You are currently browsing the daily archive for 09/05/2009.

MẠC QUANG HUY

Cơn địa chấn “Lehman Brothers” (Lehman) đã đi vào lịch sử không thể nào quên đối với giới đầu tư tài chính toàn cầu và chắc chắn sẽ tốn kém nhiều giấy mực của giới học thuật. Sau những dòng cảm xúc về sự sụp đổ của Lehman, người viết xin chia sẻ một góc nhìn của người trong cuộc về cái chết của Lehman.
Theo quan điểm cá nhân của người viết, sự sụp đổ của Lehman bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân song có thể tổng hợp lại ở bốn nhóm nguyên nhân chính: các quyết định kinh doanh rủi ro, cách thức giải quyết khủng hoảng, sự không may mắn và các nhân tố khác. 
Các quyết định kinh doanh rủi ro
Trước hết có thể kết luận Lehman là nạn nhân của chính mình chứ không phải ai khác. Ngân hàng đầu tư là một
định chế tài chính có mức độ rủi ro rất cao và kiếm tiền thông qua quản trị rủi ro. Rủi ro cao đối với lĩnh vực bất động sản trong bối cảnh một cuộc khủng hoảng tín dụng toàn diện và khốc liệt trong lịch sử là nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của một đế chế tài chính già cỗi 158 năm tuổi. 
Trong bài viết trước đây "Khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ: Từ A-Z" , người viết đã trình bày toàn cảnh về cuộc
khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn từ nguyên nhân, cách thức kiếm tiền của các ngân hàng đầu tư đến hậu quả gánh chịu của thị trường. Khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn đã lan sang tín dụng trên chuẩn và toàn bộ thị trường tín dụng nói chung. Lehman cũng như các ngân hàng đầu tư khác sử dụng các phát minh tài chính mà cụ thể là nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitisation) để biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản (MBS, MBO, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường. 
Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các
khoản vay mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng bất động sản làm tài sản đảm bảo. Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản càng tăng làm giá bất động sản càng giảm. Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng. Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy làm cho giá chứng khoán sụt giảm mạnh. Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản. Hậu quả là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh.

Đọc tiếp »

Advertisements

Bằng chứng về những thỏa thuận cho vay đã xuất hiện ở nhiều nền văn minh cổ đại, đặc biệt những nhà nghiên cứu đã ghi nhận về sự tồn tại của ít nhất là hai tổ chức hoạt động theo hình thức ngân hàng ở Babylonia và Assyria khoảng vài ngàn năm trước Công Nguyên. Những công cụ vốn và trái phiếu bắt đầu được phát triển vào những thế kỷ 16. Những chứng khoán chuyển đổi cũng có lịch sử phát triển từ khá lâu. Ở Châu Âu lục địa, vào thế kỷ 16 đã có những loại cổ phần được phát hành kèm với điều khoản chuyển đổi thành các khoản nợ trong trường hợp một số điều khoản đi kèm bị phá vỡ. Tương tự, các dạng cổ phiếu ưu đãi cũng đã được phát triển từ giai đoạn này. Hoạt động giao dịch chứng khoán, xét trên góc độ tài chính, có một lịch sử rất dài. Các dạng cổ phần đã bắt đầu được giao dịch ở Antwerp và Amsterdam từ đầu những năm 1600. Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn bắt đầu được giao dịch khi sàn Amsterdam ra đời vào năm 1611.

Thế kỷ 18 chứng kiến nhiều sàn giao dịch ở Châu Âu trải qua những giai đoạn "bong bóng thị trường" (stock market bubble). "Bong bóng South Sea" (1720) là một ví dụ điển hình. Vào thời điểm đó, giá cổ phiếu công ty South Sea tăng từ 131% mệnh giá vào tháng 2 lên 950% vào ngày 23/6, nhưng lại tụt giá trị còn bằng 200% mệnh giá vào tháng 12. Sự kiện bong bóng thị trường này là nguyên nhân trực tiếp hình thành bộ luật Bubble Act (tạm dịch là "luật về giá bong bóng"). Đạo luật này bắt buộc mỗi công ty khi đăng ký thành lập phải có điều lệ và cũng nghiêm cấm công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh không mô tả trong điều lệ.

Đọc tiếp »

THS. Đặng Thị Hoàng Liên

1. Mục tiêu và phạm vi của tính hiệu quả trong các cuộc kiểm toán hoạt động.

Tính hiệu quả không phải là một yếu tố duy nhất trong một cuộc kiểm toán hoạt động đối với một chương trình hoạt động hoặc quá trình hoạt động. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tính hiệu quả có thể là trọng tâm chính của một cuộc kiểm toán hoạt động bởi vì vai trò của tính hiệu quả là nhằm đạt được các mục tiêu của một đơn vị. Tất cả các biến số quan trọng ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các nguồn lực mà một đơn vị sử dụng và hàng hóa hoặc dịch vụ mà đơn vị đó tạo ra sẽ được xem xét trong quá trình xác định phạm vi của các cuộc kiểm toán trên cơ sở kiểm tra các vấn đề tính hiệu quả.

Mục tiêu của việc kiểm toán tính hiệu quả có thể bao gồm việc đánh giá một hoặc nhiều các vấn đề sau đây:

+ Mức hiệu quả mà một đơn vị hoặc một hoạt động đạt được khi so sánh với các chuẩn mực thích hợp;

+ Tính đầy đủ và đáng tin cậy của các hệ thống hoặc các thủ tục được sử dụng để đo lường và báo cáo về tính hiệu quả;

+ Các nỗ lực của một đơn vị nhằm khai thác và tận dụng các cơ hội nhằm nâng cao tính hiệu quả;

+ Các quy trình quản lý và hệ thống thông tin, hệ thống và thực tiễn hoạt động của một đơn vị có hỗ trợ cho việc đạt được tính hiệu quả hay không.

Các KTV cần xem xét phạm vi tổng thể của một cuộc kiểm toán hoạt động cũng như các chủ đề trong báo cáo của nó cũng như chiến lược xác định các mục tiêu kiểm toán đối với thành tố hiệu quả trong cuộc kiểm toán.

Đọc tiếp »

LUẬT SƯ NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Trong cơ chế thị trường, nhu cầu vay vốn của các tổ chức kinh tế và cá nhân, hộ gia đình cần được xem xét, giải quyết kịp thời nhằm bảo đảm cơ hội kinh doanh/mục đích sử dụng của khách hàng. Để đáp ứng được yêu cầu này, bên cạnh việc các ngân hàng không ngừng cải cách hành chính theo hướng đơn giản thủ tục, hồ sơ và rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ vay vốn, thì hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động cho vay vốn của ngân hàng cũng cần được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp với thực tế và tình hình mới. Hiện nay, các ngân hàng đã được phép chủ động xem xét, quyết định cho vay có bảo đảm hoặc không có bảo đảm đối với khách hàng. Thực tế, những khách hàng đủ điều kiện vay không có bảo đảm bằng tài sản chưa nhiều, nên đa số khách hàng vay vẫn phải có tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng. Quan điểm chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước là không nới lỏng các điều kiện vay, kể cả các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng được vay vốn có hỗ trợ lãi suất theo Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 23/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ. Do đó, khi thực hiện thủ tục giao kết giao dịch bảo đảm, ngân hàng phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, sự bất cập của pháp luật đã làm cho ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong quá trình mở rộng cho vay có bảo đảm bằng tài sản. Vì vậy, ngân hàng không chỉ mất nhiều thời gian để xem xét, giải quyết hồ sơ vay vốn mà còn có thể phải gánh chịu những rủi ro tiềm ẩn về vốn vay do phải thu nợ trước hạn hoặc không có khả năng thu hồi được nợ đến hạn.

Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI

Cùng với và là nhân tố cấu thành không thể thiếu của những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, ngành Ngân hàng Việt Nam từ khi được thành lập 6/5/1951 trên thực tế đã trải qua “4 đoạn đường” đầy thử thách, đầy oanh liệt, rất gập ghềnh nhưng liên tục phát triển và rất đỗi vẻ vang – Đó là những đoạn đường: 9 năm đánh thực dân Pháp (1945 – 1954, trong đó từ 1945 đến trước ngày 6/5/1951 hoạt động ngân hàng nằm trong Bộ Tài Chính); hơn 20 năm chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954 – 1975); 10 năm hàn gắn các vết thương chiến tranh, bảo vệ vẹn toàn biên giới lãnh thổ và khôi phục kinh tế đất nước sau chiến tranh (1975 – 1985); Và hơn 20 năm đổi mới cơ chế kinh tế từ 1986 đến nay. Đoạn đường nào Ngân hàng Việt nam cũng xứng danh và tỏ rõ vai trò làm trung gian kinh tế nối liền các mối quan hệ thường nhật giữa hậu phương với tiền tuyến, giữa Trung ương với địa phương, giữa các thành phần kinh tế trong toàn bộ lãnh thổ và giữa kinh tế tiền tệ Việt nam với thị trường tài chính, tiền tệ của cộng đồng quốc tế; Trong khuôn khổ bài viết này, xin được khái quát “đoạn đường thứ 4” – Đoạn đường đổi mới của Ngành với những bước đi đầy cam go, mới mẻ và do đó bao gồm không chỉ những thành tựu mà cả những việc cần tiếp tục hướng tới để đáp ứng nhu cầu khắt khe của tiến trình đổi mới nền kinh tế Việt nam theo hướng phát triển một nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế.

Chặng đường thứ tư này được gọi là thời kỳ Ngân hàng Việt nam cùng cả nước chia tay với cơ chế cũ, tiếp cận, xây dựng và hoàn thiện cơ chế mới – Vào giai đoạn này, mở đầu là Đại hội Đảng lần thứ VI và các văn kiện lãnh đạo tiếp theo của Đảng Cộng sản Việt nam đã mở đường cho một cuộc cách mạng mới cũng không kém phần cam go, quyết liệt và với một quy mô rộng lớn chưa từng có trong lịch sử kinh tế Việt Nam. Hạt nhân của cuộc cách mạng này là: Chuyển cách vận hành nền kinh tế từ cơ chế chỉ huy – tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường – Thực chất là chuyển phương thức đo lường, phân phối sản phẩm chủ yếu bằng hình thức hiện vật sang phương thức đo lường, phân phối hàng hoá thông qua hình thức tiền tệ là chủ yếu. Nếu như trong suốt những năm dài sau giải phóng 1975 – 1985 cách mạng Việt nam đã biến chiến trường thành công trường theo các chỉ tiêu hiện vật là chính, thì từ 1986 nhờ đường lối kinh tế mới và những bài học đắt giá từ thực tiễn đã giúp nền kinh tế Việt nam biến công trường khổng lồ đó thành thị trường, mở cửa, phá thế bao vây cấm vận, tôn trọng và khuyến khích mọi thành phần kinh tế ngày càng chuyển động theo cơ chế đo lường hiệu quả thông qua công cụ giá cả và biểu hiện bằng tiền giá trị của hiệu quả đó – Theo đó, những cụm từ: “Đổi mới tư duy”, “Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần”; “Khoán hộ” trong nông nghiệp; “Khoán sản phẩm” trong công nghiệp; “sức lao động, bất động sản, quyền sử dụng tài nguyên v.v có là hàng hoá không”; “Đánh thức nội lực”; “Thu hút ngoại lực”, “nội lực hoá ngoại lực”… để xây dựng và phát triển kinh tế “vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” là những quan điểm và phương châm hành động của những năm đầu thời kỳ đổi mới kinh tế đất nước. Ngân hàng Việt Nam cũng đã tiếp cận và vận hành theo hướng này. Ngành Ngân hàng Việt nam đã đạt nhiều thành tựu mới để minh chứng cho tính đúng đắn của con đường đổi mới của cách mạng Việt nam:

Đọc tiếp »

Quá tải, phải xếp hàng chờ đợi lâu là nguyên nhân khiến người dân ngại, sẵn sàng bỏ ra vài chục ngàn đến một trăm ngàn đồng để nhờ “cò” cho được việc. Từ đó, một đội ngũ xe ôm kiêm “cò” làm dịch vụ ứng tiền, cầm biên bản đi đóng phạt giùm người dân tồn tại nhiều năm qua ở các điểm xử phạt của các đơn vị CSGT, CSTT, Thanh tra giao thông…

Quá tải, phải xếp hàng chờ đợi lâu khi đi làm thủ tục là nguyên nhân khiến nhiều người dân sẵn sàng thuê “cò”

Năm 2008, chỉ tính riêng lĩnh vực TTATGT đường bộ và đường thủy, đã ra quyết định xử phạt tới hơn 1,3 triệu trường hợp vi phạm với số tiền 174,7 tỷ đồng; Phòng CSGT đường thủy và Thanh tra GTVT cũng ra quyết định xử phạt hơn 74,3 ngàn trường hợp, tổng số tiền vi phạm nộp phạt vào Kho bạc Nhà nước cũng lên tới trên 33 tỷ đồng…

Như vậy, hệ thống Kho bạc Nhà nước mỗi ngày sẽ có thêm ít nhất từ 100 tới 200 người đến nộp phạt mỗi điểm giao dịch. Trong khi đó tại mỗi điểm thu nộp của kho bạc, chỉ có từ 4-8 nhân viên làm việc nên khi đi nộp tiền, nhiều người dân đã không tránh khỏi chuyện phải nhờ… “cò”.

Ai cần, phải tự dò hỏi, kiếm tìm…

Điểm giao dịch số 1 của Kho bạc Nhà nước quận 1, nơi dẫn đầu về số thu ngân sách của TP HCM với hàng tỷ đồng mỗi ngày là một địa điểm nằm gọn trong khuôn viên tầng trệt căn nhà rộng hơn 40m2, một nửa phía ngoài đã được đơn vị này tận dụng làm nơi để xe cho khách.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Năm 2009
H B T N S B C
« Th4   Th6 »
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 165 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements