuyên biệt đi vào hoạt động, có thể nói chúng ta đã đạt được những thành tựu:

– Đối với thị trường sơ cấp:

+ Đã hình thành rõ một thị trường đấu thầu trái phiếu chính phủ có xu hướng cạnh tranh, minh bạch về giá, lãi suất phát hành có mặt bằng thấp hơn lãi suất huy động trên hệ thống ngân hàng.

+ Cải tiến quy trình phát hành, rút ngắn thời gian từ đấu thầu lên niêm yết và giao dịch, đồng thời cũng để kết nối thị trường sơ cấp với thị trường thứ cấp. Đáng lưu ý là bất chấp yếu tố vĩ mô không thuận lợi nhưng thị trường trái phiếu vẫn thu hút được nhà đầu tư đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài tham gia trên thị trường.

+ Nhằm tạo hành lang pháp lý cho thị trường trái phiếu, ngay đầu năm 2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định 01/2011/NĐ-CP ngày 5/1/2011 về “Phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu được chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương”, Nghị định quy định thêm về hoán đổi trái phiếu, đưa ra khái niệm về nhà tạo lập thị trường. Tiếp theo, Nghị định số 90/2011/NĐ-CP ngày 14/10/2011 về phát hành trái phiếu DN có hiệu lực đã tạo điều kiện nhằm khơi thông nguồn vốn trên thị trường trái phiếu DN, mở rộng phạm vi điều chỉnh, nâng cao tiêu chuẩn, quy định thêm phương thức phát hành…

– Đối với thị trường thứ cấp:

+ Hình thành cấu trúc với các quy định pháp lý cơ bản của một thị trường giao dịch theo các tiêu chuẩn quốc tế về hệ thống giao dịch, thông tin, thanh toán bù trừ và đang ngày càng được hoàn thiện phù hợp với điều kiện thị trường cũng như tăng tính thanh khoản, tạo sự sôi động cho các giao dịch trái phiếu.

+ Sự kết nối giữa thị trường thứ cấp và sơ cấp trái phiếu ngày càng được củng cố chặt chẽ thông qua sự gắn kết về lãi suất giữa hai thị trường và quy trình phát hành – niêm yết được rút ngắn từ 11 ngày xuống 6 ngày làm việc, đẩy nhanh quá trình tạo hàng trên thị trường thứ cấp và cơ hội đầu tư cho thành viên.

+ Hệ thống thành viên với vai trò của ngân hàng thương mại trên thị trường thứ cấp và sơ cấp tiếp tục được giữ vững, tạo tiền đề xây dựng mô hình nhà tạo lập thị trường cho thị trường trái phiếu.

Bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với xu thế phát triển chung của Việt Nam và thế giới đó là:

+ Về cơ cấu kì hạn: nếu tiếp tục thực hiện phát hành và niêm yết với xu hướng tập trung tại các kỳ hạn ngắn trong nhiều năm sẽ tạo áp lực trả nợ trong ngắn hạn rất lớn. Thêm vào đó, các tổ chức phát hành có tình trạng phát hành cùng kỳ hạn nên vô hình chung tạo sự cạnh tranh nguồn tiếp cận vốn trên thị trường trong cùng thời điểm.

+ Sản phẩm gốc trên thị trường phát hành còn đơn điệu, vẫn chỉ hạn chế ở các trái phiếu trả lãi định kỳ, chưa có những sản phẩm phát hành liên kết gắn trách nhiệm, quyền lợi giữa Nhà nước và chủ đầu tư trái phiếu.

+ Về thành viên: số lượng thành viên nhiều nhưng mức độ tham gia còn ít, không đồng đều, tập trung vào một số thành viên lớn, chủ yếu là các ngân hàng thương mại lớn.

+ Hệ thống giao dịch và thông tin vẫn còn nhiều tồn tại, đặc biệt chưa hỗ trợ thành viên trong việc điều chỉnh linh hoạt kỳ hạn repo, phòng ngừa rủi ro, chưa thực sự giúp các thành viên tìm kiếm đối tác dễ dàng khi có nhu cầu.

+ Thanh khoản trên thị trường trái phiếu thứ cấp kém sôi động khi những người chơi chính là các ngân hàng rơi vào tình trạng khan hiếm tiền mặt, đặc biệt ở nửa đầu năm khi chỉ số CPI liên tục tăng mạnh kéo kỳ vọng lãi suất lên cao, thanh khoản chỉ đạt 0,24 trong khi mức thanh khoản trung bình của các nước trong khu vực 6 tháng đầu năm 2011 vào khoảng 0,32 đến 1,15, cá biệt thị trường Hồng Kông là 72,75 – 72,16.

Thị trường trái phiếu Việt Nam bước sang năm 2012 được hầu hết các chuyên gia trong ngành dự báo sẽ tiếp tục đối diện với nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng nợ công và tình hình kinh tế vĩ mô không mấy khả quan. Tuy nhiên, với những biện pháp mới mà các cơ quan quản lý đưa ra như: Hoàn chỉnh hạ tầng công nghệ đồng bộ để hỗ trợ cho tất cả các loại hình phát hành, giao dịch và thông tin sơ cấp, thứ cấp trên thị trường nợ; Xây dựng hệ thống thông tin bao gồm cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh về thị trường trái phiếu gồm các thông tin phát hành – giao dịch và thử nghiệm tích hợp các công cụ dự báo như đường cong lãi suất, chỉ số trái phiếu bond – index…; Đa dạng hóa sản phẩm giao dịch như trái phiếu có nguồn thu từ dự án, trái phiếu gắn với chỉ số lạm phát, các công cụ giao dịch trái phiếu cho nhà đầu tư ngay từ khi có kế hoạch phát hành trái phiếu… thị trường trái phiếu có hy vọng sẽ tăng trưởng bền vững và ổn định hơn.

__________________

Tài liệu tham khảo:

1. AseanBondsOnline 2011- bond Market Liquidity Survey (ADB);

2. Asia capital market monitor, August 2011;

3. Báo cáo tại hội nghị thành viên của Hiệp hội đầu tư trái phiếu (VBMA) năm 2011;

4. Các báo cáo khác và dự án hỗ trợ phát triển thị trường vốn.

NGUỒN: Tạp chí Tài chính số 4/2012

Advertisements