You are currently browsing the daily archive for 28/04/2009.

 

Ngân hàng là gì?

Ngân hàng là 1 loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng. Vậy mà vẫn có sự nhầm lẫn trong việc định nghĩa ngân hàng là gì? Rõ ràng, các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ không chỉ chức năng của các ngân hàng đang thay đổi mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh chính sách của ngân hàng cũng không ngừng thay đổi. Thực tế là, rất nhiều tổ chức tài chính – bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, công tymôi giới chứng khoán, quĩ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hướng về lĩnh vực bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quĩ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác.

Một ví dụ điển hình về nỗ lực của các tổ chức tài chính trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng được ghi nhận vào những năm 1980 khi rất nhiều công ty bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán lớn, bao gồm cả Merrill Lynch và Dreyfus Corporation, Prudential nhảy vào lĩnh vực ngân hàng bằng cách thành lập cái mà họ gọi là “các ngân hàng phi ngân hàng”. Họ nhận thức được rằng, theo pháp luật nước Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng. Merrill Lynch và các tổ chức phi ngân hàng khác nhận định rằng họ có thể né tránh những quy định này và sẽ có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng khác cho công chúng. Tuy nhiên, Cục Dự trữ liên bang (Fed), không muốn thấy sự xâm phạm vào lĩnh vực ngân hàng của các “ngân hàng giả”, đã đưa ra quyết định rằng: việc cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình cũng là một trong những hoạt động ngân hàng tiêu biểu để phân biệt ngân hàng với các tổ chức tài chính khác. Điều đó đưa Merrill Lynch và các tổ chức tương tự trở thành các ngân hàng thực thụ và phải tuân theo qui định chặt chẽ của Chính phủ.

Đọc tiếp »

Advertisements

Trong bối cảnh cung cầu USD – VND đang căng thẳng, gần đây Chính phủ chúng ta đang cân nhắc sử dụng lại biện pháp kết hối. Thật ra thuật ngữ kết hối chúng ta dùng ở đây là mang màu sắc Việt Nam, kết hối, hay kết toán ngoại hối (exchange clearing) được chúng ta sử dụng với nghĩa khác nếu đối chiếu với thuật ngữ tiếng Anh. Ở đây, chúng ta hiểu kết hối có nghĩa là doanh nghiệp có ngoại tệ buộc phải bán ngay một phần hoặc toàn bộ cho ngân hàng (trong bối cảnh USD.jpghiện tại có thể ngầm hiểu là bán với mức quy đổi thấp hơn thực tế). Như vậy, có lẽ chúng ta nên dùng kết hối cưỡng bức thì chính xác hơn (nhưng nghe có vẻ hơi tế nhị), nhưng chúng ta tạm hiểu như thế.

Kết hối có lẽ là nỗ lực trong “hiệp 2” của cuộc chiến chống tỷ giá leo thang. Hiệp 1 với việc nâng biên độ (lên +- 5% xem ra chưa ăn thua). Chính sách biên độ theo một số tính toán cần nâng lên +-10% thì mới tạm đảm bảo, nhưng có lẽ chúng ta hơi quan ngại khi để biên độ rộng thênh thang như vậy nên mới manh nha sử dụng lại chính sách kết hối (cưỡng bức).

Tuy nhiên, thời điểm này khác xa thời điểm chúng ta áp dụng chính sách kết hối hơn 10 năm trước. Chính sách kết hối, nếu được sử dụng, sẽ lợi bất cập hại. Những tác hại ấy bao gồm:

Vi phạm cam kết WTO: Việt Nam đã cam kết không sử dụng biện pháp hành chính trong điều hành tiền tệ. Các định chế tài chính lớn cũng khuyến cáo chúng ta không nên sử dụng biện pháp này (dù đi đường vòng).

Đọc tiếp »

PHẠM MINH CHÍNH

Thiếu tướng, Bộ Công an

TCCS – Thời gian qua, nền kinh tế thế giới không chỉ chao đảo bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, mà còn bị chấn động bởi hàng loạt các vụ lừa đảo, gian lận tài chính với mức độ nghiêm trọng, quy mô lớn, mang tầm quốc tế. Hệ quả của các vụ lừa đảo, gian lận này đã gióng lên hồi chuông cảnh báo đối với an ninh kinh tế, tài chính của các quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng tài chính vẫn còn hết sức phức tạp và suy thoái kinh tế toàn cầu tệ hại.

Một số vụ lừa đảo, gian lận tài chính điển hình trên thế giới

Đứng đầu “bảng xếp hạng” phải kể đến B.Ma-đốp (Bernard Madoff), số tiền lừa đảo của “nhà tỉ phú” này lên tới 50 tỉ USD, phá vỡ mọi kỷ lục của hình thức lừa đảo “Ponzi” (hình thức lấy tiền của người sau để trả cho người trước). Đây là vụ lừa đảo tài chính lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ với số nạn nhân lên đến 13.000 người, nhiều ngân hàng và một số chuyên gia tài chính hàng đầu thế giới cũng trở thành nạn nhân của cựu sáng lập viên sàn Nasdaq này.

Sự kiện Ma-đốp chưa đến hồi kết thì Cơ quan điều tra Mỹ đã tiếp tục bắt giữ tỉ phú A.Xtan-phót (Allen Stanford), Chủ tịch Công ty tài chính Stanford Financial Group, do gian lận đầu tư lên tới 8 tỉ USD thông qua việc làm khống các khoản lợi nhuận đầu tư để quảng bá và bán các chứng chỉ đầu tư.

Một vụ khác, cũng theo hình thức tương tự, là Công ty tín dụng Proyecciones (DRFE) của Cô-lôm-bi-a, lừa đảo tổng số tiền 670 triệu USD của hơn 2 triệu người gửi tiền.

Tại châu Á, trong hơn 6 năm liền, Ka-zut-su-gi Na-mi (Chủ tịch Công ty L&G KK, Nhật Bản) thực hiện phi vụ lừa đảo khoản tiền lên tới 2,5 tỉ USD của hơn 50.000 người.

Tại Pháp, lợi dụng sơ hở của hệ thống ngân hàng, J.Ke-vi-en (Jérôme Kerviel), một nhân viên Ngân hàng Société Général sử dụng những kỹ thuật rất tinh vi, làm cho ngân hàng này bị thiệt hại số tiền khổng lồ 7,15 tỉ USD.

Gian lận kế toán và giả mạo tài khoản để che giấu kết quả kinh doanh yếu kém là hình thức gian lận tài chính khá phổ biến trên thế giới hiện nay. Điển hình, việc lãnh đạo của Satyam (một trong những công ty công nghệ hàng đầu của Ấn Độ) làm giả sổ sách, chứng từ để kê khai gian lận tài sản lên tới hơn 1 tỉ USD, đã khiến cho không chỉ ấn Độ mà cả thế giới bất ngờ.

Hình thức cho vay đa cấp theo hình “kim tự tháp” cũng tiếp tục lan tràn tại nhiều nước, trong đó phải kể đến vụ Cho Hee Pal tại Hàn Quốc chiếm đoạt gần 2,6 tỉ USD của hơn 30.000 nhà đầu tư thông qua hoạt động kinh doanh đa cấp các thiết bị y tế.

Sẽ không thể thống kê hết được những vụ lừa đảo tài chính ở đủ các mức độ, thể loại trên thế giới trong thời gian gần đây, bởi danh sách này vẫn còn đang tiếp tục dài thêm do những diễn biến phức tạp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu – vừa là cơ hội thuận lợi để xuất hiện các vụ lừa đảo nhưng cũng là yếu tố để chúng tự lộ diện và bị phát hiện.

Đọc tiếp »

Lê Thị Nguyệt Anh – Nguyễn Tuấn Anh

Khủng hoảng ngân hàng đã không ít lần xuất hiện trong lịch sử với tần xuất ngày càng tăng. Cuộc khủng hoảng ngân hàng (KHNH) vừa xảy ra năm 2008, xuất phát từ hoạt động cho vay dưới tiêu chuẩn của Mỹ đã lan rộng toàn cầu, ảnh hưởng tới hầu hết các nền kinh tế trên thế giới và hậu quả của nó cho đến nay vẫn chưa đánh giá được một cách đầy đủ.

Để có thể hiểu nguyên nhân và những giải pháp được sử dụng để giải quyết KHNH trong thời gian qua, bài viết bắt đầu với việc phân tích bản chất của hoạt động ngân hàng.

1. Bản chất của hoạt động ngân hàng

Hoạt động kinh doanh của ngân hàng truyền thống thường dựa vào sự chênh lệch giữa các kỳ hạn, có nghĩa là, ngân hàng huy động tiền gửi ngắn hạn và cho vay dài hạn. Phần lớn lượng tiền gửi huy động sẽ được đem đi cho vay đầu tư lấy lãi vào những dự án dài hạn, với khả năng thanh khoản thấp [Heffernan, 2005, tr.105].

Gần đây, các ngân hàng truyền thống đang mở rộng các hoạt động để trở thành các ngân hàng toàn cầu. Các ngân hàng này thường kết hợp hoạt động của ngân hàng truyền thống và ngân hàng đầu tư và bị lôi cuốn hoàn toàn vào hoạt động của thị trường tài chính. Họ thường thu hút hầu hết số vốn của họ bằng cách bán những chứng khoán nợ ngắn hạn có giá trị cố định (các khoản tiền gửi). Trong số đó rất nhiều khoản tiền gửi bao gồm quyền đòi hoàn trả của người gửi tiền theo nguyên tắc ngang giá vào bất kỳ thời điểm nào (có tính thanh khoản cao). Ngân hàng lại đầu tư số vốn họ huy động được vào các loại chứng khoán, thường không có giá trị cố định và không bao gồm các quyền đòi hoàn trả của ngân hàng theo nguyên tắc ngang giá vào bất kỳ thời điểm nào (tính thanh khoản của các khoản đầu tư này không cao). Như vậy, ngân hàng phải gánh chịu rủi ro khi giá trị thị trường của các tài sản của họ có thể giảm xuống bằng hoặc thấp hơn giá trị các khoản nợ tiền gửi của ngân hàng đối với người gửi tiền do những thay đổi không mong đợi từ tỉ lệ lãi suất, vỡ nợ, tỉ giá hối đoái, thay đổi về quy chế, những sai phạm …

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Tư 2009
H B T N S B C
« Th3   Th5 »
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 165 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements