WILLIAM JAVIS & IAN C. MACMILLAN 

Hoàng Đăng dịch từ Harvard Business Review

Việc người tiêu dùng đang vay nợ đến mức kỷ lục để mua hàng hóa và dịch vụ, mặc cho các công ty bán hàng đang khó khăn, đôi khi sẽ là mối họa chí mạng.

Một công ty gỗ nội thất tung ra chương trình khuyến mãi sử dụng sản phẩm mà không phải đặt cọc hay thanh toán hàng hóa trong một năm. Người tiêu dùng vui mừng đón nhận hình thức tín dụng miễn phí này. Doanh số bán hàng tăng vọt. Với tổng doanh thu đang tăng nhanh làm vật đảm bảo, công ty bắt đầu vay ngân hàng để mở cửa hiệu thứ hai và hy vọng sẽ trả tiền cho ngân hàng, nhà cung cấp và nhân viên bằng các khoảng doanh thu trong tương lai.

Nhưng không may, đây không phải là hình thức tài trợ mà khách hàng hiện tại cũng như tiềm năng của công ty đang sử dụng. Thay vì thanh toán hóa đơn thẻ tín dụng mỗi tháng, ngày càng nhiều người tích dồn số dư và mặc cho nó tăng dần. Người ta dùng khoản vay kỳ hạn 72 tháng để mua ô tô mới. Họ chỉ bắt đầu chi trả cho các thiết bị gia dụng sau 12 tháng sử dụng và còn có nhiều hợp đồng kiểu mua-trước-trả-sau khác. Họ dùng hạn mức tín dụng nhà ở để đi du lịch.

Khi họ phải dành ra ngày càng nhiều thu nhập khả dụng của mình để chi trả các khoản nợ, các khoản mua sắm mới cũng sụt giảm đột ngột. Nhiều người bắt đầu tuyên bố không còn khả năng thanh toán các loại thẻ tín dụng, biến các khoản mua sắm trong quá khứ thành nợ khó đòi trong hiện tại.

Doanh số bán hàng của cửa hiệu gỗ nội thất sụt giảm nghiêm trọng, họ phải đóng cửa hiệu thứ hai, sa thải nhân công. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến bản thân cửa hiệu bán lẻ mà còn đến cả các nhà cung cấp và chủ cho vay của nó mà trong đó có vài công ty không còn tồn tại nữa. Cựu nhân viên cũng như các công ty khác làm ăn với những nhà cung cấp xấu số ấy cũng cảm thấy bị ảnh hưởng.

Mở rộng viễn cảnh này ra một chút, người tiêu dùng đã phụ thuộc vào các khoản tín dụng rẻ tiền và dễ dàng đến độ điều này đã trở thành mối hiểm họa lớn chưa từng có cho nền kinh tế. Hiếm có công ty nào miễn nhiễm với rủi ro. Người tiêu dùng đang vay nợ đến mức kỷ lục để mua hàng hóa và dịch vụ, mặc cho các công ty bán hàng cho họ đang lâm vào hiểm nguy, đôi khi còn mang họa chí mạng.

Nhưng may thay, người ta có thể chuẩn đoán, phân tích và quản lý “kẻ sát nhân” này. Một bảng phân tích với các chỉ số đơn giản có thể giúp bạn nhận biết những dấu hiệu cảnh báo về rủi ro đòn bẩy tiêu dùng (Consumer Leverage Exposure – CLE) và hành động để ngăn chặn từ xa phần lớn tác động phá hoại của nó lên công ty. Nhà quản lý nào phớt lờ các dấu hiệu cảnh báo ấy và mặc cho công ty nguy khốn thì thật đáng trách.

Rủi ro đòn bẩy tiêu dùng là gì?

Cũng giống như người giám đốc tài chính đánh giá tỷ lệ đòn bẩy của doanh nghiệp bằng lấy nợ chia thu nhập, chúng ta đo lường tỷ lệ đòn bẩy tiêu dùng bằng cách lấy tổng nợ của các hộ gia đình chia cho tổng thu nhập khả dụng của từng cá nhân. Cụ thể, đó là một phép tính về hiện nay người tiêu dùng Mỹ đang mắc nợ bao nhiêu ở dạng nợ thẻ tín dụng, nợ thế chấp, vay mua nhà, vay mua ôtô và vay học hành so với khả năng họ có thể trả hết khoản nợ đó. Khi cuộc triển lãm mang tên “Nợ tiêu dùng chồng chất” mở ra, tỷ lệ đòn bẩy tiêu dùng dừng ở mức 1.30, giảm đôi chút so với mức cao kỷ lục 1.33 vào cuối quý đầu năm 2008.

Đó là một con số đáng sợ: Phải mất 1,3 năm người tiêu dùng mới trả hết số nợ hiện tại bằng thu nhập sau thuế của mình, với điều kiện là họ hoàn toàn không tiêu xài số thu nhập trên vào bất kỳ khoản nào khác. Điều đó đồng nghĩa với không mua sắm quần áo, thức ăn, cà phê Starbucks hay bất cứ thứ gì khác trong suốt 16 tháng. Điều đáng sợ hơn chính là việc tỷ lệ này liên tục gia tăng trong suốt 35 năm qua, nhất là từ năm 2000.

Các nhà quản lý nên thực sự băn khoăn trước những số liệu thống kê trên bởi lợi nhuận và dòng ngân lưu của gần như tất cả công ty ở Mỹ đều được xây dựng trên chi tiêu tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp, điều này có nghĩa tính thất thường của tín dụng tiêu dùng thực sự là mối nguy hại nghiêm trọng cho các công ty.

Nhưng mối liên kết này không phải lúc nào cũng rõ ràng. Có bao nhiêu khách hàng trung thành của siêu thị chi trả thức ăn bằng thẻ tín dụng thay vì thẻ ghi nợ? Có bao nhiêu người bám víu vào hạn mức tín dụng tài sản nhà ở để chi trả cho kỳ nghỉ, bộ sofa mới hay chiếc máy sấy hơi nước tiên tiến của mình? Có bao nhiêu người dù nhận ra họ đang trên đà phá sản nhưng vẫn ra sức chi tiêu? Có bao nhiêu công ty không hề nhận biết mối liên kết gián tiếp giữa họ với những người tiêu dùng “nợ như chúa Chổm” ấy thông qua đại lý phân phối, cửa hàng bán lẻ và các tổ chức tài chính?

Các công ty tài trợ cho chi tiêu của khách hàng

Theo lẽ tự nhiên, một công ty càng trực tiếp tham gia vào việc cấp tín dụng tiêu dùng cho khách hàng thì nó càng dễ bị tổn thương trước tỷ lệ đòn bẩy tiêu dùng. Những công ty trực tiếp tài trợ cho các khoản mua sắm của khách hàng sẽ lâm vào cảnh không còn phương án cứu chữa một khi khách hàng hết hạn mức tín dụng và phải cắt giảm chi tiêu.

Đây là kịch bản chung cho những công ty bán hàng tiêu dùng giá trị cao như ôtô, gỗ nội thất, đồ điện tử và đồ gia dụng. Khi kinh tế suy thoái, các công ty này phải đối mặt với ba khó khăn cùng lúc.

Thứ nhất, doanh số sản phẩm sụt giảm nhanh chóng. Đồng thời, khoản thu nhập lãi vay từ hoạt động tài trợ doanh số bán hàng mới trong tương lai thường có ý nghĩa rất quan trọng, nay cũng tụt giảm. Và sau cùng, việc người tiêu dùng vỡ nợ và không thể thanh toán các khoản mua sắm trước đây khiến dòng thu nhập từ hoạt động bán hàng này lâm nguy.

Các nhà quản lý trong những ngành nghề nói trên cần làm việc cật lực để tìm ra cách hạn chế mức độ phụ thuộc của công ty vào những dòng doanh thu như thế. Hay ít nhất họ cũng nên lường trước tình huống lợi nhuận sụt giảm, xem nó như một dạng rủi ro đòn bẩy tiêu dùng không thể tránh khỏi trong thời buổi kinh tế khó khăn như hiện nay.

Các công ty chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng

Các nghiên cứu đã cho thấy khi có thẻ tín dụng, người tiêu dùng thường tiêu xài nhiều hơn so với khi họ chỉ có tiền mặt; do đó, một sự thay đổi dù là rất khiêm tốn của tỷ lệ đòn bẩy tiêu dùng cũng gây ảnh hưởng lớn đến doanh thu và lợi nhuận của công ty. Sự bất ổn trong chi tiêu này có thể khiến các nhà quản lý trên khắp thế giới lo ngại thực sự.

Hơn nữa, tỷ lệ vỡ nợ tăng sẽ đẩy mức phí tại các công ty thẻ tín dụng lên cao hơn bởi họ phải cố gắng dự phòng cho ngày càng nhiều rủi ro. Điều gây khó khăn ở đây không chỉ là số người vỡ nợ mà số tiền vỡ nợ đang ngày một gia tăng. Do nhiều khách hàng chưa tận dụng hết hạn mức tín dụng của mình nên khả năng những khoản nợ này tiếp tục tăng vẫn còn rất cao.

Do các công ty thẻ tín dụng đang đặt ra hạn mức và một mức phí mới cho cả người tiêu dùng và các công ty bán lẻ để dự trù chi phí cho các trường hợp phá sản và để tuân thủ theo nguồn luật điều chỉnh mới, chúng tôi tin rằng doanh số bán lẻ và lợi nhuận của các công ty sẽ giảm sút nghiêm trọng. Nếu công ty bạn cũng gặp nguy hiểm trước loại đòn bẩy tiêu dùng này, bạn cần nhanh chóng gia tăng lượng tài sản dự trữ từ lúc này.

Các công ty trong lĩnh vực tín dụng tiêu dùng

Nhiều công ty tạo ra nguồn thu nhập lành mạnh từ việc tạo ra, tái đóng gói và mua hoặc bán tín dụng tiêu dùng. Các công ty tài chính, công ty phát hành thẻ tín dụng, ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty quản lý tài sản và quỹ hưu trí, và còn nhiều công ty khác nữa, đều sẽ chịu tác động trực tiếp của rủi ro đòn bẩy tiêu dùng.

Trong giai đoạn suy thoái, khi tỷ lệ đòn bẩy tiêu dùng cao, dòng doanh thu có thể cạn kiện nhanh chóng khi người tiêu dùng ngưng tìm kiếm nguồn tín dụng mới vì gánh nặng nợ nần, còn ngân hàng cũng giới hạn cho vay so với trước kia. Khi những khách hàng được tiếng là đáng tin cậy trước kia bị vỡ nợ, các sản phẩm chứng khoán hóa cũng mất giá nhanh chóng và quá trình chứng khoán hóa các sản phẩm mới cũng chậm đi, từ đó góp phần ngăn chặn tốc độ làn truyền hay phát tán rủi ro.

Hơn nữa, do thẻ tín dụng không giống như vay cầm cố hay vay mua xe vì không được bảo lãnh bằng vật chế chấp, nên những công ty thẻ tín dụng hiếm khi thu hồi được tiền nếu người dùng thẻ của họ phá sản. Có thể cuộc khủng hoảng nhà ở đã chấm dứt nhưng cuộc khủng hoảng tín dụng đang đến: do đó, các nhà quản lý tài chính cần trụ vững trước số lượng phá sản tiêu dùng cao kỷ lục với những khoản tiền cao kỷ lục.

Các công ty có tỷ lệ đòn bẩy quá cao

Khó khăn với đòn bẩy tiêu dùng còn tăng lên gấp bội khi bản thân công ty lại quá lệ thuộc vào vay nợ, như ví dụ của chúng tôi về một công ty bán lẻ gỗ nội thất. Độ tín nhiệm tiêu dùng đi xuống nhanh chóng đưa công ty vào cảnh phá sản bởi vỡ nợ tiêu dùng và doanh số tụt giảm đã triệt tiêu khả năng trả lại các khoản vay của công ty.

Nhiều công ty từng tham gia cuộc bùng nổ cho vay đòn bẩy vào nửa đầu thập niên 2000 hiện đang gánh một số nợ khổng lồ trong cấu trúc vốn và đặc biệt dễ tổn thương trước loại rủi ro này bởi chúng phụ thuộc quá nhiều vào doanh số bán hàng để trả lãi vay các khoản nợ. (Nhưng trái lại, nhiều công ty về công nghệ ra đời từ nguồn vốn đầu tư mạo hiểm lại gần như không hề mắc nợ, điều này giúp cho rủi ro đòn bẩy tiêu dùng ít nguy hại hơn với những công ty này).

Chúng tôi tin rằng chính hiện tượng đòn bẩy kép này, trong đó đòn bẩy công ty còn nguy hại hơn đòn bẩy tiêu dùng, sẽ đánh gục một số tập đoàn có lịch sử lâu đời nhất thế giới.

Các công ty trong những ngành nguy hiểm

Với các số liệu thống kê, chúng ta có thể đánh giá lĩnh vực nào bị ảnh hướng lớn nhất bởi rủi ro đòn bẩy tiêu dùng. Bảng “Ai chịu nhiều rủi ro nhất?” cho chúng ta biết 10 lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trước những thay đổi về tỷ lệ đòn bẩy tiêu dùng.

1: Hàng tiêu dùng không thiết yếu (Consumer Discretionary): gồm những nhóm hàng tiêu dùng nhạy cảm với chu kì của nền kinh tế như: xe hơi, hàng gia dụng lâu bền (đồ điện tử gia dụng), hàng may mặc và các thiết bị giải trí, giáo dục. Nhóm dịch vụ bao gồm khách sạn, nhà hàng, trung tâm giải trí, truyền thông.

2: Hàng tiêu dùng thiết yếu (Consumer Staples): bao gồm các công ty sản xuất và phân phối lương thực, thực phẩm, nước giải khát, thuốc lá và các sản phẩm gia dụng không lâu bền, các vật dụng cá nhân. Nó cũng bao gồm các siêu thị, trung tâm bán lẻ thực phẩm và thuốc.

3: Công nghệ thông tin (Information Technology): bao gồm các công ty nghiên cứu và sản xuất phần mềm cùng các dịch vụ liên quan và các công ty sản xuất các thiết bị công nghệ phần cứng cùng các công ty sản xuất chất bán dẫn và thiết bị bán dẫn.

4: Dịch vụ tài chính (Financial Services): gồm các ngân hàng, công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư tài chính và bất động sản, các công ty cung cấp các dịch vụ tài chính khác.

5: Dịch vụ điện nước (Utilities): gồm các công ty sản xuất và phân phối điện năng, các công ty quản lý hệ thống nước, gas sinh hoạt.

6: Chăm sóc sức khỏe (Health Care): bao gồm các công ty cung cấp các dịch vụ, thiết bị chăm sóc sức khoẻ và các công ty nghiên cứu, phát triển sản xuất dược phẩm và các sản phẩm công nghệ sinh học.

7: Năng lượng (Energy): bao gồm các công ty thăm dò, khai thác, chế biến, vận tải… các sản phẩm dầu khí, than đá, nhiên liệu, chất đốt.

8: Viễn thông (Telecommunications): gồm các công ty cung cấp các dịch vụ viễn thông như: dịch vụ viễn thông cố định, không dây, băng thông rộng…

9: Công nghiệp (Industrials): gồm các công ty chế tạo các loại máy móc công nghiệp, thiết bị điện; công nghiệp quốc phòng, xây dựng, giao thông vận tải cùng các dịch vụ liên quan.

10: Nguyên vật liệu (Materials): đây là một nhóm ngành rộng bao gồm các công ty hoá chất, vật liệu xây dựng, kính, giấy, lâm sản; các công ty khai mỏ và luyện kim; các công ty sản xuất các sản phẩm bao bì đóng gói (gồm cả bao bì giấy, kim loại, thuỷ tinh).

Rõ ràng bạn phải bắt đầu từ những doanh thu phát sinh trực tiếp từ người tiêu dùng. Do đó, dĩ nhiên hai chức năng marketing và bán hàng của công ty phải đánh giá được người tiêu dùng đóng góp bao nhiêu phần trăm vào doanh thu của công ty (trái với hình thức bán hàng B2B) cũng như mức độ tài trợ của công ty đối với những giao dịch mua của khách hàng.

Hai chức năng marketing và bán hàng cũng cần tập trung nghiên cứu sự thay đổi trong thói quen tiêu xài của người tiêu dùng ảnh hưởng ra sao đến doanh số của công ty. Và họ cũng nên theo dõi tỷ lệ vỡ nợ vay tiêu dùng và xu hướng suy giảm điểm tín dụng tiêu dùng.

Nhân viên tài chính và kế toán của công ty cần theo sát yếu tố thời gian cần thiết để thu hồi các khoản phải thu từ khách hàng và xu hướng của tỷ lệ giao dịch mua được thực hiện bằng thẻ tín dụng so với tiền mặt. Họ cũng nên điều chỉnh khoản dự trữ của công ty cho thua lỗ từ các món nợ xấu đồng thời hiệu chỉnh các điều khoản tín dụng tiêu dùng (nếu cần thiết). Và, ở cấp tổ chức cao hơn, họ cần theo sát tỷ lệ đòn bẩy của chính công ty.

Các bộ phận cần nghiên cứu độ nhạy cảm của các nhà cung cấp, phân phối làm việc với công ty trước các món nợ đang tăng nhanh của chính các khách hàng của công ty. Giám đốc quản lý rủi ro nên lập mô hình cho các  tác động ở mọi cấp độ của đòn bẩy tiêu dùng lên thu nhập và lợi nhuận của công ty. Họ cũng nên thực hiện mô phỏng hóa để thấy được thay đổi trong đòn bẩy tiêu dùng sẽ tác động như thế nào lên mô hình kinh doanh của công ty. Và họ cũng nên nghiên cứu dữ liệu khách hàng để phát hiện những khách hàng nào có nguy cơ vỡ nợ.

Nhóm chiến lược của công ty không nên bỏ sót tỷ lệ đòn bẩy tiêu dùng của lĩnh vực, sản phẩm và khách hàng mục tiêu. Và họ nên so sánh mức độ rủi ro của công ty so với của đối thủ cạnh tranh. Rõ ràng là trong giai đoạn suy thoái, khi đối thủ của bạn vượt trội trong lĩnh vực này, họ sẽ có một lợi thế cạnh tranh đích thực.

Xét trên phương diện chi phí, bạn nên cân nhắc về tính linh hoạt – tức là có bao nhiêu phần chi phí là cố định, bao nhiêu phần là biến đổi. Nhằm hướng tới nền kinh tế theo tăng trưởng và theo quy mô, nhiều công ty phải gánh các khoản chi phí cố định và mặc cho chính công ty mình đứng trước nguy cơ sụp đổ về nguồn cầu.
Lợi nhuận hoạt động và tỷ suất lợi nhuận thường nhạy cảm hơn nhiều so với tổng doanh số trước những thay đổi của đòn bẩy tiêu dùng. Điều này có nghĩa là trong các bước thực hiện, bạn cần tính đến và quản lý rủi ro đòn bẩy tiêu dùng nhưng không phải là trên phương diện doanh thu, chức năng bán hàng, marketing mà trên phương diện chi phí và theo một cách mà bạn quản lý được giao dịch mua, nguồn cung ứng, chi phí hoạt động và vốn hoạt động.

NGUỒN: tuanvietnam.net

Advertisements