You are currently browsing the monthly archive for Tháng Năm 2009.

Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam vừa có công văn số 99/HHNH-NV gửi Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam về việc xem xét chỉnh sửa, bổ sung các văn bản hướng dẫn nhằm tháo gỡ các vướng mắc để Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của Ngân hàng Thương mại theo Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg và Quyết định số 60/2009/QĐ-TTg đi vào cuộc sống.

Nội dung văn bản nêu rõ, nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong việc vay vốn tín dụng, thực hiện chủ trương kích cầu sản xuất, kinh doanh và đầu tư, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg ngày 21/1/2009 và Quyết định số 60/2009/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 (sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg trên) về Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của Ngân hàng thương mại. Đọc tiếp »

Advertisements

ThS. TRẦN VŨ HẢI

1. Tiếp cận khái niệm thuế môi trường

Cùng với quá trình phát triển kinh tế, con người đã và đang hàng ngày hàng giờ tác động đến môi trường xung quanh. Một cách khái quát, môi trường được hiểu là toàn bộ “các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.[1] Sự tác động của con người đến môi trường không chỉ là việc sử dụng các thành phần môi trường để tạo ra của cải vật chất, mà chính quá trình tạo ra và sử dụng của cải vật chất cũng tác động đến môi trường thông việc xả chất thải, gây tiếng ồn, làm mất cân bằng các thành phần môi trường, v.v..

Nhiều quốc gia đã nhận thức được tầm quan trọng của môi trường đối với quá trình phát triển kinh tế cũng như sự tồn tại của chính bản thân con người. Chính vì vậy, mô hình phát triển bền vững đã ra đời và được nhiều quốc gia đón nhận, theo đó, việc phát triển kinh tế phải gắn liền với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Ở Việt Nam, khái niệm phát triển bền vững đã được ghi nhận như sau: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”[2].

Việc bảo vệ môi trường được thực hiện thông qua nhiều biện pháp khác nhau, bao gồm các biện pháp hành chính và biện pháp kinh tế, nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của các chủ thể có khả năng tác động tiêu cực đến môi trường, cũng như khắc phục các sự cố môi trường nếu xảy ra. Các biện pháp hành chính bao gồm kiểm tra, giám sát, xử phạt, ban hành các tiêu chuẩn môi trường, v.v.. Các biện pháp kinh tế chủ yếu bao gồm hệ thống phí và thuế liên quan đến môi trường. Mỗi loại biện pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Các biện pháp hành chính có khả năng giới hạn mức độ tác động tiêu cực của các chủ thể đến môi trường, nhưng lại không có khả năng bù đắp các chi phí mà xã hội đã phải bỏ ra để khắc phục những tổn thất đối với môi trường. Bên cạnh đó, các biện pháp hành chính chỉ đảm bảo việc tác động ở trong tiêu chuẩn môi trường cho phép, mà không khuyến khích những chủ thể tác động tiêu cực có những điều chỉnh về nhận thức và hành vi nhằm cải thiện tình hình (như đổi mới công nghệ sản xuất sạch hơn, xử lý chất thải hiệu quả, v.v..). Do đó, bên cạnh các biện pháp hành chính, các quốc gia đang phổ biến sử dụng các biện pháp kinh tế để bảo vệ môi trường, bao gồm hệ thống phí và thuế môi trường và một số công cụ khác (hệ thống đặt cọc – hoàn trả, ký quỹ môi trường, côta ô nhiễm, v.v.). Đọc tiếp »

TRẦN HỮU DŨNG

Paul Krugman, 55 tuổi, người Mỹ, giáo sư đại học Princeton, sẽ được Hàn lâm viện Khoa học Thụy Điển trao giải Nobel Kinh tế năm 2008 (vào tháng 12 này), qua những đóng góp của ông về thuyết thương mại và kinh tế địa lý. Việc Krugman được giải này không gây nhiều ngạc nhiên. Đối với đa số đồng nghiệp, ông đã nằm trong danh sách “đáng được Nobel” từ lâu. Tuy vậy, cũng có vài lời đàm tiếu. Có người nhắc là, từ khoảng mười năm nay (từ khi ông cộng tác với tờ New York Times) hầu như Krugman không có đóng góp gì mới (có kẻ nói móc: Uỷ ban Nobel đã vi phạm điều lệ là chỉ trao giải cho người còn sống, vì “nhà kinh tế Krugman” đã qua đời gần mười năm rồi!). Ngược lại, có người cho rằng, dù ông có xứng đáng, trao giải cho ông năm nay là không đúng lúc, đáng lẽ nên đợi Bush hết nhiệm kỳ, những công trình khoa học của Krugman (một người cực lực chống Bush) sẽ được đánh giá khách quan hơn, và giải thưởng sẽ không bị nghi ngờ là cách các giám khảo Nobel mượn Krugman để làm bẽ mặt Bush!

Dù sao thì Paul Krugman cũng được giải năm nay, vậy cũng nên biết về hai đóng góp, quả là quan trọng, mà ông được tuyên dương. Thứ nhất là cái gọi là “thuyết thương mại mới” (“new trade theory”) và thứ hai là “kinh tế địa lý mới” (new economic geography). Đọc tiếp »

LUKE PAIS

Luke Pais hiện là Giám đốc Bộ phận Tư vấn Giao dịch Tài chính thuộc Hãng Kiểm toán và Tư vấn Ernst & Young Singapore. Luke tư vấn cho khách hàng về các giao dịch sáp nhập – mua lại (M&A) và giao dịch thị trường vốn tại Singapore và khu vực Đông Nam Á.

Giao dịch tài chính đã trở nên phổ biến và mang tính cạnh tranh tại Việt Nam, các chiến lược định giá ngày càng hoàn thiện và bên mua có xu hướng định giá thấp hơn cho các hợp đồng mua bán. Trong bối cảnh giá trị giao dịch được đề xuất dựa trên các thông tin tài chính mới nhất và luôn có một khoảng thời gian nhất định giữa thời điểm ký kết và thời điểm hoàn tất giao dịch, các cơ chế điều chỉnh giá trị giao dịch ngày càng trở nên quan trọng.

Tìm hiểu cơ chế điều chỉnh giá

Cơ chế điều chỉnh giá được quy định trong hợp đồng mua bán nhằm điều chỉnh các biến động về giá trị giao dịch, thông thường bằng cách tham chiếu đến bảng cân đối kế toán, giữa ngày ký kết giao dịch và ngày hoàn tất giao dịch.

Mục đích của cơ chế điều chỉnh giá:

(i) Giúp bên mua và bên bán phân chia rủi ro và lợi ích từ phần vốn được bán trước khi giao dịch hoàn tất.

(ii) Là cầu nối giữa tình hình tài chính của bên bán được sử dụng làm căn cứ để xác định giá trị giao dịch (thông thường là những thông tin tài chính mới nhất sẵn có trước khi ký kết) và tình hình tài chính tại ngày hoàn tất giao dịch. Thời gian để hoàn tất giao dịch thường diễn ra trong 1 – 6 tháng, trong một số trường hợp có thể kéo dài tới một năm hoặc lâu hơn.

Cơ chế định giá là một khái niệm tương đối đơn giản, nhưng việc soạn thảo và thực hiện cơ chế này lại không hề đơn giản. Ví dụ sau đây minh họa rõ hơn điều này (xem bảng: Nghiên cứu tình huống).

Đọc tiếp »

TẠ NGỌC TẤN

TCCS – Khủng hoảng tài chính toàn cầu là vấn đề xuyên suốt, trọng tâm của kinh tế thế giới năm 2008 và hiện là tâm điểm sự chú ý của dư luận toàn thế giới. Cuộc khủng hoảng này bắt đầu từ hoạt động cho vay thế chấp dưới chuẩn quá dễ dãi và thiếu kiểm soát ở Mỹ dẫn đến sự đổ vỡ dây chuyền trong ngành tài chính Mỹ bắt đầu từ giữa tháng 9-2008, sau đó đã lan qua Đại Tây Dương, tới châu Âu, châu á và gây ra cơn “địa chấn” kinh tế toàn cầu. Chỉ riêng trong năm 2008 đã có trên 30 nghìn tỉ USD, tức là xấp xỉ một nửa vốn toàn thế giới bị “bốc hơi”. Một loạt tập đoàn kinh tế lớn như General Motors, Chrysler,… đứng trên bờ vực phá sản. Sau nỗi hoảng sợ của cả thế giới là trạng thái “đóng băng” tín dụng gần như trên phạm vi toàn cầu. Nhiều nghiên cứu đã phân tích căn nguyên cũng như hệ quả của khủng hoảng dưới nhiều góc độ khác nhau. Bài viết này phân tích cuộc khủng hoảng dưới góc độ lợi ích.

Cuộc khủng hoảng tài chính đã đẩy nền kinh tế toàn cầu lâm vào suy thoái với sức lây lan nhanh và mức độ nghiêm trọng chưa từng thấy. Theo dự báo, nền kinh tế các nước G7 từ mức tăng trưởng GDP 1% năm 2008 tụt xuống -2% năm 2009. ở các nền kinh tế đang phát triển có đà tăng trưởng nhanh như Nga, Trung Quốc, ấn Độ, mức tăng GDP năm 2009 cũng chỉ còn bằng xấp xỉ 50% năm 2007. Đầu tư FDI toàn cầu, vốn ODA cam kết và lượng kiều hối chảy về các nước đang phát triển đều sụt giảm nghiêm trọng. Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá, cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay còn nặng nề, tồi tệ hơn cả cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới thời kỳ 1929 – 1933.

1 – Tại sao khủng hoảng?

Cần trở lại lịch sử của vấn đề để tìm câu trả lời. Vào những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, dưới thời Tổng thống R. Ri-gân, một lý thuyết kinh tế mới đã ra đời ở nước Mỹ và nhanh chóng tìm được sự hưởng ứng mạnh mẽ trong cả hệ thống các nước tư bản, đặc biệt là ở Anh với Thủ tướng lúc đó là M. That-chơ. Lý thuyết đó sau này được người ta gọi là chủ nghĩa tự do mới hay là chủ nghĩa Ri-gân. Hạt nhân của học thuyết tự do mới là hạn chế đến mức thấp nhất sự can thiệp của chính phủ vào lĩnh vực kinh tế để cho nền kinh tế vận hành tự do hoàn toàn theo cơ chế thị trường.

Dưới thời Tổng thống B. Clin-tơn, chủ nghĩa tự do mới được tiếp thêm sức để vượt qua rào cản an toàn cuối cùng với việc dỡ bỏ Đạo luật Glass – Steagall, một đạo luật về chế độ kiểm soát hệ thống ngân hàng được ra đời trên cơ sở những bài học từ sự đổ vỡ trong cuộc đại khủng hoảng 1929 – 1933.

Những thiết chế mới dựng lên từ học thuyết tự do mới đã cho phép các ngân hàng cho vay tín dụng dưới chuẩn, một loại tín dụng thế chấp rủi ro cao để các hộ gia đình mua bất động sản. Trong khi năng lực trả nợ của khách hàng rất thấp và giá trị món tiền vay lại tùy thuộc vào thời giá của ngôi nhà định mua. Đồng thời, nợ được chuyển giao từ người này sang người khác thông qua quá trình trái phiếu hóa các khoản nợ này cho các nhà đầu tư. Khi các ngân hàng chạy theo lợi nhuận một cách quá tham lam, cộng với thể chế tài chính cho phép, hàng loạt các khoản nợ đã chồng lên nợ và đã được biến thành cổ phiếu thông qua quá trình trái phiếu hóa. Thêm vào đó là các hoạt động tín dụng tiêu dùng rất phát triển tại Mỹ cho phép người dân có thể tiêu dùng vượt lên trước những nguồn thu nhập đang hứa hẹn trong tương lai.

Cứ như vậy, lợi ích cá nhân, chủ nghĩa tiêu dùng theo kiểu Mỹ làm cho vòng quay “cho vay – vay – tiêu dùng – nợ – trả nợ…” vận hành với tốc độ quá mức kiểm soát mà vẫn tạo ra cảm giác ai cũng có lợi. Chỉ đến khi một mắt xích nhỏ nào đó bị trục trặc, chẳng hạn, một doanh nghiệp mất khả năng chi trả hay một cá nhân bị thất nghiệp, thì nhà kinh doanh không thu được tiền từ tín dụng thương mại, nhà ngân hàng không có tiền để chi trả – mất khả năng thanh toán. Lúc này mới vỡ lẽ ra thực chất là tư bản giả phình to quá mức, trở thành “bong bóng”. Khi cái “bong bóng” này vỡ ra thì toàn bộ nền kinh tế đều rơi vào trạng thái thiếu tiền, buộc chính phủ phải bơm tiền hết lần này đến lần khác cho tới khi nền kinh tế thoát ra khỏi vòng xoáy đó.

Đọc tiếp »

TÔ THỊ NGỌC KHUYÊN

1.1. Khái quát chung về quan hệ pháp luật thuế

1.1.1 Khái niệm quan hệ pháp luật thuế

Quan hệ pháp luật được hiểu là quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản pháp luật. Vì vậy, nói đến quan hệ pháp luật về thuế là nói đến quan hệ xã hội giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản pháp luật thuế.

Theo quan niệm phổ biến hiện nay, thuế: “là khoản trích nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức, cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định” [5,Tr.10]. Nhà nước dùng ngân sách để đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Trong khi đó, phần lớn các khoản thu đóng góp vào ngân sách nhà nước bắt nguồn từ việc nộp thuế của người dân. Do vậy, cần phải có một hệ thống qui phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ thuế phát sinh trên thực tế.

Quan hệ pháp luật thuế được phân biệt với các quan hệ pháp luật khác bởi các đặc trưng sau:

Thứ nhất, quan hệ pháp luật thuế là quan hệ pháp luật hành chính giữa một bên là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (chủ thể quản lý) và bên kia là các tổ chức cá nhân chịu sự quản lý (bao gồm các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế và các chủ thể khác có liên quan). Vì vậy mà một bên tham gia quan hệ pháp luật thuế bao giờ cũng là cơ quan quản lý thuế. Các cơ quan này được sử dụng quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo rằng các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo qui định của pháp luật.

Thứ hai, quan hệ pháp luật thuế luôn mang tính quyền uy, pháp luật qui định cụ thể những quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ, trong đó, nội hàm kinh tế của nghĩa vụ thuế là việc tổ chức, cá nhân thuộc diện nộp thuế phải chuyển cho nhà nước một phần tài sản của mình dưới hình thức tiền tệ mà không được hoàn trả trực tiếp và không đối giá. Quyền và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật thuế được đảm bảo thực hiện thông qua các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Đọc tiếp »

NGUYỄN THU PHƯƠNG (dịch và biên soạn)

Hôm nay vừa đọc tờ báo viết về hai sản phẩm mới của BaoVietBank là "Tích Trường Phú" và "Tín Tài Nghiệp", tôi chợt nhớ ra hồi sinh viên có đi dự hội thảo về sản phẩm dịch vụ tài chính của IDG có nghe nói tới sản phẩm Bancassurance. Vậy là đã tới 3 năm rồi mà có vẻ sản phẩm đó tại Việt Nam cũng không được chào đón lắm. Nguyên nhân vì sao?

Có lẽ phải làm một cuộc điều tra nho nhỏ mới rõ được. Tôi đã thử dịch lại bài (và có biên tập lại theo quan điểm của cá nhân – tất nhiên là đã được sự đồng ý bởi tác giả) của tác giả Douglas.A.Jaffe – Giám đốc phát triển khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Financial Insights. Gửi mọi người đọc và thảo luận nhé. Liệu Việt Nam có bao nhiêu chỗ đứng cho những sản phẩm như Bancassurance?

1. Bancassurance là gì?

Đây là một khái niệm dùng để gọi chung cho các hình thức hợp tác của các công ty bảo hiểm và các ngân hàng, trong đó các ngân hàng có vai trò thực hiện việc phân phối các sản phẩm cho các công ty bảo hiểm tuỳ thuộc theo mức độ thoả thuận hợp tác của hai bên và hưởng phí hoa hồng như các đại lý bán bảo hiểm.

2. Sự vận động của các Bancassurance

Tại sao chúng ta lại cần đến một cách thức phân phối mới cho các sản phẩm bảo hiểm?

Hiện nay chúng ta đang sống và tiếp tục phát triển trong một nền kinh tế tri thức. Đó là nền kinh tế phát triển không ngừng. Kinh tế tri thức lấy ngành công nghệ cao làm trụ cột. Các sản phẩm công nghệ cao có đặc trưng khác hẳn với sản phẩm thông thường. Sản phẩm công nghệ cao tồn tại trong mạng lưới và hệ thống sinh thái gắn kết với nhau và ít nhiều ảnh hưởng tới nhau.
Gắn theo xu thế của thời đại, về chính trị chuyển từ đối đầu sang đối thoại thì trong kinh tế chuyển từ cạnh tranh đối kháng sang cạnh tranh hợp tác. Thời đại cạnh tranh và hợp tác để cùng tồn tại, có sự phân hoá lớn đồng thời có sự cộng sinh giữa độc quyền và chống độc quyền. Cạnh tranh hợp tác đã làm hình thành lên các tổ chức, các liên minh kinh tế thương mại như: Khối thị trường chung châu Âu(EU), khối (NAFTA), OECD, AFTA, ASEAN, APEC,…

Đọc tiếp »

(Tài liệu báo cáo ĐBQH khóa XII, kỳ họp thứ 5)

Chính phủ xin báo cáo các vị đại biểu Quốc hội một số nội dung chủ yếu liên quan đến việc triển khai quy hoạch phát triển các dự án khai thác bô-xít, sản xuất alumin và luyện nhôm như sau:

I. Về Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007.

1. Nguồn tài nguyên bô-xít:

Việt Nam được xác định là một trong những nước có nguồn bô-xít lớn trên thế giới. Tổng trữ lượng quặng bô-xít đã xác định và tài nguyên dự báo khoảng 5,5 tỷ tấn (đứng thứ 3 thế giới), trong đó khu vực miền Bắc khoảng 91 triệu tấn, còn lại tập trung chủ yếu ở khu vực miền Nam khoảng 5,4 tỷ tấn. Trữ lượng đã xác định khoảng 4,4 tỷ tấn, dự báo khoảng 1 tỷ tấn. Đây là yếu tố quan trọng và quyết định việc phát triển ngành công nghiệp khai thác bô-xít, sản xuất alumin và nhôm kim loại Việt Nam.

Nguồn tài nguyên bô-xít của Việt Nam tập trung chủ yếu ở các tỉnh khu vực Tây Nguyên với trữ lượng và tài nguyên dự báo khoảng 5,4 tỷ tấn, trong đó Đăk Nông khoảng 3,4 tỷ tấn (chiếm 63% tổng trữ lượng), Lâm Đồng khoảng 975 triệu tấn (chiếm 18%),  Gia Lai – Kon Tum khoảng 806 triệu tấn (chiếm 15%) và Bình Phước khoảng 217 triệu tấn (chiếm 4%). Mặc dù Tây Nguyên là địa bàn kinh tế – xã hội còn khó khăn, cơ sở hạ tầng và trình độ dân trí còn hạn chế, nhưng lại là khu vực có lợi thế về nguồn tài nguyên bô-xít chiếm 98,2% tổng trữ lượng và tài nguyên bô-xít.

Đọc tiếp »

MINH THÚY

Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa 12 đã qua tuần làm việc đầu tiên với chương trình nghị sự kín cả ngày thứ bảy.
Ngay tại phiên khai mạc (được truyền hình trực tiếp), trước hàng triệu cử tri cả nước, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đã “trình Quốc hội cho tiếp tục thực hiện một số điều chỉnh về thuế để tiếp tục thực hiện chính sách khoan sức dân, giúp các cơ sở sản xuất – kinh doanh và người dân vượt qua khó khăn trong thời kỳ suy giảm kinh tế và chuẩn bị cho giai đoạn phát triển tiếp theo”.
Chủ trương này được thể hiện qua nhiều đề xuất cụ thể của Chính phủ trình Quốc hội xem xét. Bên cạnh phương án miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân, trong chương trình kỳ họp, một dự án luật liên quan đến việc sửa cùng một lúc ba luật : Thuế giá trị gia tăng, Thuế thu nhập doanh nghiệp, Quản lý thuế sẽ được Quốc hội quyết định.
Mặc dù, ngày 12/5 Chính phủ mới có tờ trình đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét để trình Quốc hội đưa nội dung này vào Nghị quyết bổ sung về điều hành kinh tế xã hội, ngân sách năm 2009.
Cạnh đó, một đề án về cải cách cơ chế tài chính của giáo dục và đào tạo mà theo Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân thì khi thực hiện “học phí sẽ không còn là gánh nặng với người dân nữa” cũng được trình Quốc hội xem xét.
Chưa có kỳ họp nào mà vấn đề khoan sức dân lại được đặt ra “nóng hổi” như lần này, đại biểu Nguyễn Đình Xuân (Tây Ninh) – người đã tham gia hai khóa Quốc hội với 16 kỳ họp – nhận xét.
Điều này rất dễ hiểu, theo nhà sử học Dương Trung Quốc (đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai). Bởi từ xưa đến nay mỗi khi đất nước có những thử thách lớn thì khoan sức dân lại được thực hiện. Khoan sức dân chính là nuôi dưỡng nguồn lực, vì nhân dân vừa là người sản xuất vừa là người tiêu dùng của cải.
Theo ông, trong thời điểm suy thoái kinh tế như hiện nay, khoan sức dân chính là dự trữ, bảo tồn nguồn lực để khi vượt qua thời điểm khó khăn nhất sẽ không bị hụt hẫng. “Trong bối cảnh này điều quan trọng nhất là làm sao để người dân vượt qua khó khăn, cũng chính là cách để Nhà nước vượt qua khó khăn”.

Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI

Trong bối cảnh kinh tế suy thoái, ngành ngân hàng được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất nhằm giúp doanh nghiệp, người dân cơ cấu lại sản xuất và giảm giá bán cho sức cầu đang giảm sút của xã hội thông qua giải ngân tín dụng có hỗ trợ lãi suất (giá vốn).
Tuy nhiên, từ chính sách này đang nảy sinh hiện tượng “lạ” đầu tiên, đó là liệu có sự nhầm lẫn giữa lựa chọn giải pháp cơ cấu lại thị trường và sức mua thay vì cơ cấu giá vốn?
Nhầm lẫn giải pháp?
Trên thực tế, các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại cũng là một loại hình doanh nghiệp, nếu nền kinh tế suy thoái, sức mua thấp, hàng hoá sản xuất không phù hợp với các nhu cầu bức thiết và khả năng thanh toán của người dân trong nước và của thị trường xuất khẩu ở nước ngoài thì việc giảm giá vốn (là nỗ lực của Chính phủ) và việc tổ chức thực hiện đúng đối tượng thụ hưởng của hệ thống ngân hàng cũng sẽ chỉ đạt được những hiệu quả không như mong đợi.
Và vì vậy, thậm chí do áp lực của công việc giải ngân tín dụng quá tải dẫn đến những thiếu sót trong khâu thẩm định tín dụng và tiềm ẩn những rủi ro cho các ngân hàng trong chu kỳ đáo hạn của tất cả các khoản tín dụng được hỗ trợ ngắn hạn (theo Quyết định số 131) là thời điểm 31/12/2009 này.
Do đó, các ngân hàng thương mại không thể không tính toán đến lợi nhuận ròng của mình trong “mùa” đáo hạn tín dụng đang chờ!
Để ý rằng, tổng doanh số giải ngân hỗ trợ lãi suất tín dụng đến giữa tháng 5/2009 đã thực hiện được trên 300.000 tỷ đồng trong tổng số 425.000 tỷ dư nợ được hỗ trợ lãi suất theo “gói” hỗ trợ 17.000 tỷ (1 tỷ USD) của Chính phủ.
Vì vậy “dư địa” để tăng dư nợ có bao cấp cũng đã gần hết, trong khi sức mua xã hội chưa tăng, nhiều nhóm sản phẩm hàng hoá và dịch vụ vẫn đang là “xa xỉ phẩm” đối với đại bộ phận dân chúng… thì lãi suất giảm nhằm giảm giá một phần cũng còn xa vời và rất gián tiếp đối với đa số người mua.

Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN QUANG A

(TuanVietNam)- “Hết sức cảnh giác cả với kích cầu lẫn lạm phát và không nên tách ý kiến (rất xác đáng của Gs. Krugman) ra khỏi ngữ cảnh mà ông phát biểu rồi “ngầm hiểu” một cách “mù quáng” vào hoàn cảnh Việt Nam”- TS. Nguyễn Quang A.

Gs. Paul Krugman chỉ nói đã có những dấu hiệu (tốc độ sụt giảm đã chậm lại, mức tăng thất nghiệp ở Mỹ trong vài tháng qua đã không còn cao như các tháng trước, …) cho thấy khủng hoảng tiến dần (sắp) đến đáy và ông hy vọng vậy. Ảnh Ca Hảo

Giáo sư Paul Krugman nhà kinh tế học tài ba, chủ nhân duy nhất của giải Nobel kinh tế năm 2008, nhà cảnh báo khủng hoảng đã đến Việt Nam chiều 20-5-2009. Hôm sau ông đã có một ngày bận rộn trong hội thảo “Tìm kiếm cơ hội và giải pháp trong khó khăn và khủng hoảng” tại Hồ Chí Minh, nơi ông là người thuyết trình duy nhất.

Ngày 22-5-2009 tại Hà Nội ông đã trao đổi với các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách cấp cao và Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm. Báo chí trong nước đưa tin khá nhiều. Nào là ông nói “khủng hoảng đã đến đáy”, cần “tăng gấp đôi gói kích cầu”, “lạm phát không đáng lo ngại”, v.v. Tôi nghĩ cần cẩn trọng với cách đưa tin như vậy bởi vì khi đưa tin tách khỏi ngữ cảnh thì rất dễ gây ra hiểu nhầm.

Không nên hiểu lầm

Đọc tiếp »

HOÀNG THỊ HUẾ

1. Thực trạng áp dụng chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên

1.1. Những kết quả đạt được trong việc áp dụng chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên

Luật thuế TNCN là một văn bản luật được soạn thảo cẩn thận, phản ánh khá đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay. Luật thuế TNCN chính thức được áp dụng từ ngày 01/01/2009. Tuy thời gian áp dụng chưa lâu, nhưng có thể nhận thấy được những kết quả nhất định từ việc áp dụng chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên.

Một là, chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên tạo nguồn thu đáng kể ngày càng tăng cho ngân sách nhà nước. Một số khoản thu nhập không thường xuyên trước đây không quy định (mặc nhiên được coi là thu nhập không chịu thuế) được đưa vào diện thu nhập chịu thuế gồm: thu nhập từ nhượng quyền thương mại, thu nhập từ quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các cơ sở kinh doanh, bất động sản hoặc tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc sử dụng (tuy nhiên, thu nhập chuyển nhượng bất động sản của cá nhân chỉ có nhà ở, đất ở duy nhất được miễn thuế), thu nhập từ casino, thu nhập từ trúng thưởng các cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác (trước đây chỉ tính đối với trúng xổ số và khuyến mại). Một số khoản thu nhập trước đây tạm thời chưa thu thuế như thu nhập từ đầu tư vốn (gồm lãi cho vay, lợi tức cổ phần và thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác); thu nhập từ chuyển nhượng vốn bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán. Việc bổ sung một số khoản thu nhập không thường xuyên vào diện thu nhập chịu thuế điều tiết công bằng thu nhập của các tầng lớp dân cư theo hướng mọi cá nhân có thu nhập (trừ trường hợp thu nhập rất thấp và một số trường hợp đặc biệt) đều phải có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước góp phần kiểm soát thu nhập của các cá nhân từ những nguồn thu này. Đồng thời quy định này sẽ góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước một cách hợp lý trên cơ sở không bỏ sót nguồn thu của nền kinh tế. Điều này rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay, hoạt động nhượng quyền thương mại, bản quyền, đầu tư vốn đang diễn ra sôi động.

Ví dụ: nhượng quyền thương mại mới xuất hiện ở Việt Nam đầu những năm 1990, nhưng hoạt động thương mại này đang phát triển với tốc độ rất nhanh, ước tính 20%/ năm và không ngừng khẳng định vai trò của nó cho sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam.[22]

Đọc tiếp »

 

Paul Krugman – giáo sư đoạt giải Nobel Kinh tế 2008 – có công chúng hâm mộ rộng lớn vì ông là một kinh tế gia ”nhập thế”, thường xuyên xuất hiện với những bài báo có giá trị và là một trong những người dự báo sớm nhất về cả khủng hoảng tài chính châu Á 1997 cũng như cuộc khủng hoảng của thế giới hiện nay.

Paul Krugman có mặt tại TP. HCM vào ngày hôm nay (21/5) để chủ trì Cuộc Hội thảo quốc tế “Tìm kiếm cơ hội và giải pháp trong khó khăn và khủng hoảng”. Trong hội thảo này, Paul Krugman sẽ trao đổi về cuộc khủng hoảng toàn cầu đang diện ra hiện nay và những dự đoán Xem hìnhcủa ông về tương lai kinh tế Đông Á trong đó có Việt Nam.

Cha đẻ của lý thuyết Thương mại mới

Trong ngành kinh tế học, Paul Krugman nổi tiếng hơn cả với tư cách người sáng lập chủ chốt của “lý thuyết thương mại mới” – lý thuyết chủ chốt về thương mại quốc tế hiện nay, cũng được coi là một cuộc cách mạng trong tư duy thương mại quốc tế.

Trong một thời gian dài từ đầu thế kỷ 19 cho tới những năm 1970, lý thuyết thương mại quốc tế được xây dựng dựa trên ý tưởng của nhà kinh tế học người Anh David Ricardo về lợi thế so sánh.

Theo Ricardo, các quốc gia sở dĩ trao đổi mua bán hàng hóa vì họ có những lợi thế so sánh khác nhau và thương mại quốc tế diễn ra trên cơ sở sự khác biệt về lợi thế so sánh này.

Sang thế kỷ 20, vào những năm 1920 – 1930, lý thuyết của Ricardo được hai nhà kinh tế học người Thụy Điển Eli Heckscher và Bertil Ohlin mở rộng và mô hình hóa.

Đọc tiếp »

PGS.TS. Nguyễn Thị Mùi – ThS. Trịnh Thanh Huyền

Cho đến nay, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vẫn chưa có dấu hiệu bị khống chế hay kiểm soát và hầu hết các dự báo vẫn đang tiếp tục “dò đáy”. Đối với các nền kinh tế đang phát triển, vì tác động của cuộc khủng hoảng chậm hơn nên thời điểm phục hồi cũng đến chậm hơn so với các nền kinh tế phát triển.

1. Kinh tế Việt nam năm 2008 và những tháng đầu năm 2009

Đối với Việt Nam, dù cuộc khủng hoảng được khơi mào ở Mỹ từ cuối năm 2007 và đã bùng phát trên phạm vi toàn cầu từ giữa năm 2008 nhưng phải đến cuối năm 2008, Việt Nam mới thực sự bị cuốn vào vòng xoáy này. Trong quý I/2009 vừa qua, GDP chỉ tăng ở mức khoảng 3,1% so với cùng kì năm ngoái – mức thấp nhất trong vòng 10 năm qua và là tín hiệu cảnh báo nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng chậm lại trong năm 2009 này. Kim ngạch xuất khẩu tăng 2,42% so với cùng kỳ năm 2008, đạt 13,479 tỷ USD nhưng nếu trừ đi tới 2,287 tỷ USD xuất khẩu vàng, đá quý (mà phần lớn là xuất khẩu vàng), thì kim ngạch xuất khẩu lại giảm 13,8%(i) bởi có tới 12/13 mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã suy giảm nghiêm trọng với mức giảm trung bình 10-20%, thậm chí một số mặt hàng giảm tới hơn 40%. Tổng vốn FDI cũng giảm mạnh, cả số lượng dự án cũng như vốn đăng ký và vốn giải ngân (hết quý I/2009 mới chỉ có 93 dự án được cấp phép với vốn đăng ký là 2,2 tỷ USD so với con số hơn 60 tỷ USD năm 2008). Sản xuất trong nước, tất nhiên cũng không thể khả quan khi kết thúc quý I/2009, giá trị sản xuất công nghiệp chỉ đạt 3,76%, mức thấp nhất trong 20 năm trở lại đây. Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) liên tục lao dốc từ cuối năm 2008 và trong suốt quý I/2009, chỉ số VN-Index chỉ quanh quẩn ở mức dưới 300 điểm với mức thấp nhất là 235,18 điểm (trong đợt khớp lệnh thứ hai của ngày 24/2/2009) – mức kỷ lục kể từ khi mở cửa TTCK đến nay (ii). Các chỉ tiêu trên cho thấy dấu hiệu suy giảm kinh tế của Việt Nam đang dần đậm nét hơn.

Đọc tiếp »

NGUYỄN THU HƯỜNG

Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia là một nhiệm vụ quan trọng mà hầu hết các quốc gia đều trao cho NHTƯ. Luật về NHTƯ của các nước đều có các quy định về nhiệm vụ của NHTƯ trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Chẳng hạn, Luật ngân hàng Cộng hòa liên bang Đức 1957 quy định nhiệm vụ của ngân hàng Cộng hòa liên bang Đức trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia ở Điều 3; Luật NHTƯ Pháp năm 1993 quy định nhiệm vụ này tại Điều 1; Luật ngân hàng quốc gia Hungari năm 1991 quy định ở Điều 3, 4; Luật NHNN Việt Nam quy định tại Điều 15. Việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội của đất nước. Do vậy, pháp luật phải quy định hết sức chặt chẽ về cơ chế hoạt động của NHNN trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia nhằm tránh các ảnh hưởng bất lợi của chính sách tiền tệ đối với tiến trình phát triển của nền kinh tế xã hội. NHNN (với tư cách là NHTƯ) đã tiến hành một số hoạt động khác nhau như: Hoạt động tái cấp vốn, hoạt động quy định lãi suất, hoạt động quy định tỷ giá hối đoái, hoạt động quy định dự trữ bắt buộc, hoạt động nghiệp vụ thị trường mở và một số hoạt động khác để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia một cách chủ động và hiệu quả nhất.

1. Hoạt động tái cấp vốn

1.1. Pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động tái cấp vốn

Theo Khoản 10 Điều 9 Luật NHNN đã được sửa đổi, bổ sung năm 2003, tái cấp vốn được hiểu “là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của NHNN nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng”. Điều 17 Luật NHNN đã được sửa đổi, bổ sung có quy định ba hình thức tái cấp vốn sau đây:

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Năm 2009
H B T N S B C
« Th4   Th6 »
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 302 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements