You are currently browsing the daily archive for 21/04/2009.

TS.NGUYỄN HỒNG THẮNG

Dẫn nhập

Tùy theo trình độ phát triển kinh tế, chính trị và xã hội mà hệ thống thuế ở mỗi quốc gia được cấu thành bởi các sắc thuế có phạm vi điều chỉnh và mục tiêu riêng. Nhưng xét tổng quát chúng được xây dựng và thực thi dựa trên nền tảng một số nguyên tắc nhất định, mà không thể tùy tiện. Bài viết này tập trung phân tích những nguyên tắc thuế cơ bản được nhiều quốc gia thừa nhận và liên hệ chúng trong thực tiễn Việt Nam bằng những dẫn chứng quy định tại các văn bản pháp lý. Từ đó bài viết nêu bật quan điểm nhìn nhận và đối xử với thuế một cách hợp lý trên cơ sở những nguyên tắc chung được thừa nhận phổ biến trên Thế giới. Bởi nói gì chăng nữa, thuế chính là sản phẩm của con người, là công cụ mà người dân thông qua cơ quan đại diện của mình (quốc hội) cho phép chính phủ sử dụng phối hợp với những công cụ chính sách vĩ mô khác nhằm đạt các mục tiêu tạo công ăn việc làm, bình ổn chỉ số giá tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế bền vững, bảo vệ môi trường thiên nhiên, phân phối thu nhập và của cải xã hội thích hợp về mặt chính trị,….

Ngoài ra bài viết này muốn thảo luận một số vấn đề mang tính nguyên tắc khi xem xét, đánh giá tác động của từng sắc thuế nói riêng và hệ thống thuế nói chung bởi những tranh luận kể cả chỉ trích thuế sẽ không bao giờ chấm dứt. Vấn đề cốt lõi là tranh luận trên cơ sở nào để tránh cảm tính, phiến diện và mang tính xây dựng. Vì vậy cần nắm vững một số nguyên tắc thuế cơ bản để giữ tính định hướng trong quá trình tranh luận, hạn chế sa vào tiểu tiết, vô ích.

Do có nhiều nguyên tắc nên chúng tôi tạm thời chia chúng thành hai nhóm: nhóm nguyên tắc hành chính và nhóm nguyên tắc mang tính kinh tế. Đọc tiếp »

Advertisements

PHAN LONG (ĐH Monashm – Australia)

Phát hành trái phiếu ra công chúng thực sự là một kênh huy động vốn hiệu quả, tiết kiệm, chi phí phát hành đối với các DN tại các nước có thị trường vốn phát triển như Anh, Mỹ. Nhiều công ty cổ phần Việt Nam hiện đang huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán nhưng chủ yếu bằng cách phát hành chứng khoán ra công chúng mà chưa coi trọng đúng mức việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, ngoại trừ một số ngân hàng phát hành trái phiếu chuyển đổi.

Phát hành trái phiếu ra công chúng thực sự là một kênh huy động vốn hiệu quả, tiết kiệm, chi phí phát hành đối với các DN tại các nước có thị trường vốn phát triển như Anh, Mỹ. Nhiều công ty cổ phần Việt Nam hiện đang huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán nhưng chủ yếu bằng cách phát hành chứng khoán ra công chúng mà chưa coi trọng đúng mức việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, ngoại trừ một số ngân hàng phát hành trái phiếu chuyển đổi.

Trái phiếu và các thuật ngữ

Trái phiếu (bond) là chứng chỉ do Chính phủ hoặc DN (Người vay hay người phát hành) phát hành nhằm huy động vốn vay. Theo đó, người phát hành có trách nhiệm phải trả cho người sở hữu trái phiếu (người cho vay hay trái chủ) một số tiền nhất định vào thời điểm xác định trước.

Tiền gốc (principle) hay mệnh giá trái phiếu và số tiền thanh toán cho người sở hữu trái phiếu tại thời điểm đáo hạn của trái phiếu. Số tiền gốc được ghi cụ thể trên mỗi trái phiếu. Do đó, giá trị số tiền gốc còn được gọi là giá trị đáo hạn (maturity value) của trái phiếu. Ví dụ: tiền gốc của mỗi trái phiếu do chính phủ Mỹ phát hành thường là 1.000 USD

Tiền lãi danh nghĩa (côupn) là số tiền lãi thực thanh toán định kỳ cho người sở hữu trái phiếu. Thông thường, khoản tiền lãi này được trả theo từng năm hoặc được trả 06 tháng một lần (như tại Mỹ). Để đơn giản hoá, bài viết này dựa trên giả định tiền lãi được trả định kỳ theo năm.

Lãi suất danh nghĩa là tỷ lệ giữa tiền lãi danh nghĩa theo năm và tiền gốc. Lãi suất danh nghĩa được ghi cụ thể trên trái phiếu.

Lãi suất tới hạn (Yield to matyrity) là lãi suất, theo đó, giá trị hiện tại của toàn bộ khác khoản tiền phải thanh toán trong trường hợp trái chủ nắm giữ trái phiếu đến khi đáo hạn, bao gồm tiền lãi và tiền gốc, bằng với giá mua trái phiếu. Lãi suất tới hạn thông thường bằng với lãi suất bình quân của thị trường.

Đọc tiếp »

ThS. LÊ VĂN HINH

(ĐTCK) Thực tế cho thấy, khi công cụ tài chính phát triển thì hành vi gian lận dựa vào công cụ tài chính cũng ngày càng phổ biến. Tại Mỹ, nơi TTCK có lịch sử hàng trăm năm đã nổi lên vụ Bernard Madoff và Allen Stanford, cho thấy gian lận trên TTCK là vấn đề đáng quan tâm. Tại Việt Nam, hiện Quốc hội đang xem xét bổ sung một số tội danh trong lĩnh vực chứng khoán vào Bộ luật Hình sự. Điều đó có nghĩa là các tội danh chứng khoán ở Việt Nam dường như chưa được nhận diện và vấn đề đặt ra là nên hình sự hoá hay đơn giản hoá?

Nhận diện tội danh chứng khoán: thách thức lớn

Trên thực tế, không hề dễ dàng nhận diện được hành vi lừa đảo trên TTCK hay thị trường tài chính nói chung. Các nhà tài phiệt ở lĩnh vực này sử dụng công cụ tài chính để thực hiện ý đồ của mình nhằm chiếm đoạt tài sản từ cộng đồng NĐT. Tại Mỹ, gần đây người ta phát hiện ra các hành vi lừa đảo tài chính đã tồn tại hàng chục năm qua, điển hình là vụ Bernard Madoff.

Theo một chuyên gia cao cấp của CTCP Quản lý quỹ đầu tư Sài Gòn – Hà Nội (SHF), trên thị trường tài chính, có rất nhiều mô hình lừa đảo tài chính và các biến thể của nó, phổ biến nhất là mô hình pyramid scheme/ponzy scheme hay còn gọi là mô hình xây tháp ngược tài chính.

Xây tháp ngược tài chính là mô hình khá cổ điển. Theo mô hình này, kẻ lừa đảo dựng lên hình ảnh tốt đẹp về mình như: có tiềm lực tài chính, có năng lực quản lý… và đưa ra một chương trình với lợi ích mang lại rất hấp dẫn (lãi suất, lợi nhuận rất cao…), qua đó huy động tiền của giới đầu tư. Để vận hành chương trình, kẻ chủ mưu lấy tiền của NĐT sau trả lãi cho NĐT trước. Cứ như thế mà tạo ra sự tăng tốc về số người tham gia vào cuộc chơi. Lượng người bị cuốn vào cuộc chơi tăng rất nhanh và số tiền cũng tăng lên như núi (tháp ngược). Khi số tiền rất lớn, kẻ chủ mưu tìm cách bỏ cuộc chơi và rút tiền (bỏ trốn, tuyên bố phá sản…). Và hậu quả là cộng đồng NĐT đến sau sẽ lĩnh đủ.

Ngoài hình thức lừa đảo theo mô hình cổ điển, biến thể của mô hình lừa đảo này là rất đa dạng trên nhiều thị trường: chứng khoán, tiền tệ, hàng hoá… Hình thức điển hình của các biến thể này trên TTCK như: đưa thông tin sai lệch (che dấu thông tin, lập báo cáo khống về lợi nhuận), kích giá chứng khoán (thao túng giá) và trục lợi từ quá trình này (phát hành thêm chứng khoán…). Hình thức biến thể so với mô hình cổ điển thì lại càng khó nhận diện.

Đọc tiếp »

PHƯƠNG THẢO

Nguồn tham khảo: Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS)

Hàng thập kỷ qua, sự ổn định của hệ thống tài chính luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà hoạch định chính sách. Việc sụp đổ của hàng loạt các tổ chức tài chính tên tuổi trên thế giới, như Bear Stearn, Lehman Brothers, càng đặt ra những thách thức to lớn đối với vấn đề bảo đảm tăng trưởng bền vững của nền kinh tế toàn cầu. Tuy vậy, trước bối cảnh đầy rẫy những bất ổn trong tương lai, việc tăng cường quản lý rủi ro và đề ra các biện pháp khắc phục rủi ro trong hoạt động của hệ thống tài chính quốc tế hơn lúc nào hết cần phải được đẩy mạnh thường xuyên và phải được định kỳ đánh giá nhằm thích ứng với môi trường mới. Chính vì vậy, vai trò của cơ quan bảo hiểm tiền gửi với vị trí là nhân tố cốt lõi của quá trình này và là tổ chức bảo hiểm trách nhiệm đối với người gửi tiền, mà cụ thể là với các tổ chức thành viên, là hết sức quan trọng. Một hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả phải làm rõ được trách nhiệm của cơ quan quản lý đối với các thành viên của mình, hạn chế các quyết định chủ quan, tạo dựng niềm tin cho công chúng, giới hạn chi phí giải quyết ngân hàng phá sản và cung cấp nguồn vốn hỗ trợ cho các ngân hàng giải quyết vấn đề này. Muốn vậy, hệ thống đó phải nằm trong một kết cấu tài chính được tổ chức hoàn thiện và an toàn, bao gồm 3 thành phần cấu thành, một là một nền tảng giám sát và quy định pháp luật ngân hàng cẩn trọng, hai là một tổ chức đóng vai trò là người cho vay cuối cùng và ba là một cơ quản bảo hiểm tiền gửi độc lập. Đó là lý do tại sao cơ quan bảo hiểm tiền gửi không thể giải quyết một mình vấn đề khủng hoảng ngân hàng dây truyền hay khủng hoảng hệ thống mà cần phải có một sự kết hợp các biện pháp đồng bộ từ các cơ quan khác và chi phí xử lý thì phải được tính từ nguồn lực quốc gia.

Để có thể thực hiện tốt vai trò của mình, cơ quan bảo hiểm tiền gửi phải xây dựng được một hệ thống các nguyên tắc hoạt động cơ bản mà trước hết là phải có được các điều kiện tiền đề ngoài khả năng kiểm soát của cơ quan bảo hiểm tiền gửi. Những tiền đề này bao gồm:

 Có được một nền tảng đánh giá tình trạng của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng cập nhật;

 Năng lực điều hành của các cơ quan quản lý trong kết cấu tài chính nêu trên phải mạnh;

 Có được một nền tảng giám sát và quy định pháp luật ngân hàng cẩn trọng;

 Có được một hệ thống pháp luật đồng bộ cũng như một cơ chế hạch toán kế toán và công khai rõ ràng và minh bạch.

Đọc tiếp »

NGÔ PHÚ MẠNH

– Những giá trị, những lợi thế và sức mạnh cạnh tranh của mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp đang dần thay đổi. Thế giới đang ngày càng trở nên phẳng hơn bao giờ hết trong môi trường hội nhập quốc tế.

Những rào cản xưa kia tưởng chừng không thể khoả lấp giờ đây chỉ còn là những vết mờ. Thời đại của công nghệ thông tin, thời đại của nền kinh tế tri thức đã thực sự định hình. Những nhân tố tạo ra sức mạnh cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp không còn là vốn đất đai, vốn tư bản, vốn tài chính hay vốn công nghệ mà nhường chỗ cho nhân tố vốn tri thức, là khả năng doanh nghiệp “nắm giữ bao nhiêu tri thức và sử dụng nó như thế nào để hiệu quả nhất”. Vốn tri thức và rộng lớn hơn nữa là Quản trị tri thức đang thực sự trở thành nhân tố chủ đạo tạo nên những bước tiến thần kỳ của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp.
Tuy mới ra đời chỉ hơn 10 năm nhưng Quản trị tri thức đang trở thành xu hướng toàn cầu. Vị trí của ngành quản trị non trẻ này đã và đang được khẳng định bởi sự thành công của nhiều Tập đoàn hàng đầu thế giới trong việc ứng dụng. Dựa trên nền tảng triết lý quản trị tri thức, những giá trị vật chất và tinh thần, chỉ số lợi nhuận và giá trị thị trường của những công ty áp dụng đã khiến thế giới doanh nghiệp ngưỡng mộ. Tiêu biểu cho những bước tiến, sự phục sinh thần kỳ đó là các tổ chức hàng đầu như: IBM, Coca – Cola, Microsoft, Google hay Yahoo. Ở Châu Á, chúng ta cũng được chứng kiến những bước nhạy vọt đầy mạnh mẽ với một phương thức quản trị tương tự trên phạm vi quốc gia như Singapor, Hàn Quốc, Nhật Bản hay Malaisia. Trên phương diện tổ chức cả thế giới cũng bao lần kinh ngạc bởi một cái gọi là “Phương thức Toyota” dựa trên nền tảng quản trị tri thức Kaizen.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Tư 2009
H B T N S B C
« Th3   Th5 »
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 167 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements