You are currently browsing the daily archive for 20/05/2009.

PGS.TS. Nguyễn Thị Mùi – ThS. Trịnh Thanh Huyền

Cho đến nay, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vẫn chưa có dấu hiệu bị khống chế hay kiểm soát và hầu hết các dự báo vẫn đang tiếp tục “dò đáy”. Đối với các nền kinh tế đang phát triển, vì tác động của cuộc khủng hoảng chậm hơn nên thời điểm phục hồi cũng đến chậm hơn so với các nền kinh tế phát triển.

1. Kinh tế Việt nam năm 2008 và những tháng đầu năm 2009

Đối với Việt Nam, dù cuộc khủng hoảng được khơi mào ở Mỹ từ cuối năm 2007 và đã bùng phát trên phạm vi toàn cầu từ giữa năm 2008 nhưng phải đến cuối năm 2008, Việt Nam mới thực sự bị cuốn vào vòng xoáy này. Trong quý I/2009 vừa qua, GDP chỉ tăng ở mức khoảng 3,1% so với cùng kì năm ngoái – mức thấp nhất trong vòng 10 năm qua và là tín hiệu cảnh báo nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng chậm lại trong năm 2009 này. Kim ngạch xuất khẩu tăng 2,42% so với cùng kỳ năm 2008, đạt 13,479 tỷ USD nhưng nếu trừ đi tới 2,287 tỷ USD xuất khẩu vàng, đá quý (mà phần lớn là xuất khẩu vàng), thì kim ngạch xuất khẩu lại giảm 13,8%(i) bởi có tới 12/13 mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã suy giảm nghiêm trọng với mức giảm trung bình 10-20%, thậm chí một số mặt hàng giảm tới hơn 40%. Tổng vốn FDI cũng giảm mạnh, cả số lượng dự án cũng như vốn đăng ký và vốn giải ngân (hết quý I/2009 mới chỉ có 93 dự án được cấp phép với vốn đăng ký là 2,2 tỷ USD so với con số hơn 60 tỷ USD năm 2008). Sản xuất trong nước, tất nhiên cũng không thể khả quan khi kết thúc quý I/2009, giá trị sản xuất công nghiệp chỉ đạt 3,76%, mức thấp nhất trong 20 năm trở lại đây. Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) liên tục lao dốc từ cuối năm 2008 và trong suốt quý I/2009, chỉ số VN-Index chỉ quanh quẩn ở mức dưới 300 điểm với mức thấp nhất là 235,18 điểm (trong đợt khớp lệnh thứ hai của ngày 24/2/2009) – mức kỷ lục kể từ khi mở cửa TTCK đến nay (ii). Các chỉ tiêu trên cho thấy dấu hiệu suy giảm kinh tế của Việt Nam đang dần đậm nét hơn.

Đọc tiếp »

Advertisements

NGUYỄN THU HƯỜNG

Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia là một nhiệm vụ quan trọng mà hầu hết các quốc gia đều trao cho NHTƯ. Luật về NHTƯ của các nước đều có các quy định về nhiệm vụ của NHTƯ trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Chẳng hạn, Luật ngân hàng Cộng hòa liên bang Đức 1957 quy định nhiệm vụ của ngân hàng Cộng hòa liên bang Đức trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia ở Điều 3; Luật NHTƯ Pháp năm 1993 quy định nhiệm vụ này tại Điều 1; Luật ngân hàng quốc gia Hungari năm 1991 quy định ở Điều 3, 4; Luật NHNN Việt Nam quy định tại Điều 15. Việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội của đất nước. Do vậy, pháp luật phải quy định hết sức chặt chẽ về cơ chế hoạt động của NHNN trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia nhằm tránh các ảnh hưởng bất lợi của chính sách tiền tệ đối với tiến trình phát triển của nền kinh tế xã hội. NHNN (với tư cách là NHTƯ) đã tiến hành một số hoạt động khác nhau như: Hoạt động tái cấp vốn, hoạt động quy định lãi suất, hoạt động quy định tỷ giá hối đoái, hoạt động quy định dự trữ bắt buộc, hoạt động nghiệp vụ thị trường mở và một số hoạt động khác để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia một cách chủ động và hiệu quả nhất.

1. Hoạt động tái cấp vốn

1.1. Pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động tái cấp vốn

Theo Khoản 10 Điều 9 Luật NHNN đã được sửa đổi, bổ sung năm 2003, tái cấp vốn được hiểu “là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của NHNN nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng”. Điều 17 Luật NHNN đã được sửa đổi, bổ sung có quy định ba hình thức tái cấp vốn sau đây:

Đọc tiếp »

Bắt đầu từ thập kỷ 70, dự báo rủi ro tài chính đã trở thành một hướng phát triển mạnh mẽ của mô hình hóa thống kê xác suất. Khi nhắc tới rủi ro tài chính gần như ngay lập tức người ta liên tưởng tới hoạt động quản lý danh mục đầu tư, định giá quyền chọn (option) và các công cụ tài chính khác. Công thức định giá quyền chọn (option) Black-Scholes, bài viết về định giá trái phiếu công ty của Merton, … là những khái niệm quen thuộc.

Mặc dù không hề kém quan trọng, đặc biệt trong thực tiễn kinh doanh tài chính, các ứng dụng dự báo rủi ro tài chính với các khoản vay thể nhân, tính điểm tín dụng và hành vi, dường như chưa nhậ được sự quan tâm đúng mức. Lý thuyết về lĩnh vực này tương đối hạn chế với số lượng ít ỏi công trình đánh giá tổng quan như khảo sát các phương pháp định lượng trong quản lý tín dụng của Rosenberg và Gleit; các phương pháp phân loại thống kê tín dụng thể nhân của Hand và Henley; các công trình của Thomas về mô hình quản lý rủi ro tài chính, các phương pháp phân loại tín dụng thể nhân, tổng quan về các phương pháp tính điểm tín dụng và hành vi; sách về thống kê trong tài chính của Hand và Jacka; sách về tính điểm tín dụng của Lewis; sách về tính điểm tín dụng và kiểm soát tín dụng của Thomas, Crook, và Edelman, sách mô hình hóa rủi ro tín dụng Mays.

Kể tự khi ra đời, lý thuyết về tính điểm tín dụng ghi nhậ hai thành tựu quan trọng: (1) thực sự tồn tại nhu cầu phát triển các kỹ thuật dự báo rủi ro của khách hàng tương thích với biến đọng điều kiện kinh tế; và (2) mục đích tính điểm chuyển từ việc xác định các khách hàng khả năng vỡ nợ cao sang tìm kiếm các khách hàng có khả năng tạo ra lợi nhuận tốt nhất. Chất xúc tác quan trọng cho các phát triển này chính là sự bùng nổ về thông tin của giao dịch của khách hàng.

Hai kỹ thuật đánh giá cơ bản hỗ trợ tổ chức tín dụng ra quyết định cấp tín dụng cho khách hàng là tính điểm tín dụng và tính điểm hành vi. Để ra quyết định cấp tín dụng cho khách hàng giao dịch lần đầu tiên, tổ chức tín dụng sử dụng kỹ thuật tính điểm tín dụng. Các quyêtd định đối với khách hàng hiện tại (có tăng hạn mức tín dụng không? áp dụng chính sách marketing nào? nếu khách hàng không trả nợ đúng hẹn thì xử lý ra sao?) được đưa ra dựa trên điểm số về hành vi của khách hàng.

Đọc tiếp »

ThS. TRẦN VŨ HẢI

I. BẢN CHẤT CỦA THUẾ VÀ PHÍ NHÀ NƯỚC

Bản chất của thuế là một vấn đề hết sức phức tạp, còn có nhiều quan điểm khác nhau. Có lẽ chính vì lẽ đó mà không có định nghĩa về thuế trong các văn bản pháp luật của hầy hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Một cách đơn giản nhất, thuế được hiểu là khoản trích nộp bằng tiền mà các tổ chức, cá nhân phải đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhà nước. Mục đích cơ bản của thuế là:

(i) chia sẻ thu nhập của chủ thể nộp thuế với nhà nước để nhà nước thực hiện các chức năng của mình vì lợi ích của xã hội;

(ii) thiết lập công bằng theo hướng, người có thu nhập cao hơn phải có trách nhiệm thuế lớn hơn.

(iii) định hướng tiêu dùng xã hội thông qua việc đánh thuế vào những tài sản đặc thù.

Thuế là khoản thu mà chủ thể nộp thuế có nghĩa vụ phải đóng góp cho quỹ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật thuế. Theo cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam, khái niệm thuế được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm những khoản thu được định danh là thuế do Quốc hội ban hành. Đọc tiếp »

TS. PHÙNG VĂN HÙNG

Hoạt động của các tổ chức tài chính nói chung và các ngân hàng nói riêng luôn có những rủi ro, trong đó mất khả năng thanh toán là rủi ro lớn nhất. Hậu quả có thể dẫn tới là hệ thống tài chính quốc gia bị tê liệt; xã hội bị bất ổn và niềm tin của các nhà đầu tư sẽ bị giảm sút. Một trong những công cụ phòng ngừa được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay là bảo hiểm tiền gửi (BHTG). Bảo hiểm tiền gửi là cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG và người gửi tiền về việc tổ chức BHTG sẽ chi trả tiền gửi được bảo hiểm cộng với tiền lãi nhập gốc cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền.

Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài có vị trí hết sức quan trọng cho tăng trưởng kinh tế; và đặc biệt có một bộ phận không nhỏ người dân Việt Nam cuộc sống của họ chỉ biết trông chờ vào lãi suất thu được từ việc gửi tiền tiết kiệm tại các ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng, thì vần đề bảo hiểm tiền gửi lại càng có ý nghĩa quan trọng. Ngày 01/09/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi. Tiếp theo đó, ngày 9/11/1999 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg về việc thành lập cơ quan BHTG Việt Nam. Sau 9 năm đi vào hoạt động tổ chức BHTG tại Việt Nam đã và đang tiếp tục khẳng định tốt vai trò của mình trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo sự phát triển an toàn của hệ thống ngân hàng, ổn định an ninh chính trị và đời sống xã hội. BHTG được xem như một lời đảm bảo công khai và hữu hiệu của Chính phủ để củng cố lòng tin của công chúng; hạn chế tình trạng người gửi tiền đổ xô đi rút tiền hàng loạt tại ngân hàng vì nghe tin đồn thất thiệt, không có cơ sở về tình hình hoạt động tài chính kém lành mạnh của một ngân hàng nào đó; hoặc thậm chí ngay cả trong trường hợp thực sự có sự đổ vỡ của một ngân hàng nào đó thì Nhà nước cũng sẽ có biện pháp can thiệt kịp thời nhằm tránh sự lây lan sang tổ chức tín dụng đang hoạt động lành mạnh khác.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Năm 2009
H B T N S B C
« Th4   Th6 »
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 302 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements