You are currently browsing the daily archive for 27/05/2009.

LUKE PAIS

Luke Pais hiện là Giám đốc Bộ phận Tư vấn Giao dịch Tài chính thuộc Hãng Kiểm toán và Tư vấn Ernst & Young Singapore. Luke tư vấn cho khách hàng về các giao dịch sáp nhập – mua lại (M&A) và giao dịch thị trường vốn tại Singapore và khu vực Đông Nam Á.

Giao dịch tài chính đã trở nên phổ biến và mang tính cạnh tranh tại Việt Nam, các chiến lược định giá ngày càng hoàn thiện và bên mua có xu hướng định giá thấp hơn cho các hợp đồng mua bán. Trong bối cảnh giá trị giao dịch được đề xuất dựa trên các thông tin tài chính mới nhất và luôn có một khoảng thời gian nhất định giữa thời điểm ký kết và thời điểm hoàn tất giao dịch, các cơ chế điều chỉnh giá trị giao dịch ngày càng trở nên quan trọng.

Tìm hiểu cơ chế điều chỉnh giá

Cơ chế điều chỉnh giá được quy định trong hợp đồng mua bán nhằm điều chỉnh các biến động về giá trị giao dịch, thông thường bằng cách tham chiếu đến bảng cân đối kế toán, giữa ngày ký kết giao dịch và ngày hoàn tất giao dịch.

Mục đích của cơ chế điều chỉnh giá:

(i) Giúp bên mua và bên bán phân chia rủi ro và lợi ích từ phần vốn được bán trước khi giao dịch hoàn tất.

(ii) Là cầu nối giữa tình hình tài chính của bên bán được sử dụng làm căn cứ để xác định giá trị giao dịch (thông thường là những thông tin tài chính mới nhất sẵn có trước khi ký kết) và tình hình tài chính tại ngày hoàn tất giao dịch. Thời gian để hoàn tất giao dịch thường diễn ra trong 1 – 6 tháng, trong một số trường hợp có thể kéo dài tới một năm hoặc lâu hơn.

Cơ chế định giá là một khái niệm tương đối đơn giản, nhưng việc soạn thảo và thực hiện cơ chế này lại không hề đơn giản. Ví dụ sau đây minh họa rõ hơn điều này (xem bảng: Nghiên cứu tình huống).

Đọc tiếp »

Advertisements

TẠ NGỌC TẤN

TCCS – Khủng hoảng tài chính toàn cầu là vấn đề xuyên suốt, trọng tâm của kinh tế thế giới năm 2008 và hiện là tâm điểm sự chú ý của dư luận toàn thế giới. Cuộc khủng hoảng này bắt đầu từ hoạt động cho vay thế chấp dưới chuẩn quá dễ dãi và thiếu kiểm soát ở Mỹ dẫn đến sự đổ vỡ dây chuyền trong ngành tài chính Mỹ bắt đầu từ giữa tháng 9-2008, sau đó đã lan qua Đại Tây Dương, tới châu Âu, châu á và gây ra cơn “địa chấn” kinh tế toàn cầu. Chỉ riêng trong năm 2008 đã có trên 30 nghìn tỉ USD, tức là xấp xỉ một nửa vốn toàn thế giới bị “bốc hơi”. Một loạt tập đoàn kinh tế lớn như General Motors, Chrysler,… đứng trên bờ vực phá sản. Sau nỗi hoảng sợ của cả thế giới là trạng thái “đóng băng” tín dụng gần như trên phạm vi toàn cầu. Nhiều nghiên cứu đã phân tích căn nguyên cũng như hệ quả của khủng hoảng dưới nhiều góc độ khác nhau. Bài viết này phân tích cuộc khủng hoảng dưới góc độ lợi ích.

Cuộc khủng hoảng tài chính đã đẩy nền kinh tế toàn cầu lâm vào suy thoái với sức lây lan nhanh và mức độ nghiêm trọng chưa từng thấy. Theo dự báo, nền kinh tế các nước G7 từ mức tăng trưởng GDP 1% năm 2008 tụt xuống -2% năm 2009. ở các nền kinh tế đang phát triển có đà tăng trưởng nhanh như Nga, Trung Quốc, ấn Độ, mức tăng GDP năm 2009 cũng chỉ còn bằng xấp xỉ 50% năm 2007. Đầu tư FDI toàn cầu, vốn ODA cam kết và lượng kiều hối chảy về các nước đang phát triển đều sụt giảm nghiêm trọng. Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá, cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay còn nặng nề, tồi tệ hơn cả cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới thời kỳ 1929 – 1933.

1 – Tại sao khủng hoảng?

Cần trở lại lịch sử của vấn đề để tìm câu trả lời. Vào những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, dưới thời Tổng thống R. Ri-gân, một lý thuyết kinh tế mới đã ra đời ở nước Mỹ và nhanh chóng tìm được sự hưởng ứng mạnh mẽ trong cả hệ thống các nước tư bản, đặc biệt là ở Anh với Thủ tướng lúc đó là M. That-chơ. Lý thuyết đó sau này được người ta gọi là chủ nghĩa tự do mới hay là chủ nghĩa Ri-gân. Hạt nhân của học thuyết tự do mới là hạn chế đến mức thấp nhất sự can thiệp của chính phủ vào lĩnh vực kinh tế để cho nền kinh tế vận hành tự do hoàn toàn theo cơ chế thị trường.

Dưới thời Tổng thống B. Clin-tơn, chủ nghĩa tự do mới được tiếp thêm sức để vượt qua rào cản an toàn cuối cùng với việc dỡ bỏ Đạo luật Glass – Steagall, một đạo luật về chế độ kiểm soát hệ thống ngân hàng được ra đời trên cơ sở những bài học từ sự đổ vỡ trong cuộc đại khủng hoảng 1929 – 1933.

Những thiết chế mới dựng lên từ học thuyết tự do mới đã cho phép các ngân hàng cho vay tín dụng dưới chuẩn, một loại tín dụng thế chấp rủi ro cao để các hộ gia đình mua bất động sản. Trong khi năng lực trả nợ của khách hàng rất thấp và giá trị món tiền vay lại tùy thuộc vào thời giá của ngôi nhà định mua. Đồng thời, nợ được chuyển giao từ người này sang người khác thông qua quá trình trái phiếu hóa các khoản nợ này cho các nhà đầu tư. Khi các ngân hàng chạy theo lợi nhuận một cách quá tham lam, cộng với thể chế tài chính cho phép, hàng loạt các khoản nợ đã chồng lên nợ và đã được biến thành cổ phiếu thông qua quá trình trái phiếu hóa. Thêm vào đó là các hoạt động tín dụng tiêu dùng rất phát triển tại Mỹ cho phép người dân có thể tiêu dùng vượt lên trước những nguồn thu nhập đang hứa hẹn trong tương lai.

Cứ như vậy, lợi ích cá nhân, chủ nghĩa tiêu dùng theo kiểu Mỹ làm cho vòng quay “cho vay – vay – tiêu dùng – nợ – trả nợ…” vận hành với tốc độ quá mức kiểm soát mà vẫn tạo ra cảm giác ai cũng có lợi. Chỉ đến khi một mắt xích nhỏ nào đó bị trục trặc, chẳng hạn, một doanh nghiệp mất khả năng chi trả hay một cá nhân bị thất nghiệp, thì nhà kinh doanh không thu được tiền từ tín dụng thương mại, nhà ngân hàng không có tiền để chi trả – mất khả năng thanh toán. Lúc này mới vỡ lẽ ra thực chất là tư bản giả phình to quá mức, trở thành “bong bóng”. Khi cái “bong bóng” này vỡ ra thì toàn bộ nền kinh tế đều rơi vào trạng thái thiếu tiền, buộc chính phủ phải bơm tiền hết lần này đến lần khác cho tới khi nền kinh tế thoát ra khỏi vòng xoáy đó.

Đọc tiếp »

TÔ THỊ NGỌC KHUYÊN

1.1. Khái quát chung về quan hệ pháp luật thuế

1.1.1 Khái niệm quan hệ pháp luật thuế

Quan hệ pháp luật được hiểu là quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản pháp luật. Vì vậy, nói đến quan hệ pháp luật về thuế là nói đến quan hệ xã hội giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản pháp luật thuế.

Theo quan niệm phổ biến hiện nay, thuế: “là khoản trích nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức, cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định” [5,Tr.10]. Nhà nước dùng ngân sách để đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Trong khi đó, phần lớn các khoản thu đóng góp vào ngân sách nhà nước bắt nguồn từ việc nộp thuế của người dân. Do vậy, cần phải có một hệ thống qui phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ thuế phát sinh trên thực tế.

Quan hệ pháp luật thuế được phân biệt với các quan hệ pháp luật khác bởi các đặc trưng sau:

Thứ nhất, quan hệ pháp luật thuế là quan hệ pháp luật hành chính giữa một bên là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (chủ thể quản lý) và bên kia là các tổ chức cá nhân chịu sự quản lý (bao gồm các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế và các chủ thể khác có liên quan). Vì vậy mà một bên tham gia quan hệ pháp luật thuế bao giờ cũng là cơ quan quản lý thuế. Các cơ quan này được sử dụng quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo rằng các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo qui định của pháp luật.

Thứ hai, quan hệ pháp luật thuế luôn mang tính quyền uy, pháp luật qui định cụ thể những quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ, trong đó, nội hàm kinh tế của nghĩa vụ thuế là việc tổ chức, cá nhân thuộc diện nộp thuế phải chuyển cho nhà nước một phần tài sản của mình dưới hình thức tiền tệ mà không được hoàn trả trực tiếp và không đối giá. Quyền và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật thuế được đảm bảo thực hiện thông qua các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Đọc tiếp »

NGUYỄN THU PHƯƠNG (dịch và biên soạn)

Hôm nay vừa đọc tờ báo viết về hai sản phẩm mới của BaoVietBank là "Tích Trường Phú" và "Tín Tài Nghiệp", tôi chợt nhớ ra hồi sinh viên có đi dự hội thảo về sản phẩm dịch vụ tài chính của IDG có nghe nói tới sản phẩm Bancassurance. Vậy là đã tới 3 năm rồi mà có vẻ sản phẩm đó tại Việt Nam cũng không được chào đón lắm. Nguyên nhân vì sao?

Có lẽ phải làm một cuộc điều tra nho nhỏ mới rõ được. Tôi đã thử dịch lại bài (và có biên tập lại theo quan điểm của cá nhân – tất nhiên là đã được sự đồng ý bởi tác giả) của tác giả Douglas.A.Jaffe – Giám đốc phát triển khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Financial Insights. Gửi mọi người đọc và thảo luận nhé. Liệu Việt Nam có bao nhiêu chỗ đứng cho những sản phẩm như Bancassurance?

1. Bancassurance là gì?

Đây là một khái niệm dùng để gọi chung cho các hình thức hợp tác của các công ty bảo hiểm và các ngân hàng, trong đó các ngân hàng có vai trò thực hiện việc phân phối các sản phẩm cho các công ty bảo hiểm tuỳ thuộc theo mức độ thoả thuận hợp tác của hai bên và hưởng phí hoa hồng như các đại lý bán bảo hiểm.

2. Sự vận động của các Bancassurance

Tại sao chúng ta lại cần đến một cách thức phân phối mới cho các sản phẩm bảo hiểm?

Hiện nay chúng ta đang sống và tiếp tục phát triển trong một nền kinh tế tri thức. Đó là nền kinh tế phát triển không ngừng. Kinh tế tri thức lấy ngành công nghệ cao làm trụ cột. Các sản phẩm công nghệ cao có đặc trưng khác hẳn với sản phẩm thông thường. Sản phẩm công nghệ cao tồn tại trong mạng lưới và hệ thống sinh thái gắn kết với nhau và ít nhiều ảnh hưởng tới nhau.
Gắn theo xu thế của thời đại, về chính trị chuyển từ đối đầu sang đối thoại thì trong kinh tế chuyển từ cạnh tranh đối kháng sang cạnh tranh hợp tác. Thời đại cạnh tranh và hợp tác để cùng tồn tại, có sự phân hoá lớn đồng thời có sự cộng sinh giữa độc quyền và chống độc quyền. Cạnh tranh hợp tác đã làm hình thành lên các tổ chức, các liên minh kinh tế thương mại như: Khối thị trường chung châu Âu(EU), khối (NAFTA), OECD, AFTA, ASEAN, APEC,…

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Năm 2009
H B T N S B C
« Th4   Th6 »
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 302 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements