You are currently browsing the daily archive for 05/03/2012.

TS. ĐẶNG VĂN DU (Học viện Tài chính)

Nguồn: Đề tài “Nghiên cứu Pháp luật về Tài chinh công Việt Nam”, Đại học Luật Hà Nội, TS.Phạm Thị Giang Thu (chủ nhiệm), Hà Nội, 2011, tr.51-72

Trường ĐH Luật Hà Nội và các tác giả giữ bản quyền. Đề nghị trích dẫn đầy đủ nguồn tham khảo khi sử dụng.

_________________________

1. Khái niệm Tài chính công

Trong hoạt động thực tiễn, tài chính luôn tồn tại, vận động, phát triển gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người kể từ khi có vật ngang giá chung – tiền tệ, được lấy làm thước đo cho các quan hệ trao đổi hàng hóa. Tiền giúp cho lưu thông hàng hóa phát triển và giảm thiểu được khá nhiều hao phí lao động xã hội trong quá trình luân chuyển hàng hóa. Nhưng tiền cũng trở thành phương tiện trục lợi của một nhóm người, thậm chí chi phối tới cả hệ thống chính trị. Ngay từ thế kỷ thứ XVIII, Mayer Rothschild – nhà tài phiệt sớm thành công trong hoạt động ngân hàng, đã dám tuyên bố: “Chỉ cần khống chế được quyền phát hành tiền tệ của một quốc gia, tôi sẽ không phụ thuộc vào bất cứ thứ pháp luật nào do ai đặt ra[1]. Gắn bó cả đời với việc tìm tòi nghiên cứu quá trình phát triển của Chủ nghĩa Tư bản, C.Mác cũng đã khẳng định Tư bản tài chính là tiền thân cho sự hình thành và phát triển của Tư bản lũng đoạn, rồi từng bước trở thành Tư bản lũng đoạn nhà nước. image

Qua mỗi cung bậc phát triển của xã hội, tài chính ngày càng khẳng định được tầm quan trọng của nó. Ngày nay, tài chính đã được coi là 1 trong 3 nguồn lực “đầu vào” (nhân, tài, vật lực) không thể không tính đến, nếu mỗi khi muốn tổ chức một hoạt động nào đó. Nhận thức rất hiển nhiên và có vẻ rất giản đơn như trên thường xuyên phải có sẵn ở mỗi một chủ thể (nhà nước; tổ chức kinh tế, xã hội; hộ gia đình; và từng cá nhân), mỗi khi họ muốn làm một việc gì. Nói một cách ngắn gọn nhất: việctiền luôn phải gắn liền với nhau. Chính vì vậy, trong nền kinh tế đã nảy sinh ra nhiều các quỹ tiền tệ để đáp ứng cho nhu cầu hoạt động của các chủ thể; và mỗi chủ thể đều phải có ít nhất một loại quỹ tiền tệ để phục vụ cho hoạt động của mình. Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, số lượng và quy mô của các quỹ tiền tệ gắn với mỗi chủ thể có sự thay đổi không ngừng. Xu hướng chung, các quỹ tiền tệ quy mô nhỏ thuộc các chủ thể có tiềm lực yếu, dần dần sẽ bị các chủ thể có tiềm lực lớn hơn “thôn tính” bằng nhiều hình thức khác nhau. Nhà nước có trách nhiệm thiết lập hàng rào pháp lý cho các thể chế tài chính lựa chọn đường hướng phát triển của mình sao cho phù hợp. Nhưng chính nhà nước cũng tham gia vào thị trường tài chính; và thậm chí tham gia một cách quyết liệt nhằm khẳng định quyền điều phối của mình. Nên làm cho ranh giới giữa quản lý nhà nước về tài chính với kinh doanh dịch vụ trên thị trường tài chính của nhà nước trở lên rất mong manh. Do vậy, ở các nước đã có nền kinh tế thị trường phát triển, nhìn nhận hệ thống tài chính quốc dân dưới giác độ quyền quản lý/sở hữu của các chủ thể đối với các quỹ tiền tệ; người ta chỉ đề cập đến tài chính của khu vực công và tài chính của khu vực tư.

Vậy khu vực công là gì?

Đọc tiếp »

Advertisements

Luattaichinh giới thiệu bài viết này do TS Vương Quân Hoàng dịch, để bạn đọc có thêm tri thức về lý thuyết trò chơi và sự ra đời của nó. Lý thuyết trò chơi là một lĩnh vực quan trọng trong việc nghiên cứu kinh tế học pháp luật – Một môn học rất mới của ngành luật tại Việt Nam.

Bài này có tên gốc là” Cân bằng Nash và lịch sử lý thuyết kinh tế”, đăng trên saga.vn

Tác giả nguyên bản tiếng Anh: Roger B. Myerson, J. L. Kellogg Graduate School of Management, Northwestern University. E-mail: myerson@nwu.edu Journal of Economic Literature, Sep99, Vol. 37

_______________________

1. Nhìn lại quá trình diễn biến tri thức

16/11/1999 đánh dấu kỷ niệm năm thứ 50 ngày công trình đầu tiên của John Nash về cân bằng bất hợp tác được ghi nhận tại văn phòng biên tập của Proceedings of the National Academy of Sciences. Kỷ niệm năm thứ 50 của một sư kiện quan trọng là thời điểm phù hợp để nhìn lại lịch sử, và khi mà chúng ta vẫn còn liên hệ với sự kiện với ký ức sống, nhưng lại có khoảng cách đủ xa để quan sát tầm quan trọng lớn về lịch sử.

Từ góc độ này, lý thuyết của Nash về trò chơi bất  hợp tác cần được xem xét như một trong những bước tiến xuất sắc về tri thức của thế kỷ 20. Cách hình thành cân bằng Nash có ảnh hưởng cơ bản vimageà rộng khắp trong kinh tế học và các khoa học xã hội, và có thể sánh với phát hiện của cặp xoắn ADN trong các khoa học sinh học. Song ngay cả bây giờ, vẫn có nhiều cuốn sách về tư tưởng kinh tế vẫn không dành đủ nổi một trang cho công trình của Nash (xem Jurg Niehans 1990), và các nhà bác học xuất sắc có thể tìm thấy sự thống nhất trùng khớp của khoa học xã hội thiếu hẳn sự thống nhất thực sự được lý thuyết trò chơi bất hợp tác đưa ra (xem Edward Wilson 1998). Vì thế điều hợp lý là bây giờ chúng ta sẽ đánh giá lại công trình của Nash trong bối cảnh lịch sử rộng hơn, để hiểu được bằng cách nào mà chỉ với một vài công trình ngắn, một nhà toán học trẻ đạt được những bước đột phá có tính chất bước ngoặt lớn trong lịch sử khoa học xã hội.

E. Roy Weintraub (1992) cung cấp một bài tổng quan về lịch sử ban đầu của lý thuyết trò chơi, với quan tâm cụ thể tới công trình của John von Neumann và Oskar Morgenstern (xem thêm Morgenstern 1976). Từ năm 1994, khi Nobel Memorial Prize in Economic Sciences được trao cho John Nash, John Harsanyi, và Reinhard Selten, có thêm một số bài luận trân trọng ghi nhận công trình của Nash; xem Robert Leonard (1994), Harold Kuhn (1994), John Milnor (1995), Ariel Rubinstein (1995), Eric van Damme và Jorgen Weibull (1995), Myerson (1996), và giới thiệu của Ken Binmore về tập hợp các công trình liên quan tới lý thuyết trò chơi của Nash (1996). Cuộc đời của Nash được viết lại bởi Sylvia Nasar (1998).

Đọc tiếp »

Tên gốc của bài viết là “Những câu chuyện về ô tô và lý thuyết kinh tế”, đăng trên saga.vn

_______________________________________

Mang lại lợi nhuận khổng lồ, đương nhiên công nghiệp ô tô cũng là đối tượng nghiên cứu của kinh tế học. Nhưng có một điều ít ai biết là những chiếc ô tô cũng đóng góp cho lý thuyết kinh tế kha khá những ví dụ hay, thậm chí mở đầu cho nhiều nhánh nghiên cứu mới.

Câu chuyện về ô tô nổi tiếng nhất trong kinh tế học có lẽ là câu chuyện về thị trường ô tô cũ.

Năm 2001, giải Nobel kinh tế được trao cho Arkelof, với hạt nhân là luận văn kinh điển – “The market for lemons” – thị trường của những “quả chanh”. Ấy nhưng cái loại hàng hóa được nhắc đến trong luận văn này không phải là về chanh mà lại về ôtô. Nguyên do là ở chỗ, tiếng lóng của người Mỹ gọi những chiếc xe cũ nát thổ tả là quả chanh (lemon). Và cái thị trường mà luận văn nói đến thực chất là thị trường xe cũ.

Thông tin người bán và người mua có không giống nhau, người bán xe cũ nói chung biết rõ xe của mình tốt xấu ra sao, còn người mua xe thì không. Ngườicar2.jpg ta gọi đó là tình trạng thông tin bất đối xứng.

Cho nên, nếu người mua xe biết giá trị chiếc xe cũ với những thông số như nhãn hiệu, năm sản xuất .v.v. như vậy có giá tối đa là, chẳng hạn 10.000$, tối thiểu là cho cũng không đắt, thì biết rằng giá trị cái xe mình định mua nằm giữa 0 và 10.000$.

Nếu không chắc được giá trị chiếc xe nằm ở khoảng nào, để giảm bớt rủi ro, người mua xe sẽ áng chừng nó ở mức trung bình, chẳng hạn 5.000$.

Nhưng nếu người mua nào cũng đánh giá như vậy, chỉ vì họ không nắm rõ thông tin, thì những người bán xe cũ sẽ có xu hướng loại khỏi thị trường những chiếc xe có giá trên 5.000$.

Đọc tiếp »

Thomas Sargent tại Đại học New York và Christopher Sims tại Đại học Princeton, người đã được trao giải thưởng Nobel kinh tế năm 2011 vào ngày 10/10 vừa qua đã mang đến cho thế giới nhiều thay đổi.
Mọi người thường kỳ thị những nhà kinh tế học vĩ mô vì làm hầu hết mọi thứ đều sai, nhưng thực tế ngạc nhiên là họ biết mọi thứ. Các nhà hóa học hay sinh vật học có thể lặp đi lặp lại thí nghiệm tùy ý, có thể thay đổi một yếu tố nào đó để xem phản ứng của nó ra sao. Nhưng kinh tế vĩ mô phải làm nhiều hơn thế. Thomas Sargent tại Đại học New York và Christopher Sims tại Đại học Princeton, người đã được trao giải thưởng Nobel kinh tế vào ngày 10/10 vừa qua đã mang đến cho thế giới nhiều thay đổi.
Thành quả của họ góp phần làm thay đổi tư duy kinh tế vĩ mô trong những năm 1970- 1980. Vào thời điểm đó, chiếm ưu thế là học thuyết của Keynes, dựa trên một mối quan hệ giữa tổng thể các yếu tố kinh tế như lao động và đầu tư. Tuy nhiên, mô hình nghiên cứu phức tạp của Keynes lại là một rào cản cho việc phân tích và đưa ra chính sách. Tiếp đó, Robert Lucas, người giành giải Nobel năm 1995 đã lập luận rằng mô hình này không thể giúp dự báo chính xác về tác động của việc thay đổi chính sách.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Ba 2012
H B T N S B C
« Th2   Th4 »
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 302 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements